Thông điệp yêu thương từ MẶT TRỜI TÂM THỨC

CÁC BẬC THẦY CHỨNG NGỘ CỦA THẾ KỶ 20 -21

XỨ SỞ GIÂY PHÚT HIỆN TẠI

XỨ SỞ GIÂY PHÚT HIỆN TẠI

Quảng cáo online

Chữ chạy

Chào mừng bạn đến với blog MẶT TRỜI TÂM THỨC Email : mattroitamthuc@yahoo.com - Phone 0903070348

Quảng cáo thay đổi

Truyện cười

CHÀO MỪNG CÁC BẠN ĐANG ĐẾN VỚI PHÚT GIÂY HIỆN TẠI

Giây phút hiện tại

Sống trong giây phút hiện tại là một phép lạ. Phép lạ không phải là để đi trên mặt nước.
Phép lạ là đi trên trên hành tinh xanh xinh đẹp này trong trong giây phút hiện tại, biết trân quý sự bình an và vẻ đẹp có sẵn ngay bây giờ.

Thứ Năm, 31 tháng 5, 2012

Kỉ luật bên ngoài kỉ luật

Phật nói:
Học thuyết của ta là để suy nghĩ ý nghĩ không thể
nghĩ được; để thực hành hành vi không làm được;
để nói bài nói không diễn đạt được; và để được
huấn luyện trong kỉ luật vượt ra ngoài kỉ luật.

Những người hiểu điều này là gần; những người
bị lẫn lộn là xa. Đạo ở bên ngoài lời và việc diễn
đạt, không bị giới hạn bởi bất kì cái gì trần tục.
Mất cái nhìn về nó chỉ một li thôi hay mất nó
trong một khoảnh khắc thôi, và chúng ta xa khỏi
nó mãi mãi.
Lời kinh này là một trong những lời quan trọng
nhất, một trong những lời rất trung tâm của thông
điệp của Phật. Chính điều bản chất của thông điệp của
ông ấy có đó tựa như hạt mầm. Kiên nhẫn đi cùng tôi
vào trong nó, cố hiểu nó. Bởi vì nếu bạn hiểu câu mật
chú này, bạn đã hiểu tất cả mọi điều Phật muốn bạn
hiểu. Nếu bạn bỏ lỡ câu mật chú này, bạn bỏ lỡ tất cả.
Phật nói:
Học thuyết của ta là để suy nghĩ ý nghĩ không thể
nghĩ được; để thực hành hành vi không làm được;
để nói bài nói không diễn đạt được; và để được
huấn luyện trong kỉ luật vượt ra ngoài kỉ luật.
Việc chọn từ 'học thuyết' là điều không may,
nhưng có những khó khăn trong việc dịch. Phật phải
đã dùng từ siddhanta. Nó có nghĩa hoàn toàn khác.
Thông thường nó được dịch là học thuyết; nó không
nên được dịch như vậy. Nhưng vấn đề là ở chỗ trong
tiếng Anh không có từ tương đương với siddhanta.
Cho nên tôi sẽ phải giải thích nó cho bạn.
Học thuyết là một lí thuyết logic nhất quán. Còn
siddhanta chẳng có liên quan gì tới logic, lí thuyết,
nhất quán cả. Siddhanta là việc nhận ra, siddhanta là
kinh nghiệm. Học thuyết mang tính trí tuệ, siddhanta
mang tính tồn tại. Bạn có thể làm ra học thuyết mà
không bị biến đổi bởi nó. Bạn có thể làm ra học
thuyết vĩ đại mà thậm chí không bị nó chạm tới.
Nhưng nếu bạn muốn đạt tới siddhanta thì bạn sẽ phải
được biến đổi toàn bộ, bởi vì nó sẽ là tầm nhìn về một
con người khác toàn bộ.
Từ siddhanta nghĩa là việc khẳng định về người
đã trở thành một siddha, người đã đạt tới, người đã đi
tới - tuyên bố của người đó. Bạn có thể là triết gia vĩ
đại, bạn có thể hình dung ra nhiều thứ về mặt trí tuệ, bạn có thể tổng hợp các suy diễn của mình, và bạn có
thể làm ra qui tắc suy diễn rất logic, nhất quán, có vẻ
gần như chân lí, nhưng lại không phải là chân lí. Nó
được tâm trí bạn chế tạo ra. Học thuyết là nhân tạo;
siddhanta chẳng liên quan gì tới con người và nỗ lực
của con người. Siddhanta là tầm nhìn - bạn chợt nảy
ra nó trong óc.
Chẳng hạn, người mù có thể nghĩ về ánh sáng và
có thể cố gắng hình dung ra nó tất cả là gì. Người đó
thậm chí có thể nghe các chuyên luận lớn lao về ánh
sáng và người đó có thể làm ra ý tưởng nào đó về nó -
nó là gì. Nhưng người đó sẽ vẫn ở xa với ánh sáng
như người đó trước đây. Người đó thậm chí có thể
giải thích chi tiết học thuyết về ánh sáng, người đó có
thể giải thích vật lí của ánh sáng, người đó có thể giải
thích cấu trúc của nó. Người đó có thể đi sâu vào các
thành tố của ánh sáng, người đó có thể nói, người đó
có thể viết, người đó có thể viết luận án tiến sĩ về nó,
bản luận văn. Người đó có thể được đại học công bố
là tiến sĩ, bởi vì người đó đã làm sâu sắc một học
thuyết - nhưng dầu vậy người đó vẫn không biết ánh
sáng là gì. Người đó không có mắt để thấy.
Siddhanta là cái bạn đã thấy, cái đã được hiển lộ
cho bạn, cái đã trở thành kinh nghiệm riêng của bạn,
cái bạn đã đương đầu. Học thuyết gần như là tưởng
tượng, nó không thực. Học thuyết gần như bao giờ
cũng được vay mượn. Bạn có thể che giấu vay mượn
của mình theo nhiều cách - những cách tinh tế, tinh
ranh. Bạn có thể phát biểu lại, bạn có thể lấy từ nhiều
nguồn và bạn có thể tái thu xếp mọi thứ, nhưng học
thuyết là thứ vay mượn - chẳng cái gì nguyên bản
trong nó.
Siddhanta là tuyệt đối nguyên bản, mới. Nó là
kinh nghiệm đích thực của bạn. Bạn đã đi tới thấy
thực tại là gì. Nó là cảm nhận tức khắc, nó là phúc
lành, nó là ân huệ, nó là sự trọng đãi, món quà. Bạn
đã đạt tới và bạn đã thấy chân lí là gì. Phát biểu về
việc nhận ra là siddhanta. Làm sâu sắc học thuyết là
một điều; cho cách diễn đạt về siddhanta là khác toàn
bộ.
Tôi đã nghe:
Có lần Mulla Nasruddin nói chuyện với vài người
bạn của mình. Anh ta kể cho các bạn thân của mình
về kì nghỉ tuyệt vời mà anh ta và gia đình đã có ở Mĩ.
'Đó là một nước kì diệu,' anh ta kêu lên. 'Không
đâu trên thế giới này người lạ lại được đối xử tốt thế.
Bạn bước đi trên phố và bạn gặp một anh chàng ăn
vận trang nhã với nhiều đô la. Anh ta ngả mũ chào và
mỉm cười với bạn, và bạn cùng nói chuyện. Anh ta
mời bạn vào chiếc xe lớn của anh ta, và chỉ cho bạn
xem thành phố. Anh ta chiêu đãi bạn bữa tối ngon
lành, rồi đưa bạn tới nhà hát. Bạn có nhiều thức ăn
ngon và đầy đồ uống, và anh ta mời bạn về nhà anh ta
và bạn ngủ ngon lành cả đêm. Sáng hôm sau...
'Cái gì, Nasruddin,' một thính giả nói, 'tất cả điều
này thực sự xảy ra cho anh chứ?'
'Không, không đích xác thế, nhưng nó tất cả đã
xảy ra cho vợ tôi,' Nasruddin nói. 

Học thuyết là cái đã xảy ra cho ai đó khác. Bạn đã
nghe nói về nó. Nó đã không xảy ra cho bạn - nó được
vay mượn, bẩn, xấu. Siddhanta mới trong trắng.
Học thuyết là mãi dâm. Nó đã đi qua nhiều tâm
trí, qua tay nhiều người. Nó giống như tiền bẩn; nó cứ
thay đổi chủ nhân. Siddhanta là cái gì đó tuyệt đối
tươi tắn. Nó chưa bao giờ xảy ra trước đây, nó sẽ
không bao giờ xảy ra lần nữa. Nó đã xảy ra cho bạn.
Siddhanta mang tính cá nhân sâu sắc, nó là tầm nhìn
cá nhân về thực tại.
Điều đã xảy ra cho Phật là siddhanta - điều các
Phật tử đề xuất là học thuyết. Điều đã xảy ra cho
Christ là siddhanta - điều người Ki tô giáo nói tới là
học thuyết. Điều đã xảy ra cho Krishna là siddhanta -
điều người Hindu cứ ba hoa là học thuyết. Điều tôi
đang nói với bạn là siddhanta - nếu bạn đi và lặp lại
điều đó, nó sẽ là học thuyết. Đó là lí do tại sao tôi nói
đó là việc chọn từ rất không may để đặt vào mồm
Phật.
Học thuyết của ta là để suy nghĩ... Không, để nó
là: Siddhanta của ta là để suy nghĩ, việc nhận ra của ta
là để suy nghĩ, hiểu biết riêng của ta là để suy nghĩ...
Ông ấy không đề nghị một lí thuyết, ông ấy đơn giản
diễn đạt một kinh nghiệm.
Thêm vài điều nữa trước khi chúng ta đi vào trong
lời kinh này.
Siddhanta theo chính bản chất của nó mang tính
ngược đời - nó phải như thế, bởi vì cuộc sống mang
tính ngược đời. Nếu bạn thực sự đã kinh nghiệm điều
đó, thế thì bất kì điều gì bạn thấy và nói cũng đều sẽ
mang tính ngược đời. Cuộc sống bao gồm những mâu
thuẫn. Chúng ta gọi chúng là mâu thuẫn; cuộc sống
không gọi chúng là mâu thuẫn. Chúng là những phần
bù. Ngày và đêm nhảy múa cùng nhau, yêu và ghét đi
tay trong tay. Chúng ta gọi chúng là mâu thuẫn - trong
cuộc sống chúng không phải vậy. Cuộc sống là lớn
lao và bao la, mênh mông. Nó bao hàm tất cả mọi
mâu thuẫn vào trong nó; chúng là các phần bù.
Khi một người đã nhận ra, bất kì điều gì người đó
nói cũng đều sẽ có hương vị của ngược đời. Đó là lí
do tại sao tất cả các khẳng định tôn giáo vĩ đại đều
mang tính ngược đời. Chúng có thể ở trong Vedas,
trong Upanishads, trong Koran, trong Kinh Thánh,
trong Đại Đức Kinh. Bất kì nơi đâu, bất kì khi nào
bạn tìm thấy chân lí, bạn sẽ thấy nó mang tính ngược
đời - bởi vì chân lí phải mang tính toàn bộ; tính toàn
bộ là tính ngược đời.
Học thuyết không bao giờ mang tính ngược đời,
học thuyết cực kì nhất quán - bởi vì học thuyết không
lo nghĩ về thực tại. Học thuyết lo nghĩ về việc nhất
quán. Nó không biết tới thực tại. Nó là trò chơi tâm
trí, và tâm trí lại rất, rất logic. Và tâm trí nói đừng cho
phép mâu thuẫn nào trong nó. Tâm trí nói nếu bạn nói
về ánh sáng thế thì đừng nói về bóng tối bởi vì điều
đó sẽ không nhất quán. Quên bóng tối đi. Tâm trí cố
gắng chứng minh rằng cuộc sống là không mâu thuẫn,
bởi vì đó là chọn lựa của tâm trí.
Tâm trí rất sợ mâu thuẫn, trở nên rất lung lay khi
nó bắt gặp mâu thuẫn. Nó khăng khăng vào hình mẫu
riêng của nó. Tâm trí mang tính logic, cuộc sống thì
không. Cho nên nếu bạn tìm thấy cái gì đó rất logic, hãy đề phòng - cái gì đó phải sai trong nó. Nó phải
không là một phần của cuộc sống, nó phải là nhân tạo.
Mọi thứ do thượng đế làm đều mâu thuẫn. Đó là lí
do tại sao mọi người cứ tranh cãi về thượng đế. Tại
sao, nếu ông ấy yêu con người nhiều thế, thì tại sao
ông ấy lại tạo ra cái chết? Tâm trí thấy rất khó chấp
nhận ý tưởng rằng Thượng đế đã tạo ra cuộc sống
cũng tạo ra cái chết. Nếu đấy là tuỳ ở bạn, nếu như
bạn là người làm ra thế giới này, nếu tâm trí mà là
đấng sáng tạo, thế thì bạn sẽ chẳng bao giờ làm điều
đó.
Nhưng nghĩ về cuộc sống mà không tồn tại cái
chết xem. Nó sẽ cực kì chán. Nó sẽ tẻ ngắt. Cứ nghĩ
mà xem - nếu cái chết mà không thể được, thế thì bạn
sẽ liên tục trong địa ngục. Nếu tâm trí đã tạo ra thế
giới này, thế thì chắc sẽ chỉ có yêu, không có ghét.
Những nghĩ về một thế giới chỉ yêu tồn tại. Thế thì nó
sẽ quá dịu ngọt - dịu ngọt tới độ phát buồn nôn. Nó sẽ
mất tất cả các hương vị, nó sẽ mất tất cả mọi mầu sắc,
nó sẽ tẻ nhạt. Yêu là đẹp bởi vì có khả năng của ghét.
Nếu tâm trí mà tạo ra thế giới này hay Aristotle
được yêu cầu tạo ra thế giới này, thế thì sẽ chỉ có
ngày, không có đêm; chỉ công việc, không chơi đùa.
Thế thì nghĩ điều gì sẽ xảy ra. Thượng đế trong từ bi
của mình không bao giờ nhận lời khuyên nào từ
Aristotle. Và có thể đó là lí do để ngài đã tạo ra con
người vào phút chót. Trước hết ngài tạo ra những thứ
khác - bằng không thì con người sẽ bắt đầu cho lời
khuyên.
Đó đã từng là vấn đề - tại sao ngài đã tạo ra con
người vào phút chót? Trước hết ngài tạo ra cây cối và
trái đất và bầu trời và các vì sao và con vật và chim
chóc và cái toàn thể - thế rồi ngài chờ đợi và chờ đợi.
Thế rồi ngài tạo ra con người. Và ban đầu ngài tạo ra
đàn ông, rồi ngài tạo ra đàn bà. Bởi vì đàn ông, chỉ vì
lễ phép, có thể đã giữ yên tĩnh, nhưng đàn bà không
thể giữ yên tĩnh được. Ngài phải đã sợ. Không tạo ra
con người vội bằng không thì con người sẽ bắt đầu
cho lời khuyên - làm cái này, không làm cái kia. Và
với đàn bà ngài đợi tới cuối cùng. Và vì ngài đã tạo ra
đàn bà nên ngài đã biến mất - bằng không thì đàn bà
sẽ chì chiết ngài đến chết.
Một nhà công nghiệp lớn đã nói với tôi rằng với
nhà máy mới của ông ta thì mọi thứ đều đã được lập
kế hoạch, đã được thoả thuận. Các kĩ sư, kiến trúc sư,
nhà lập kế hoạch, họ đã làm mọi thứ và mọi thứ đều
đã được thoả thuận. Nhưng thế rồi tôi hỏi, 'Sao ông cứ
lặp đi lặp lại mãi rằng mọi thứ đã được thoả thuận?
Có điều gì đó đi sai chẳng?'
Ông ta nói, 'Thế rồi tôi về nhà và nói về điều đó
cho vợ tôi - và bị kết thúc. Bây giờ cô ấy gợi ý những
điều sẽ làm thay đổi toàn thể ý tưởng. Và nếu tôi
không làm điều đó bây giờ, thế thì nó sẽ là vấn đề
thường xuyên cho cả đời tôi. Cô ấy sẽ chì chiết tôi
đến chết.'
Nếu như Aristotle mà được yêu cầu tạo ra thế
giới, hay giúp cho thế giới được tạo ra, thế thì thế giới
này đã tuyệt đối nhất quán rồi - tuyệt đối nhất quán.
Nhưng thế thì nó đã là một thế giới của khổ và địa ngục. Cuộc sống là đẹp bởi vì có mâu thuẫn. Việc là
đẹp bởi vì có chơi. Việc nghĩa là bạn đang làm cái gì
đó để được cái gì đó từ nó. Chơi nghĩa là bạn đơn
giản làm nó vì riêng nó mà thôi.
Không, Aristotle sẽ không cho phép điều đó.
Plato sẽ không cho phép điều đó. Trong cuốn
Republic (Cộng hoà) của mình, Plato nói sẽ không có
khả năng nào cho bất kì nhà thơ nào; chúng ta sẽ
không cho phép họ. Họ là những người nguy hiểm, họ
đem mâu thuẫn vào thế giới - nhà thơ, họ là những tay
mơ. Và họ nói theo cách mơ hồ, mông lung. Bạn
không thể làm được gì từ điều đó - điều họ nói, điều
họ ngụ ý. Trong thế giới của Plato, trong cuốn
Republic của ông ấy, nhà logic, triết gia sẽ là vua; họ
sẽ quyết định.
Điều đó chưa xảy ra, chỉ vài điều như thế đã xảy
ra. Chẳng hạn, nước Nga Xô viết mang tính Plato
nhiều hơn, Trung Quốc mang tính Plato nhiều hơn.
Hai nước này được cai trị bởi logic. Bạn không thể
tìm thấy nhiều người khổ hơn ở bất kì nơi nào khác.
Được nuôi nấng tốt, có chỗ ở tốt - bởi vì logic là kẻ
thu xếp vĩ đại về mọi thứ; mọi thứ đều được thu xếp -
chỉ cuộc sống là thiếu. Bằng cách nào đó con người
không hạnh phúc, bởi vì con người không thể sống
bằng mỗi bánh mì. Bạn cần cái đối lập nữa. Cả ngày
bạn làm việc, đến đêm bạn nghỉ ngơi. Bạn cần bóng
tối nữa.
Học thuyết là phát biểu logic về một lí thuyết, và
logic lại giống như người không kiên định - nó cứ
thay đổi mầu sắc của nó, nó không đáng tin cậy. Nó
không đáng tin cậy bởi vì nó không dựa vào thực tại.
Nó không chịu trách nhiệm bởi vì nó không dựa vào
thực tại. Nó là không thực bởi vì nó là chân lí bộ
phận. Nhớ lấy, chân lí bộ phận không thật hơn phi
chân lí toàn bộ. Bởi vì chân lí bộ phận cho cảm giác
của việc là đúng. Nó chỉ là nửa đúng thôi và chẳng cái
gì có thể nửa đúng được. Hoặc nó là đúng hoặc nó là
không đúng. Nửa chân lí là tuyệt đối không đúng,
nhưng logic lại cho nó cảm giác rằng nó là đúng; ít
nhất theo cách hướng tới chân lí. Nó thậm chí không
trên con đường hướng tới chân lí.
Và nhà logic cứ làm trò nhào lộn, họ cứ thay đổi
quan điểm, bởi vì thực tế họ đã không đi tới cái gì
thực sự là thực cả, chỉ tâm trí của họ chơi trò chơi
thôi. Hôm nay trò chơi này, hôm khác trò chơi khác;
họ cứ thay đổi hoài. Họ vẫn còn nhất quán - nhất quán
với chuỗi suy nghĩ riêng của họ, nhưng bất nhất với
thực tại.
Tôi đã nghe:
'Khó mà giải thích được tiến trình logic sẽ làm gì
cho tư duy con người, nhưng để bố minh hoạ cho,'
Mulla Nasruddin nói với con mình. 'Giả sử hai người
bước ra từ ống khói. Một người sạch, người kia bẩn.
Người nào sẽ phải tắm?'
'Người bẩn, đương nhiên rồi,' đứa con trả lời.
'Nhớ lấy,' Nasruddin mắng, 'rằng người sạch nhìn
người bẩn và thấy anh ta bẩn làm sao, và ngược lại.'
'Bây giờ con hiểu điều đó rồi, bố ạ,' đứa trẻ trả lời.
'Người sạch, thấy bạn đồng hành bẩn của mình, kết luận là mình cũng bẩn. Thế là anh ta đi tắm. Bây giờ
con đúng chứ?'
'Sai toét,' Nasruddin lãnh đạm nói. 'Logic dạy
chúng ta điều này - làm sao hai người cùng ra khỏi
ống khói mà một người sạch một người bẩn được?'
Một khi bạn bắt đầu chơi trò chơi của logic thì
không có kết thúc cho nó, và bạn sẽ không bao giờ
thắng cả. Nhà logic bao giờ cũng thắng. Nhà logic bao
giờ cũng thắng vì bạn bao giờ cũng có thể tìm ra cách.
Và bạn chẳng có gì để so sánh, bạn không có thực tại.
Đó là lí do tại sao nhiếu triết lí thế tồn tại, và tất cả
các triết lí đều đối lập nhau; và không một kết luận
nào đã được đạt tới.
Trong nhiều thế kỉ, gần năm nghìn năm, con
người đã tranh cãi; con người đã không làm nhiều gì
mấy mà chỉ tranh cãi. Hàng nghìn triết lí đã được tạo
ra, logic rất nét và rõ ràng. Nếu bạn đọc triết gia này
bạn sẽ bị thuyết phục. Nếu bạn đọc người đối lập ông
ấy bạn sẽ bị thuyết phục. Đọc người thứ ba, bạn sẽ bị
thuyết phục - và bạn sẽ lâm vào đống lộn xộn. Dần
dần bạn sẽ bị thuyết phục bởi tất cả và bạn sẽ điên,
bởi vì bạn sẽ không biết cái gì là đúng. Họ tất cả đều
sai bởi vì cách tiếp cận logic là sai.
Có hai cách để biết tới thực tại. Một là: nhắm mắt
lại và nghĩ về nó. Tôi gọi nó là 'chủ nghĩa về'. Nó bao
giờ cũng về và về, nó chưa bao giờ đi trực tiếp cả.
Bạn cứ khua quanh bụi cây. Bạn chẳng bao giờ khua
đích xác vào bụi cây - chỉ loanh quanh. Bạn chưa bao
giờ thấm nhuần vào trung tâm của vấn đề, bạn đơn
giản đi vòng tròn xung quanh. Nó là trò vòng quay
ngựa gỗ. Bạn có thể thích thú nó - các nhà logic thích
thú lắm. Đi tới với một lí thuyết mới sao hay thế, cái
giải thích được mọi thứ - nhưng nó chỉ ở trong tâm trí.
Bạn nhắm mắt lại, ngồi trên ghế và nghĩ ngợi. Điều
này sẽ không cho bạn thực tại đâu.
Thực tại đã có đó rồi, bạn phải đừng nghĩ về nó.
Bạn phải cho phép nó. Bạn phải vứt bỏ mọi suy nghĩ
để cho bạn có thể thấy cái là chân lí, để cho bạn có thể
thấy cái đang đó. Nếu bạn cứ suy nghĩ thì bạn không
thể thấy được cái đang đó. Điều đó là không thể được.
Ý nghĩ của bạn sẽ tạo ra làn khói quanh bạn. Tâm
thức của bạn sẽ bị bao phủ bởi làn khói này, mắt bạn
sẽ không có sáng tỏ, bạn sẽ không có nhạy cảm. Và
bạn sẽ liên tục tìm và kiếm các ý tưởng riêng của
mình, áp đặt chúng, phóng chiếu chúng lên thực tại.
Bạn sẽ không cho thực tại cơ hội để hiển lộ bản thân
nó.
Học thuyết được đạt tới qua suy nghĩ logic. Học
thuyết tới qua quá trình của 'chủ nghĩa về'. Siddhanta
được đạt tới không bởi việc nhắm mắt, không bởi việc
suy nghĩ quá nhiều, mà bởi việc vứt bỏ suy nghĩ, toàn
bộ; bằng việc mở mắt ra không định kiến nào, không
quan niệm tiên thiên nào, và nhìn thẳng vào thực tại,
đối diện thẳng với thực tại. Nó đã có đó rồi, nó chỉ
cần bạn ở đó thôi.
Và khi bạn tuyệt đối không có ý nghĩ nào, tâm trí
của bạn tĩnh lặng, kí ức của bạn tĩnh lặng, suy nghĩ
của bạn đã hoàn toàn dừng hiện hữu, thế thì thực tại
bùng phát, bùng nổ. Thế thì bạn trở thành người nhận.
Thế thì siddhanta nảy sinh. 

Siddhanta của ta là để suy nghĩ ý nghĩ không thể
nghĩ được...
Điều đầu tiên, Phật nói, là suy nghĩ ý nghĩ không
thể nghĩ được. Đó là một mâu thuẫn, một nghịch lí.
Bây giờ, không nhà logic nào đã bao giờ thốt ra điều
vô nghĩa thế. Chính chỗ đó bắt đầu vô nghĩa. Đó là lí
do tại sao các nhà logic cứ nói rằng Phật, Jesus, Bồ đề
đạt ma, Lão Tử, Zarathustra - những người này tất cả
đều vô nghĩa. Tuyên bố của họ là vô nghĩa - bởi vì họ
nói điều này và trong hơi kế tiếp họ mâu thuẫn lại.
Bây giờ nhìn vào câu này: Siddhanta của ta là suy
nghĩ ý nghĩ không thể nghĩ được...
Bây giờ ngay trong câu nhỏ này đã tuyệt đối mâu
thuẫn - suy nghĩ về cái không thể nghĩ được. Làm sao
bạn có thể nghĩ về cái không thể nghĩ được? Nếu nó
thực sự là không thể nghĩ được thì bạn không thể
nghĩ. Nếu bạn có thể nghĩ thế thì làm sao nó có thể lại
là không thể nghĩ được? Đơn giản, phi logic - nhưng
điều Phật ngụ ý phải được hiểu. Đừng vội vàng; đó là
lí do tại sao tôi nói đi kiên nhẫn vào.
Khi ông ấy ngụ ý... khi ông ấy muốn nói điều gì
đó, ông ấy ngụ ý điều đó. Ông ấy đang nói có cách để
biết mọi thứ mà không suy nghĩ. Có cách để biết mọi
thứ mà không có tâm trí. Có cách để nhìn thẳng vào
thực tại, ngay lập tức, không dùng phương tiện ý nghĩ.
Bạn có thể được nối với thực tại mà không có tác
nhân tư duy nào - đó là điều ông ấy đang nói. Ông ấy
đang nói rằng tâm trí có thể hoàn toàn dừng hoạt động
của nó lại, hoàn toàn có thể vứt bỏ hoạt động của nó
vậy mà vẫn hiện hữu - tĩnh lặng, một bình chứa - và
nhìn vào thực tại. Nhưng bạn sẽ phải kinh nghiệm nó,
chỉ thế thì bạn mới có khả năng hiểu được.
Đôi khi hãy thử nhìn. Ngồi bên cạnh bụi hồng, chỉ
nhìn vào hoa hồng; không nghĩ, thậm chí không cho
nó tên. Thậm chí không phân loại. Thậm chí không
nói rằng đây là hoa hồng - bởi vì hoa hồng là hoa
hồng là hoa hồng; dù bạn có gọi nó là hoa hồng hay
cái gì đó khác cũng không tạo ra khác biệt gì. Cho nên
đừng dán nhãn nó, đừng cho nó cái tên, đừng đem
ngôn ngữ vào. Đừng đem bất kì biểu tượng nào vào,
bởi vì biểu tượng là phương pháp làm giả thực tại.
Nếu bạn nói đây là hoa hồng, bạn đã bỏ lỡ rồi.
Thế thì bạn đã đem vào kinh nghiệm quá khứ nào đó
về hoa hồng khác, cái không có đây. Bây giờ mắt bạn
đầy hoa hồng - từng luống hoa hồng. Trong cuộc đời
mình bạn phải đã bắt gặp nhiều kiểu hoa hồng - trắng
và đen và đỏ; tất cả những hoa bồng đó đang có đó
trôi nổi trong mắt bạn. Bây giờ bạn bị chen chúc bởi
kí ức quá khứ của mình. Và thế rồi, bên ngoài tất cả
những kí ức đó là hoa hồng này, cái là thực. Bây giờ
đám đông của cái không thực lại quá nhiều đến mức
bạn không có khả năng đạt tới và chạm vào cái thực.
Khi Phật nói buông bỏ suy nghĩ ông ấy ngụ ý,
đừng đem quá khứ vào. Phỏng có ích gì mà mang nó
vào? Hoa hồng này ở đây, bạn ở đây. Cứ để cho nó là
gặp gỡ sâu sắc, giao cảm, mối kết nối. Tan chảy một
chút với hoa hồng này, để cho hoa hồng này tan chảy
một chút vào trong bạn. Hoa hồng sẵn sàng chia sẻ
hương thơm của nó, bạn cũng chia sẻ bản thể mình,
tâm thức mình cùng nó. 

Có cái bắt tay với thực tại đi. Có chút ít nhảy múa
với hoa hồng này... nhảy múa trong gió. Bạn cũng
chuyển động, hiện hữu, nhìn, cảm, nhắm mắt lại,
ngửi, sờ, uống. Hiện tượng đẹp này đang đối diện với
bạn... đừng đi đây đó - ở cùng với nó. Không còn bên
phải và bên trái, chỉ đi thẳng như mũi tên hướng tới
đích. Nếu bạn đem lời, đem ngôn ngữ vào, bạn đem
xã hội vào, bạn đem quá khứ vào, bạn đem người
khác vào.
Tennyson đã nói điều gì đó về hoa hồng. Shelley
đã nói điều gì đó về hoa hồng. Shakespeare đã nói
điều gì đó về hoa hồng, hay Kalidas. Một khi bạn
mang ngôn ngữ vào, Shakespeare và Kalidas và
Bhavabhuti và Shelley và Keats - họ tất cả đều đang
đứng đó. Bây giờ bạn quá đầy các ý tưởng của riêng
mình, bây giờ bạn đang trong đám đông, mất hút. Bạn
sẽ không có khả năng thấy chân lí đơn giản.
Chân lí đơn giản thế. Vâng, nó cũng giống như
hoa hồng ngay trước bạn. Nó hoàn toàn có đó. Sao
phải đi đâu đó khác? Sao không đi vào trong thực tại
này? Sao phải đi và tìm quá khứ và tương lai? Đừng
nói hoa hồng này đẹp, bởi vì hoa hồng này không cần
lời khen từ bạn. Cứ để nó là một cảm giác. Hoa hồng
này không hiểu ngôn ngữ loài người, cho nên sao lại
bối rối về hoa hồng này? Sao lại nói nó là đẹp? Bởi vì
hoa hồng này chẳng biết gì về cái đẹp và chẳng biết gì
về cái xấu.
Với hoa hồng này, cuộc sống không bị phân chia
và chia chẻ; hoa hồng này không bị tinh thần phân
liệt. Hoa hồng này đơn giản có đó, không có ý tưởng
nào về đẹp là gì và xấu là gì. Đừng gọi nó là đẹp. Khi
bạn gọi nó là đẹp thì bạn đã mang vào một khái niệm.
Tâm trí đã bắt đầu hoạt động. Bây giờ, bạn có thể có
chút ít kinh nghiệm về hoa hồng, nhưng nó sẽ không
đúng - tâm trí bạn sẽ là việc bóp méo. Bạn sẽ nghĩ về
hoa hồng này như đại diện cho tất cả các hoa hồng
khác.
Plato nói rằng mọi thứ thực đều chỉ là đại diện
cho cái gì đó lí tưởng. Plato nói rằng với thượng đế
tồn tại ý tưởng về hoa hồng - cái đó là thực. Ý tưởng
về hoa hồng là thực và hoa hồng này chỉ là sự phản
chiếu của ý tưởng đó. Điều này là vô nghĩa, điều này
thực sự ngớ ngẩn.
Hoa hồng này tồn tại ở đây bây giờ cùng thượng
đế. Không có ý tưởng nào trong tâm trí của thượng
đế. Thượng đế không có tâm trí như vậy. Thượng đế
hiện hữu mà không có tâm trí. Thượng đế không phải
là người, và thượng đế đã không được huấn luyện bởi
bất kì cha mẹ nào, và thượng đế đã không được giáo
dục bởi bất kì đại học nào. Thượng đế đã không bị
ước định. Không có ý tưởng trong tâm trí của thượng
đế - và hoa hồng này là hoa hồng thực. Thượng đế tồn
tại cùng với hoa hồng này và hoa hồng này tồn tại
cùng thượng đế, và thượng đế không có rào chắn với
hoa hồng này, không rào chắn tâm trí.
Nhưng với Plato, thực tại là không thực còn ý
tưởng mới là thực. Với Phật nó chính là điều đối lập
lại: thực tại là thực còn ý tưởng là không thực. Nếu
bạn theo Plato, bạn sẽ trở thành triết gia. Nếu bạn theo
Phật bạn sẽ trở thành người tôn giáo. Tôn giáo không
phải là triết lí, tôn giáo là kinh nghiệm. 

Cho nên thử điều đó đi. Đôi khi cho phép vô trí
của bạn hoạt động. Đôi khi đẩy mọi suy nghĩ của bạn
sang bên. Đôi khi để thực tại thấm vào bạn. Đôi khi
để có phúc lành từ thực tại. Cho phép nó chuyển
thông điệp của nó cho bạn. Nhưng chúng ta cứ sống
trong lời, và chúng ta chú ý quá nhiều tới lời.
Tôi có một thầy giáo ở đại học và chúng tôi hay đi
dạo cùng nhau. Sau vài ngày tôi nói, 'Em sẽ không tới
nữa. Tốt hơn cả là em nên tự đi một mình.'
Thầy nói, 'Sao thế?' Bởi vì thầy quá bị ám ảnh với
các cái tên. Mọi cây thầy thấy thì thầy phải nói nó
thuộc vào loài gì. Mọi hoa - nó chứa gì, lịch sử của
nó. Nếu thầy nhìn hoa hồng, thầy sẽ không nhìn vào
hoa hồng đâu, thầy sẽ nhìn vào toàn thể lịch sử của
hoa hồng: nó tới từ Iran như thế nào, vào thế kỉ nào, ai
đem nó tới Ấn Độ - nó không phải là hoa Ấn Độ.
Bây giờ, thầy sẽ không bao giờ nhìn vào hoa cả,
và tôi cứ phải kéo thầy lại mãi - 'Hoa này là đủ rồi.
Vấn đề là gì? Hoa không có lịch sử, chỉ con người
mới có. Hoa này không bận tâm liệu nó bắt nguồn từ
Iran hay từ Ấn Độ. Hoa này không có ý tưởng về quá
khứ nào, nó sống ngay ở đây bây giờ. Nó không là
Hindu không là Mô ha mét giáo, không là Ấn Độ
không là Iran. Nó đơn giản có đó. Nó thậm chí không
phải là hoa hồng!'
Nhưng điều đó lại là khó cho thầy. Bất kì con
chim nào thầy trông thấy thầy sẽ nói, 'Đợi chút, để tôi
xem. Đây là loài chim gì? Nó từ đâu tới? Nó có tới từ
Siberia không? Hay từ Trung Á? Hay nó là con chim
Himalaya?' Sau vài ngày tôi nói, 'Em xin lỗi thầy.
Thầy đi một mình đi. Bởi vì em không quan tâm việc
con chim này đã từ đâu tới. Con chim này ở đây, nó là
đủ. Em không quan tâm tới việc giải thích khoa học,
lịch sử.'
Giải thích, với vài người, gần như là bệnh. Qua
việc giải thích của mình họ cố gắng giải thích cho mọi
điều. Họ bị ám ảnh với lời giải thích. Họ cho rằng nếu
họ có thể gọi tên một vật, đánh nhãn cho một vật, thì
họ biết nó. Họ rất không thoải mái chừng nào họ còn
chưa thể đánh nhãn cho một vật, biết một vật qua cái
tên, phân loại nó, phân ngăn cho nó - chừng nào họ
còn chưa làm điều đó thì họ rất không thoải mái.
Dường như là một điều nào đó đang làm chướng mắt
họ - sao mày ở đấy mà lại không có phân loại nào?
Một khi họ đã phân loại được nó, phân ngăn được nó,
dán nhãn lên nó, thế thì họ mới thoải mái. Họ đã biết
nó. Họ được kết thúc với vật này.
Tôi đã nghe:
Sau thế chiến thứ hai một lính Đức hãm hiếp một
người đàn bà Pháp và bảo cô ấy, 'Trong chín tháng cô
sẽ có đứa con - cô có thể gọi nó là Adolf Hitler.' Với
điều đó người đàn bà Pháp đáp lại, 'Trong chín ngày
ông sẽ bị phát ban - ông có thể gọi nó là bệnh sởi.'
Nhưng bằng việc gọi tên, nó chẳng thay đổi gì cả.
Điều bạn gọi là tuyệt đối không liên quan. Bất kì cái
gì đang đấy, thì vẫn đang đấy! Bằng việc bạn cho nó
cái tên nó chẳng bao giờ thay đổi cả. Nhưng với bạn
thì nó thay đổi. Chỉ bởi việc cho cái tên, thực tại trở
thành khác với bạn. 

Chuyện xảy ra:
Một con sư tử và một con lừa thoả thuận cùng đi
săn. Ngay lúc đó chúng đi tới một cái hang nơi ở của
nhiều con dê hoang. Sư tử chiếm vị trí cửa hang còn
lừa, đi vào bên trong, đá và kêu be be rầm rĩ và làm
cực kì om sòm để doạ lũ dê chui ra. Khi sư tử đã bắt
được nhiều dê, lừa chui ra và hỏi sư tử liệu nó có phải
đã làm việc cao quí và lùa đàn dê ra đúng không.
'Đúng thật đấy,' sư tử nói. 'Và tôi đảm bảo với
ông, ông chắc đã làm cả tôi cũng hoảng nữa nếu như
tôi mà không biết ông là lừa.'
Điều đó có thể tạo ra khác biệt cho bạn bằng việc
gọi các tên, nhưng nó không tạo khác biệt gì cho thực
tại. Nó có thể tạo ra khác biệt cho bạn bởi vì bạn sống
bị bao quanh bởi ngôn ngữ của mình, khái niệm, việc
nói ra lời. Bạn lập tức cứ dịch mọi thứ thành ngôn
ngữ.
Bỏ ngôn ngữ trong bạn - đó là điều Phật ngụ ý.
Tự mình khử bỏ tâm trí, tự mình tháo dỡ - đó là điều
Phật ngụ ý. Bằng không thì bạn sẽ không bao giờ biết
cái gì là đúng.
Siddhanta của ta là để suy nghĩ ý nghĩ không thể
nghĩ được.
Bạn không thể nghĩ được về thực tại. Không có
cách nào nghĩ về nó cả. Mọi suy nghĩ đều được vay
mượn. Không suy nghĩ nào đã bao giờ là nguyên bản.
Mọi suy nghĩ đều mang tính lặp lại, mọi suy nghĩ đều
mang tính máy móc. Bạn có thể cứ nhai đi nhai lại
cùng một điều lặp đi lặp lại mãi, nhưng chẳng cái gì
mới đã bao giờ nảy sinh ra từ việc suy nghĩ. Suy nghĩ
là cũ rích, mục nát. Nó là đồ đồng nát.
Bạn không thể nghĩ được về thực tại bởi vì mọi
khoảnh khắc đều nguyên bản. Mọi khoảnh khắc nó
đều mới tới mức nó chưa bao giờ giống thế trước đó.
Nó tuyệt đối tươi tắn tới mức bạn sẽ phải biết nó.
Không có cách khác để biết nó hơn là việc biết nó.
Cách duy nhất để biết yêu là yêu. Cách duy nhất
để biết bơi là bơi. Cách duy nhất để biết thực tại là
thành thực. Tâm trí làm cho bạn thành không thực.
Tâm trí làm cho bạn thành quá nhiều như ý nghĩ -
chất liệu tâm trí, lời, khái niệm, lí thuyết, triết lí, học
thuyết, kinh sách, chủ nghĩa. Tâm trí không cho bạn
cái thực, nó cho bạn chỉ những phản chiếu - và những
phản chiếu đó cũng bị bóp méo.
Phật nói đạt tới sáng tỏ. Nhìn, hiện hữu đi. Và thế
rồi bạn sẽ có khả năng nghĩ ý nghĩ mà không thể nghĩ
được. Bạn sẽ có khả năng có cuộc gặp gỡ với thực tại,
cuộc hẹn với thượng đế.
Ý nghĩ không thể nghĩ được - chỉ cái đó mới là
suy nghĩ xứng đáng. Tất cả mọi cái khác đều chỉ phí
hoài năng lượng sống.
để thực hành hành vi không làm được
Đây là điều Lão Tử gọi là vô vi. Hành động trong
bất hành - lại một ngược đời khác. Nhưng siddhanta
phải mang tính ngược đời thôi.

để thực hành hành vi không làm được
Thông thường chúng ta chỉ biết tới hành vi chúng
ta có thể làm. Chúng ta bị bao quanh bởi việc làm của
mình. Chúng ta không biết rằng có những điều ở bên
ngoài việc làm của mình và vẫn đang xảy ra. Bạn
được sinh ra. Bạn đã không trao việc sinh cho bản
thân mình, nó đơn giản đã xảy ra, và nó không thể xảy
ra theo cách tốt hơn. Bạn đang thở - nhưng bạn không
thở như một hành động; nó đang xảy ra. Bạn có thể cố
gắng ngừng nó và thế rồi bạn sẽ thấy bạn không thể
ngừng được nó. Cho dù vài giây thôi bạn cũng không
thể ngừng nó được; bạn sẽ phải thảnh thơi, bạn sẽ
phải cho phép nó. Việc thở là cuộc sống. Nó đang xảy
ra.
Tất cả mọi điều bản chất đều đang xảy ra, tất cả
những cái không bản chất, không mang tính tồn tại,
đều để được làm. Tất nhiên cửa hàng của bạn sẽ
không hoạt động nếu bạn không quản lí nó. Tất nhiên
bạn sẽ không trở thành thủ tướng hay tổng thống nếu
bạn không tranh đấu vì nó. Không ai đã bao giờ trở
thành thủ tướng mà không tranh đấu vì nó; không bạo
hành bạn không thể trở thành thủ tướng được. Bạn sẽ
phải cạnh tranh - cạnh tranh chẹn họng. Bạn sẽ phải
tàn bạo. Bạn sẽ phải hung hăng. Bạn sẽ phải làm điều
đó, chỉ thế thì nó mới có thể xảy ra. Tất cả mọi điều
phụ thuộc vào việc làm của bạn đều ngẫu nhiên và tất
cả những điều xảy ra không có bạn đều là bản chất.
Toàn thể mối quan tâm của tôn giáo là điều bản
chất, thế giới của điều bản chất. Bạn có đó; không
phải là bạn đã làm cho bản thân mình, bạn đơn giản
có đó chẳng vì lí do gì. Bạn đã không kiếm được nó,
nó không là gì của việc bạn làm cả. Nó là phúc lành,
nó là món quà. Bạn có đó: sự tồn tại đã muốn bạn có
đó, nó không phải là ý chí riêng của bạn.
Quan sát điều đó, hiểu điều đó đi. Khi một điều
như cuộc sống - quí giá thế - có thể xảy ra mà không
có việc làm của bạn, thế thì sao phải bận tâm? Thế thì
cho phép ngày một nhiều chiều của việc xảy ra. Vứt
ngày một nhiều việc làm đi. Làm chỉ cái dường như
cần thật. Đừng bị bận tâm quá nhiều với việc làm.
Đó là nghĩa của một sannyasin. Chủ hộ,
grihastha, là người đơn giản bị sở hữu bởi chiều làm
việc. Người đó nghĩ rằng nếu người đó không làm,
chẳng cái gì sẽ xảy ra. Người đó là người làm.
Sannyasin là người biết rằng dù mình có định làm
điều đó hay không, tất cả mọi điều là bản chất đều sẽ
tiếp tục xảy ra. Điều không bản chất có thể biến mất,
nhưng điều đó là không liên quan - nhưng điều bản
chất sẽ tiếp tục.
Tình yêu là bản chất; tiền bạc là không bản chất.
Sống động là bản chất; sống trong ngôi nhà lớn hay
không là không bản chất. Được thoả mãn, được mãn
nguyện là bản chất; xô đẩy, tham vọng, bao giờ cũng
cố đạt tới đâu đó, cố biểu diễn, cố chứng minh rằng
bạn là ai đó, là không bản chất. Mọi người sống chỉ
theo hai chiều hướng: chiều hướng của người làm và
chiều hướng của không người làm.
Phật nói:
để thực hành hành vi không làm được... 

Ông ấy nói thực hành điều đó. Ông ấy nói 'thực
hành', bởi vì không có cách khác để nói điều đó. Từ
'thực hành' có vẻ giống như làm, đó là nghịch lí. Ông
ấy nói, 'Làm điều không thể được làm.' Làm điều chỉ
xảy ra. Cho phép, ông ấy ngụ ý - cho phép cái xảy ra,
cho phép thượng đế có đó. Cho phép cuộc sống có đó,
cho phép tình yêu có đó. Cho phép sự tồn tại xuyên
thấu vào bạn, thấm vào bạn. Đừng tiếp tục là người
làm.
Ông ấy không ngụ ý không làm gì cả. Ông ấy nói
đừng nhấn mạnh nó. Có thể điều đó là cần thiết. Bạn
phải lau sạch căn phòng của mình. Không có việc bạn
làm điều đó, nó sẽ không xảy ra. Cho nên làm nó! -
nhưng không bị ám ảnh bởi nó. Nó chỉ là phần nhỏ.
Phần lớn của cuộc sống, phần trung tâm của cuộc
sống, nên giống như việc xảy ra. Như sét loé lên trong
đám mây, thượng đế xảy ra cũng vậy. Như dòng sông
cứ xô về đại dương và tan biến, tình yêu cũng xảy ra
như vậy. Thiền cũng xảy ra như vậy - nó chẳng liên
quan gì tới việc làm của bạn. Việc làm của bạn không
phải là bản chất cho nó xảy ra. Nó có thể xảy ra khi
bạn đang ngồi và không làm gì cả. Thực tế nó xảy ra
chỉ thế thôi, khi bạn không làm gì cả và bạn ngồi. Tôi
nhất định cho bạn làm nhiều điều như các phương
pháp, nhưng nhấn mạnh chỉ là điều này - rằng bạn
phải bị mệt nhoài, bằng không bạn sẽ không ngồi đâu.
Cứ dường như là bạn bảo đứa trẻ, 'Ngồi im trong
góc phòng,' và nó không thể ngồi được; nó bồn chồn
thế, nó đầy năng lượng thế. Nó muốn làm điều này
điều nọ và chạy quanh. Cách tốt nhất là bảo nó đi bẩy
vòng - chạy quanh nhà bẩy lần, quanh khối nhà - thế
rồi quay lại. Thế thì không cần bạn bảo, nó sẽ ngồi im
lặng.
Đó là toàn thể vấn đề của nhấn mạnh của tôi vào
việc dành thời gian thực hiện thiền Động, thiền
Kundalini, thiền Nataraj - để cho trong vài khoảnh
khắc bạn có thể cho phép việc xảy ra. Bạn sẽ không
đạt tới thiền bằng việc làm đâu, bạn sẽ đạt tới thiền
chỉ bằng không làm. Và trong không làm điều thực sẽ
xảy ra.
Điều thực không thể được tạo ra; nó bao giờ cũng
xảy ra. Người ta phải nhạy cảm và cởi mở và mong
manh. Nó rất tinh tế. Bạn không thể vồ được nó. Nó
rất mảnh mai... ẻo lả tựa bông hoa. Bạn không thể vồ
lấy nó được. Nếu bạn vồ lấy nó bạn sẽ phá huỷ nó.
Bạn phải rất dịu dàng. Nó không phải là phần cứng,
nó là phần mềm. Bạn phải thực sự dịu dàng, bạn phải
mang nữ tính.
Phật nói:
thực hành hành vi không làm được...
Đó là thông điệp của tất cả những người vĩ đại,
người thực sự vĩ đại. Việc nhận ra vĩ đại nhất trên trái
đất này đã từng là thế này: là chúng ta đang tạo ra quá
nhiều ồn ào không cần thiết. Cái sẽ xảy ra thì sẽ xảy
ra nếu chúng ta chờ đợi. Vào đúng mùa vụ, mùa
màng; vào đúng mùa, có kết quả. Vào đúng mùa mọi
thứ xảy ra. Nếu một người có thể học chỉ một điều -
cách chờ đợi mang tính cầu nguyện - thì chẳng cần cái
gì khác. Cực lạc là prasad, món quà của thượng đế. 

Thử xem. Thực hành điều Phật nói đi. Ít nhất
trong một giờ bạn trở thành không người làm. Ít nhất
trong một giờ, sâu trong đêm, ngồi một mình. Không
làm gì cả - thậm chí không tụng mật chú, thậm chí
không thiền siêu việt. Không làm gì cả. Chỉ ngồi, nằm
xuống, nhìn lên các vì sao. Điều đó nữa cũng phải
không khó khăn. Nhìn rất dịu dàng. Đừng hội tụ; vẫn
còn không hội tụ như việc chụp ảnh không hội tụ - mờ
mịt, mờ ảo, không biết biên giới ở đâu. Vẫn còn im
lặng trong bóng tối.
Nếu ý nghĩ tới cứ để chúng tới. Đừng tranh đấu
với chúng. Chúng sẽ tới và chúng sẽ đi - bạn chỉ là
người quan sát. Chúng tới hay chúng đi không phải là
việc của bạn. Bạn là ai? Chúng tới không lời mời,
chúng đi không xô đẩy. Chúng tới và đi, đó là lưu
thông thường xuyên. Bạn chỉ ngồi bên đường và quan
sát.
Khi tôi nói quan sát, đừng diễn giải sai tôi. Đừng
làm việc quan sát thành nỗ lực. Bằng không mọi
người trở nên rất cứng nhắc và họ bắt đầu quan sát
theo cách rất cứng nhắc và căng thẳng. Họ lại bắt đầu
làm việc. Điều tôi đang nói, hay điều Phật đang nói là
- ở trong thái độ không làm, lười biếng.
Lười biếng, và xem điều xảy ra. Bạn sẽ ngạc
nhiên. Một ngày nào đó - chỉ ngồi, chỉ ngồi thôi,
không làm gì cả - một ngày nào đó, từ cội nguồn
không biết nào đó, một tia sét, một phúc lành. Một
ngày nào đó, vào khoảnh khắc nào đó, bỗng nhiên bạn
được siêu việt lên. Bỗng nhiên bạn thấy yên tĩnh
choàng xuống mình. Nó gần như mang tính vật lí.
Nếu một thiền nhân thực, một người có thể thảnh
thơi, ngồi im lặng và cho phép, ngay cả ai đó không
phải là thiền nhân cũng sẽ cảm thấy sự hiện diện -
rằng cái gì đó đang xảy ra. Bạn có thể không có khả
năng hình dung ra nó là gì; bạn có thể cảm thấy kì lạ
hay chút ít sờ sợ, nhưng nếu bạn ngồi bên cạnh một
thiền nhân...
Bây giờ, khó mà dùng đúng từ, bởi vì từ 'thiền
nhân' lại cho ấn tượng dường như người đó đang làm
điều gì đó - làm việc thiền. Nhớ đi nhớ lại - ngôn ngữ
đã được những người không là thiền nhân phát triển,
cho nên toàn thể ngôn ngữ, theo một cách tinh tế, là
sai. Nó không thể diễn đạt được.
Khi ai đó đang ngồi đó, chỉ ngồi đó, giống như cái
cây, như tảng đá, không làm gì cả, điều đó xảy ra: cái
gì đó từ trên cao giáng xuống, thấm vào chính cốt lõi
bản thể người đó. Ánh sáng tinh tế bao quanh người
đó... vầng sáng, phúc lành có thể được cảm thấy
quanh người đó - ngay cả bởi những người không biết
thiền là gì. Ngay cả đi ngang qua bên cạnh, họ cũng
sẽ cảm thấy tác động của điều đó. Phúc lành này đã
được gọi là thượng đế.
Thượng đế không phải là người, đó là kinh
nghiệm sâu sắc khi bạn không làm gì cả và sự tồn tại
đơn giản tuôn chảy trong bạn... mênh mông của nó,
phúc lành của nó, ân huệ của nó.
Bạn không làm gì cả, bạn thậm chí không trông
đợi điều gì, bạn không chờ đợi điều gì. Bạn không có
động cơ. Bạn chỉ ở đó như cây đứng trong gió, hay
như tảng đá chỉ ngồi im lặng bên cạnh dòng sông.
Hay giống như đám mây quấn quít quanh đỉnh núi - chỉ ở đó, không chuyển động theo cách riêng của
mình.
Trong khoảnh khắc đó bạn không phải là cái ngã,
trong khoảnh khắc đó bạn là vô ngã. Trong khoảnh
khắc đó bạn không là tâm trí, bạn là vô trí. Trong
khoảnh khắc đó bạn không có trung tâm. Trong
khoảnh khắc đó bạn là mênh mông... bao la không
biên giới - bỗng nhiên có tiếp xúc. Bỗng nhiên nó có
đó! Bỗng nhiên bạn được hoàn thành, bỗng nhiên bạn
được bao quanh bởi sự hiện diện không biết nào đó.
Điều đó là rất bao la.
Đó là điều Phật nói:
thực hành hành vi không làm được; để nói bài nói
không diễn đạt được;
Và nếu bạn muốn nói điều gì đó, nói điều không
thể được nói đi. Diễn đạt cái không thể diễn đạt được
đi. Phỏng có ích gì mà nói điều có thể được nói? - bất
kì ai cũng biết chúng, mọi người đều biết chúng. Nếu
bạn thực sự muốn diễn đạt cái gì đó, diễn đạt cái
không thể diễn đạt được.
Cách diễn đạt cái không thể diễn đạt được là gì?
Nó có thể được diễn đạt chỉ qua việc hiện hữu. Lời là
quá hạn hẹp. Nó chỉ có thể được diễn đạt bằng sự tồn
tại của bạn, bằng sự hiện diện của bạn - trong bước đi
của bạn, trong ngồi của bạn, trong đôi mắt bạn, trong
điệu bộ của bạn, trong cái chạm của bạn, trong từ bi
của bạn, trong tình yêu của bạn. Cách bạn hiện hữu -
nó có thể được diễn đạt qua điều đó.
Phật nói, nhưng điều đó không phải rất bản chất.
Điều bản chất hơn là hiện hữu của ông ấy, là ông ấy
đang có đó. Qua việc nói của mình ông ấy cho phép
bạn được sống cùng ông ấy. Việc nói chỉ là để thuyết
phục bạn. Bởi vì sẽ khó cho bạn trong im lặng cùng vị
Phật. Ông ấy phải nói, bởi vì nếu ông ấy nói bạn cảm
thấy rằng mọi thứ đều tốt, bạn có thể nghe. Nếu ông
ấy không nói làm sao bạn sẽ nghe được? Bạn không
biết cách nghe khi không ai nói. Bạn không biết cách
nghe điều không thể được diễn đạt.
Nhưng dần dần, sống quanh một thầy, một phật,
một Jesus, dần dần bạn sẽ bắt đầu hấp thu tâm linh
của người đó. Dần dần, mặc bạn, sẽ có những khoảnh
khắc mà bạn sẽ thảnh thơi, và không chỉ điều ông ấy
đang nói sẽ đạt tới trong tim bạn, mà điều ông ấy
đang hiện hữu cũng sẽ thấm vào. Và với ông ấy toàn
thể chiều hướng của việc xảy ra mở ra. Đó là nghĩa
của satsang - ở trong hiện diện của thầy.
...và để được huấn luyện trong kỉ luật vượt ra
ngoài kỉ luật.
Và Phật nói có kỉ luật mà không phải là kỉ luật.
Thông thường chúng ta nghĩ về kỉ luật cứ dường như
ai đó khác đang cố gắng áp kỉ luật cho bạn. Kỉ luật
mang hàm nghĩa rất xấu - cứ dường như bạn đang bị
ép vào kỉ luật, cứ dường như bạn chỉ vâng lời. Trung
tâm đang áp kỉ luật lên bạn là ở ngoài bạn.
Phật nói đó không phải là kỉ luật đâu, đó là việc
buông bỏ sự nô lệ. Hãy tự do, không cần phải theo kỉ
luật từ bất kì nguồn bên ngoài nào. Trở nên tỉnh táo,
để cho kỉ luật bên trong nảy sinh trong bạn. Trở nên có trách nhiệm, để cho bất kì điều gì bạn làm thì bạn
làm với trật tự nào đó, hài hoà nào đó trong nó; để cho
bản thể bạn không là sự hỗn loạn, để cho bản thể bạn
không trong đống lộn xộn.
Cho nên có hai kiểu kỉ luật: một, kỉ luật có thể bị
ép buộc từ bên ngoài. Đó là điều các chính khách cứ
làm, các tu sĩ cứ làm, cha mẹ cứ làm. Và có một kỉ
luật có thể được gợi lên trong bạn - điều đó có thể
được thực hiện chỉ bởi các bậc thầy. Họ không áp đặt
kỉ luật nào lên bạn, họ làm cho bạn đơn giản nhận biết
hơn để cho bạn có thể tìm ra kỉ luật riêng của mình.
Mọi người tới tôi và họ hỏi, 'Sao thầy không cho
chúng tôi kỉ luật nào đó? Ăn cái gì, không ăn cái gì.
Khi nào dậy buổi sáng và khi nào đi ngủ.' Tôi không
cho bạn những kỉ luật như vậy đâu, bởi vì bất kì kỉ
luật nào tới từ bên ngoài cũng đều mang tính phá
hoại.
Tôi cho bạn chỉ một kỉ luật thôi - điều Phật gọi là
kỉ luật của cõi bên kia, kỉ luật của siêu việt.
Tôi cho bạn chỉ một kỉ luật và đó là kỉ luật của
nhận biết. Nếu bạn nhận biết bạn sẽ thức dậy đúng
lúc. Khi thân thể được nghỉ ngơi bạn sẽ dậy. Khi bạn
nhận biết bạn sẽ ăn chỉ cái được cần, bạn sẽ ăn chỉ cái
ít hại nhất cho bạn và cho người khác. Bạn sẽ ăn chỉ
cái không dựa trên bạo hành. Nhưng nhận biết sẽ là
nhân tố quyết định.
Bằng không bạn có thể bị ép buộc để trở nên vâng
lời, nhưng sâu bên dưới bạn cứ mang tính nổi dậy.
Tôi đã nghe một câu chuyện thời thế chiến thứ hai.
Một trung sĩ và một binh nhì bị buộc tội đá viên
đại tá. Khi được hỏi về lời giải thích, viên trung sĩ
đáp, "Thế này, thưa ngài, viên đại tá đi quanh góc thì
tôi đang tập thể dục chạy tới. Tôi chỉ đi đôi giày đế
mềm, ông ấy đi giầy ống, và ông ấy dẫm lên ngón
chân tôi. Tôi sợ bị đau, thưa ngài, tới mức tôi đã bất
ngờ đá lên - và trước khi tôi nhận ra đó là ai, thưa
ngài.'
'Tôi biết rồi,' viên sĩ quan trật tự nói. 'Thế về lính
của anh thì sao?'
Với điều này viên binh nhì đáp, 'Tôi thấy viên
trung sĩ đá viên đại tá, thưa ngài. Cho nên tôi tự nhủ
mình, "Chiến tranh chắc phải chấm dứt rồi, cho nên
tôi cũng có thể đá".'
Bất kì khi nào ai đó áp đặt kỉ luật lên bạn, sâu bên
dưới bạn không bằng lòng, sâu bên dưới bạn chống lại
nó. Bạn có thể tuân theo nó, nhưng bạn bao giờ cũng
tuân một cách ngần ngại. Và đó là cách nó phải vậy,
bởi vì thôi thúc sâu sắc nhất trong con người là vì tự
do, vì moksha.
Được tự do là việc tìm kiếm. Suốt nhiều thế kỉ,
trong hàng nghìn năm, trong nhiều kiếp sống, chúng
ta đã từng tìm kiếm cách được tự do. Cho nên bất kì
khi nào ai đó tới - cho dù là vì chính bạn, vì điều tốt
cho riêng bạn - và áp đặt cái gì đó lên bạn, bạn vẫn
chống lại. Điều đó chống lại bản tính con người, điều
đó chống lại định mệnh con người.
Phật nói không có nhu cầu phải vâng lời ai đó
khác; bạn phải tìm ra nhận biết riêng của mình - vâng theo nó. Nhận biết! - đó là kinh sách duy nhất. Nhận
biết! - đó là người thầy duy nhất. Nhận biết! - và
không cái gì có thể đi sai được. Nhận biết đem tới kỉ
luật riêng của nó như cái bóng. Và thế thì kỉ luật này
là đẹp. Thế thì nó không như cảnh nô lệ, thế thì nó
giống như sự hài hoà. Thế thì nó không phải dường
như bị ép buộc, thế thì nó là việc nở hoa từ bản thể
riêng của bạn, việc nở hoa.
và để được huấn luyện trong kỉ luật vượt ra ngoài
kỉ luật.
Mọi người thường tìm ai đó để bảo cho họ điều
phải làm - bởi vì họ sợ tự do của mình, bởi vì họ
không biết rằng họ có thể dựa vào cội nguồn riêng của
họ, bởi vì họ không tự tin, bởi vì họ bao giờ cũng
được ai đó khác bảo cho điều phải làm, cho nên họ đã
trở nên bị nghiện với điều đó. Họ tìm kiếm hình ảnh
người cha trong cả đời mình. Thượng đế của họ cũng
là cha, không gì khác. Thượng đế đó là giả, chính là
người cha. Và việc tìm kiếm hình ảnh người cha là
phản cuộc sống.
Bạn phải học cách tự do khỏi mọi hình ảnh người
cha. Bạn phải học cách là bản thân mình. Bạn phải
học cách nhận biết và có trách nhiệm. Chỉ thế thì bạn
mới bắt đầu lớn lên. Trưởng thành bao giờ cũng là
trưởng thành hướng tới tự do. Chưa trưởng thành bao
giờ cũng là một loại phụ thuộc và sợ tự do.
Đứa trẻ là phụ thuộc - điều đó là được, điều đó có
thể hiểu được. Nó bất lực. Nhưng tại sao cả đời bạn
vẫn còn là đứa trẻ? Đó là cuộc cách mạng Phật đã
đem vào trong thế giới. Ông ấy là một trong những
nhà tư tưởng nổi dậy nhất của thế giới. Ông ấy ném
bạn về với chính mình. Điều đó là nguy hiểm, nhưng
ông ấy nhận nguy cơ đó. Và ông ấy nói rằng mọi
người đều phải nhận lấy nguy cơ đó. Có mọi khả năng
bạn có thể đi lạc lối - nhưng cuộc sống là rủi ro.
Đi lạc lối theo cách riêng của bạn còn tốt hơn là đi
theo ai đó khác. Bị lạc mãi mãi và là bản thân mình
còn tốt hơn là đạt tới cõi trời như bản sao, như kẻ bắt
chước. Thế thì cõi trời của bạn sẽ không là gì ngoài
nhà tù. Và nếu bạn đã chọn địa ngục riêng của mình
theo cách riêng của mình, từ tự do của riêng mình, thì
địa ngục của bạn cũng sẽ là cõi trời - bởi vì tự do là
cõi trời.
Bây giờ bạn sẽ thấy khác biệt giữa Ki tô giáo và
Phật giáo. Ki tô giáo nói Adam bị đuổi bởi vì anh ta
đã không vâng lời thượng đế. Phật nói vâng theo mỗi
bản thân mình, không có thượng đế khác để mà phải
tuân theo. Ki tô giáo gọi không vâng lời là tội lỗi
nguyên thuỷ, còn Phật gọi vâng lời là tội lỗi nguyên
thuỷ. Khác biệt cực kì lớn. Phật là người giải thoát, Ki
tô giáo đã tạo ra tù túng cho toàn thể nhân loại.
Giải thoát của Phật là thuần khiết. Ông ấy dạy bạn
nổi dậy, nhưng nổi dậy của ông ấy không phải là nổi
dậy chính trị. Ông ấy dạy bạn nổi dậy với trách
nhiệm, với nhận biết. Nổi dậy của ông ấy không phải
là phản ứng. Bạn có thể vâng lời, bạn có thể không
vâng lời. Phật đang nói gì? Phật đang nói đừng vâng
lời đừng không vâng lời - bởi vì không vâng lời lại là
được ước định bởi ai đó khác. Bạn cứ làm điều gì đó
bởi vì cha bạn nói không làm điều đó, nhưng ông ấy
lại thao túng bạn theo cách tiêu cực. Bạn cứ làm điều gì đó bởi vì xã hội nói đừng làm điều đó, nhưng xã
hội đang xác định điều bạn phải làm.
Phật nói nổi dậy không phải là phản ứng. Nó
không là nô lệ không là phản ứng, không là vâng lời
cũng không là không vâng lời. Nó là kỉ luật bên trong.
Nó là kỉ luật, nó là trật tự vô cùng, nhưng nó tới từ cốt
lõi bên trong của bạn. Bạn quyết định nó.
Chúng ta cứ đổ trách nhiệm lên người khác. Điều
đó dễ dàng hơn. Bạn bao giờ cũng có thể nói rằng bố
bạn nói làm điều đó, cho nên bạn đã làm nó - bạn
không chịu trách nhiệm. Bạn bao giờ cũng có thể nói
lãnh đạo đã nói phải làm điều đó, cho nên bạn đã làm
- bạn không chịu trách nhiệm. Toàn thể đất nước định
làm điều đó, định đi vào chiến tranh và giết hại các
nước khác - bạn đã làm điều đó bởi vì bạn đơn giản
vâng theo mệnh lệnh, bạn đơn giản vâng lời.
Khi các đồng sự của Adolf Hitler bị bắt sau thế
chiến thứ hai, họ tất cả đều thú nhận trước toà rằng họ
không có trách nhiệm, họ đơn giản tuân theo mệnh
lệnh. Bất kì mệnh lệnh nào được trao cho, họ đều
vâng theo. Nếu mệnh lệnh được trao, 'Giết một triệu
người Do Thái!' thì họ giết. Họ đơn giản tuân theo
mệnh lệnh, họ đơn giản vâng lời. Họ không chịu trách
nhiệm.
Bây giờ nhìn và quan sát: bạn có thể đơn giản cố
gắng tìm ra ai đó, người nói 'làm cái này', để cho bạn
có thể đổ trách nhiệm lên người đó. Nhưng đây không
phải là cách thức - đổ trách nhiệm lên bất kì ai khác.
Cuộc sống là của bạn và trách nhiệm là của bạn.
Nếu bạn hiểu Phật, thế giới sẽ hoàn toàn khác.
Thế thì không thể có thêm bất kì Hitler nào nữa, thế
thì không thể có thêm chiến tranh nào nữa - bởi vì
không thể có bất kì việc vâng theo từ bên ngoài, và
mọi người có trách nhiệm sẽ nghĩ theo cách riêng của
mình. Không phải 'người Hindu đang giết người Mô
ha mét giáo, cho nên mình phải giết'; không phải
'người Mô ha mét giáo đang đốt đền chùa, cho nên tôi
phải đốt bởi vì tôi là người Mô ha mét giáo.' Từng cá
nhân nên trở thành ánh sáng lên bản thân mình, và
người đó nên quyết định - không như người Mô ha
mét giáo, không như người Ki tô giáo, không như
người Ấn Độ, không như người Pakistan; người đó
nên quyết định theo ý thức riêng của mình; không
theo bất kì cái gì khác. Đây là điều Phật gọi là kỉ luật
bên ngoài kỉ luật.
Đây là định nghĩa về người tôn giáo: Người suy
nghĩ ý nghĩ không thể nghĩ được; người thực hành
hành vi không thể làm được; người nói điều không
thể diễn đạt được, không thể tả được; và người đó
thực hành kỉ luật ở bên ngoài kỉ luật.
Những người hiểu điều này là gần; những người
bị lẫn lộn là xa.
Nếu bốn điều này mà được hiểu, bạn là gần với
chân lí. Nếu bạn không hiểu thế thì bạn ở xa với chân
lí.
Đạo ở bên ngoài lời và việc diễn đạt, không bị
giới hạn bởi bất kì cái gì trần tục. Mất cái nhìn về nó chỉ một li thôi hay mất nó trong một khoảnh
khắc thôi, và chúng ta xa khỏi nó mãi mãi.
Những người hiểu điều đó là gần... Bây giờ để
điều này là tiêu chí cho bạn - bạn có thể đánh giá. Để
điều này là hòn đá thử cho trưởng thành của bạn. Nếu
bạn cảm thấy bốn điều này đang xảy ra trong cuộc
sống của mình - tuy nhiên, theo bất kì số lượng nào...
có thể là số lượng rất nhỏ, nhưng nếu chúng đang xảy
ra, thế thì bạn đang trên đường đúng. Nếu bạn đi xa
khỏi bốn điều này, bạn đang đi xa khỏi con đường,
khỏi pháp, khỏi Đạo.
Đạo ở bên ngoài lời và việc diễn đạt, không bị
giới hạn bởi bất kì cái gì trần tục.
Chân lí tối thượng không bị giới hạn bởi bất kì cái
gì mà bạn có thể thấy, cái bạn có thể sờ. Nó không
phụ thuộc vào giác quan của bạn. Chân lí tối thượng
không là vật chất, nó là phi vật chất. Nó không trần
tục. Nó không thể bị bất kì cái gì gây ra. Đó là lí do
tại sao nó không bao giờ có thể trở thành một phần
của khoa học.
Bạn có thể trộn lẫn hidro và ô xi và bạn có thể tạo
ra nước ở đó. Không có cách nào để tạo ra cực lạc
theo cách đó. Không có cách nào để làm ra thượng đế
theo cách đó. Không có cách nào để làm ra chân lí
theo cách đó. Bạn có thể phá huỷ nước bằng việc
phân tách hidrô và ô xi, bạn có thể tạo ra nước bằng
việc trộn lẫn hidrô và ô xi, nhưng không có cách nào
để phá huỷ chân lí hay để tạo ra nó. Nó là không được
tạo ra.
Nó không phải là dây chuyền nhân quả. Bạn
không thể tạo ra được nó; nó đã có đó rồi. Bạn không
thể phá huỷ nó, bởi vì bạn là nó. Nó là chính cuộc
sống này. Bạn chỉ có thể làm một điều thôi - hoặc là
bạn có thể nhắm mắt lại với nó, hoặc là bạn có thể
quên nó đi, bạn có thể trở nên tuyệt đối quên lãng về
nó, hay bạn có thể nhớ, thấy, nhận ra.
Nếu bạn bị mất hút vào quá nhiều việc làm, tham
vọng, giầu có, tiền bạc, danh vọng, quyền lực, thế thì
bạn sẽ mất dấu vết của chân lí mà bao giờ cũng ở bên
cạnh bạn - chỉ ngay góc kia thôi, chỉ trong tầm với -
nhưng bạn đang quay lưng mình về nó.
Hay bạn có thể cho phép nó. Nếu bạn trở nên
mang tính thiền thêm chút ít và ít tham vọng hơn, nếu
bạn trở nên mang tính tôn giáo thêm chút ít và ít chính
trị đi, nếu bạn trở nên thanh cao hơn chút ít và ít trần
tục hơn, nếu bạn bắt đầu đi vào bên trong hơn đi ra
bên ngoài, nếu bạn bắt đầu trở nên tỉnh táo hơn chút ít
so với ngủ, nếu bạn đi ra khỏi trạng thái say sưa của
mình, nếu bạn đem chút ít ánh sáng vào trong bản thể
mình, thế thì... thế thì bạn sẽ ở gần, gần nhà. Bạn chưa
bao giờ ở xa cả. Thế thì toàn thể cuộc sống của bạn sẽ
được biến đổi, được siêu việt lên. Thế thì bạn sẽ sống
theo cách hoàn toàn khác; một phẩm chất mới sẽ có
đó trong cuộc sống của bạn mà không có gì liên quan
tới việc làm của bạn, cái là món quà, là phúc lành.
Mất cái nhìn về nó chỉ một li thôi hay mất nó
trong một khoảnh khắc thôi, và chúng ta xa khỏi
nó mãi mãi. 

Nhìn vào trong nó trong một khoảnh khắc thôi, lại
gần nó cho dù một li, và nó là của bạn, và nó bao giờ
cũng là của bạn.
Đây là nghịch lí của siddhanta. Đây không phải là
học thuyết, đây là việc nhận ra của Phật. Ông ấy đơn
giản cố gắng chia sẻ việc nhận ra của mình với bạn.
Ông ấy không làm sâu sắc triết lí hay hệ thống các ý
nghĩ. Ông ấy đơn giản chỉ tới mặt trăng, thực tại.
Đừng nhìn vào ngón tay đang trỏ của ông ấy,
bằng không bạn sẽ bỏ lỡ; bạn sẽ trở thành Phật tử.
Nhìn vào trăng mà ngón tay này đang trỏ tới. Quên
hoàn toàn ngón tay đi và nhìn vào trăng và bạn sẽ trở
thành vị phật.
Đây là vấn đề mà nhân loại phải giải quyết. Trở
thành người Ki tô giáo dễ hơn rất nhiều việc trở thành
một Christ, trở thành một Phật tử dễ hơn rất nhiều
việc trở thành vị phật, nhưng thực tại chỉ được biết tới
bởi việc trở thành một Christ hay một Phật. Bằng việc
trở thành người Ki tô giáo hay Phật tử bạn lại trở
thành bản sao. Đừng xúc phạm bản thân mình theo
cách đó. Có chút ít kính trọng bản thân mình đi. Đừng
bao giờ là người Ki tô giáo và đừng bao giờ là Phật tử
và đừng bao giờ là người Hindu. Là tâm thức không
xác định, không bị chặn, không động cơ. Nếu bạn có
thể làm được điều đó, tất cả những cái khác sẽ theo
sau theo cách riêng của nó.
Phật nói:
Học thuyết của ta là để suy nghĩ ý nghĩ không thể
nghĩ được; để thực hành hành vi không làm được;
để nói bài nói không diễn đạt được; và để được
huấn luyện trong kỉ luật vượt ra ngoài kỉ luật.

Những người hiểu điều này là gần; những người
bị lẫn lộn là xa. Đạo ở bên ngoài lời và việc diễn
đạt, không bị giới hạn bởi bất kì cái gì trần tục.
Mất cái nhìn về nó chỉ một li thôi hay mất nó
trong một khoảnh khắc thôi, và chúng ta xa khỏi
nó mãi mãi.
Lời kinh này là một trong những lời quan trọng
nhất, một trong những lời rất trung tâm của thông
điệp của Phật. Chính điều bản chất của thông điệp của
ông ấy có đó tựa như hạt mầm. Kiên nhẫn đi cùng tôi
vào trong nó, cố hiểu nó. Bởi vì nếu bạn hiểu câu mật
chú này, bạn đã hiểu tất cả mọi điều Phật muốn bạn
hiểu. Nếu bạn bỏ lỡ câu mật chú này, bạn bỏ lỡ tất cả.
Phật nói:
Học thuyết của ta là để suy nghĩ ý nghĩ không thể
nghĩ được; để thực hành hành vi không làm được;
để nói bài nói không diễn đạt được; và để được
huấn luyện trong kỉ luật vượt ra ngoài kỉ luật.
Việc chọn từ 'học thuyết' là điều không may,
nhưng có những khó khăn trong việc dịch. Phật phải
đã dùng từ siddhanta. Nó có nghĩa hoàn toàn khác.
Thông thường nó được dịch là học thuyết; nó không
nên được dịch như vậy. Nhưng vấn đề là ở chỗ trong
tiếng Anh không có từ tương đương với siddhanta.
Cho nên tôi sẽ phải giải thích nó cho bạn.
Học thuyết là một lí thuyết logic nhất quán. Còn
siddhanta chẳng có liên quan gì tới logic, lí thuyết,
nhất quán cả. Siddhanta là việc nhận ra, siddhanta là
kinh nghiệm. Học thuyết mang tính trí tuệ, siddhanta
mang tính tồn tại. Bạn có thể làm ra học thuyết mà
không bị biến đổi bởi nó. Bạn có thể làm ra học
thuyết vĩ đại mà thậm chí không bị nó chạm tới.
Nhưng nếu bạn muốn đạt tới siddhanta thì bạn sẽ phải
được biến đổi toàn bộ, bởi vì nó sẽ là tầm nhìn về một
con người khác toàn bộ.
Từ siddhanta nghĩa là việc khẳng định về người
đã trở thành một siddha, người đã đạt tới, người đã đi
tới - tuyên bố của người đó. Bạn có thể là triết gia vĩ
đại, bạn có thể hình dung ra nhiều thứ về mặt trí tuệ, bạn có thể tổng hợp các suy diễn của mình, và bạn có
thể làm ra qui tắc suy diễn rất logic, nhất quán, có vẻ
gần như chân lí, nhưng lại không phải là chân lí. Nó
được tâm trí bạn chế tạo ra. Học thuyết là nhân tạo;
siddhanta chẳng liên quan gì tới con người và nỗ lực
của con người. Siddhanta là tầm nhìn - bạn chợt nảy
ra nó trong óc.
Chẳng hạn, người mù có thể nghĩ về ánh sáng và
có thể cố gắng hình dung ra nó tất cả là gì. Người đó
thậm chí có thể nghe các chuyên luận lớn lao về ánh
sáng và người đó có thể làm ra ý tưởng nào đó về nó -
nó là gì. Nhưng người đó sẽ vẫn ở xa với ánh sáng
như người đó trước đây. Người đó thậm chí có thể
giải thích chi tiết học thuyết về ánh sáng, người đó có
thể giải thích vật lí của ánh sáng, người đó có thể giải
thích cấu trúc của nó. Người đó có thể đi sâu vào các
thành tố của ánh sáng, người đó có thể nói, người đó
có thể viết, người đó có thể viết luận án tiến sĩ về nó,
bản luận văn. Người đó có thể được đại học công bố
là tiến sĩ, bởi vì người đó đã làm sâu sắc một học
thuyết - nhưng dầu vậy người đó vẫn không biết ánh
sáng là gì. Người đó không có mắt để thấy.
Siddhanta là cái bạn đã thấy, cái đã được hiển lộ
cho bạn, cái đã trở thành kinh nghiệm riêng của bạn,
cái bạn đã đương đầu. Học thuyết gần như là tưởng
tượng, nó không thực. Học thuyết gần như bao giờ
cũng được vay mượn. Bạn có thể che giấu vay mượn
của mình theo nhiều cách - những cách tinh tế, tinh
ranh. Bạn có thể phát biểu lại, bạn có thể lấy từ nhiều
nguồn và bạn có thể tái thu xếp mọi thứ, nhưng học
thuyết là thứ vay mượn - chẳng cái gì nguyên bản
trong nó.
Siddhanta là tuyệt đối nguyên bản, mới. Nó là
kinh nghiệm đích thực của bạn. Bạn đã đi tới thấy
thực tại là gì. Nó là cảm nhận tức khắc, nó là phúc
lành, nó là ân huệ, nó là sự trọng đãi, món quà. Bạn
đã đạt tới và bạn đã thấy chân lí là gì. Phát biểu về
việc nhận ra là siddhanta. Làm sâu sắc học thuyết là
một điều; cho cách diễn đạt về siddhanta là khác toàn
bộ.
Tôi đã nghe:
Có lần Mulla Nasruddin nói chuyện với vài người
bạn của mình. Anh ta kể cho các bạn thân của mình
về kì nghỉ tuyệt vời mà anh ta và gia đình đã có ở Mĩ.
'Đó là một nước kì diệu,' anh ta kêu lên. 'Không
đâu trên thế giới này người lạ lại được đối xử tốt thế.
Bạn bước đi trên phố và bạn gặp một anh chàng ăn
vận trang nhã với nhiều đô la. Anh ta ngả mũ chào và
mỉm cười với bạn, và bạn cùng nói chuyện. Anh ta
mời bạn vào chiếc xe lớn của anh ta, và chỉ cho bạn
xem thành phố. Anh ta chiêu đãi bạn bữa tối ngon
lành, rồi đưa bạn tới nhà hát. Bạn có nhiều thức ăn
ngon và đầy đồ uống, và anh ta mời bạn về nhà anh ta
và bạn ngủ ngon lành cả đêm. Sáng hôm sau...
'Cái gì, Nasruddin,' một thính giả nói, 'tất cả điều
này thực sự xảy ra cho anh chứ?'
'Không, không đích xác thế, nhưng nó tất cả đã
xảy ra cho vợ tôi,' Nasruddin nói. 

Học thuyết là cái đã xảy ra cho ai đó khác. Bạn đã
nghe nói về nó. Nó đã không xảy ra cho bạn - nó được
vay mượn, bẩn, xấu. Siddhanta mới trong trắng.
Học thuyết là mãi dâm. Nó đã đi qua nhiều tâm
trí, qua tay nhiều người. Nó giống như tiền bẩn; nó cứ
thay đổi chủ nhân. Siddhanta là cái gì đó tuyệt đối
tươi tắn. Nó chưa bao giờ xảy ra trước đây, nó sẽ
không bao giờ xảy ra lần nữa. Nó đã xảy ra cho bạn.
Siddhanta mang tính cá nhân sâu sắc, nó là tầm nhìn
cá nhân về thực tại.
Điều đã xảy ra cho Phật là siddhanta - điều các
Phật tử đề xuất là học thuyết. Điều đã xảy ra cho
Christ là siddhanta - điều người Ki tô giáo nói tới là
học thuyết. Điều đã xảy ra cho Krishna là siddhanta -
điều người Hindu cứ ba hoa là học thuyết. Điều tôi
đang nói với bạn là siddhanta - nếu bạn đi và lặp lại
điều đó, nó sẽ là học thuyết. Đó là lí do tại sao tôi nói
đó là việc chọn từ rất không may để đặt vào mồm
Phật.
Học thuyết của ta là để suy nghĩ... Không, để nó
là: Siddhanta của ta là để suy nghĩ, việc nhận ra của ta
là để suy nghĩ, hiểu biết riêng của ta là để suy nghĩ...
Ông ấy không đề nghị một lí thuyết, ông ấy đơn giản
diễn đạt một kinh nghiệm.
Thêm vài điều nữa trước khi chúng ta đi vào trong
lời kinh này.
Siddhanta theo chính bản chất của nó mang tính
ngược đời - nó phải như thế, bởi vì cuộc sống mang
tính ngược đời. Nếu bạn thực sự đã kinh nghiệm điều
đó, thế thì bất kì điều gì bạn thấy và nói cũng đều sẽ
mang tính ngược đời. Cuộc sống bao gồm những mâu
thuẫn. Chúng ta gọi chúng là mâu thuẫn; cuộc sống
không gọi chúng là mâu thuẫn. Chúng là những phần
bù. Ngày và đêm nhảy múa cùng nhau, yêu và ghét đi
tay trong tay. Chúng ta gọi chúng là mâu thuẫn - trong
cuộc sống chúng không phải vậy. Cuộc sống là lớn
lao và bao la, mênh mông. Nó bao hàm tất cả mọi
mâu thuẫn vào trong nó; chúng là các phần bù.
Khi một người đã nhận ra, bất kì điều gì người đó
nói cũng đều sẽ có hương vị của ngược đời. Đó là lí
do tại sao tất cả các khẳng định tôn giáo vĩ đại đều
mang tính ngược đời. Chúng có thể ở trong Vedas,
trong Upanishads, trong Koran, trong Kinh Thánh,
trong Đại Đức Kinh. Bất kì nơi đâu, bất kì khi nào
bạn tìm thấy chân lí, bạn sẽ thấy nó mang tính ngược
đời - bởi vì chân lí phải mang tính toàn bộ; tính toàn
bộ là tính ngược đời.
Học thuyết không bao giờ mang tính ngược đời,
học thuyết cực kì nhất quán - bởi vì học thuyết không
lo nghĩ về thực tại. Học thuyết lo nghĩ về việc nhất
quán. Nó không biết tới thực tại. Nó là trò chơi tâm
trí, và tâm trí lại rất, rất logic. Và tâm trí nói đừng cho
phép mâu thuẫn nào trong nó. Tâm trí nói nếu bạn nói
về ánh sáng thế thì đừng nói về bóng tối bởi vì điều
đó sẽ không nhất quán. Quên bóng tối đi. Tâm trí cố
gắng chứng minh rằng cuộc sống là không mâu thuẫn,
bởi vì đó là chọn lựa của tâm trí.
Tâm trí rất sợ mâu thuẫn, trở nên rất lung lay khi
nó bắt gặp mâu thuẫn. Nó khăng khăng vào hình mẫu
riêng của nó. Tâm trí mang tính logic, cuộc sống thì
không. Cho nên nếu bạn tìm thấy cái gì đó rất logic, hãy đề phòng - cái gì đó phải sai trong nó. Nó phải
không là một phần của cuộc sống, nó phải là nhân tạo.
Mọi thứ do thượng đế làm đều mâu thuẫn. Đó là lí
do tại sao mọi người cứ tranh cãi về thượng đế. Tại
sao, nếu ông ấy yêu con người nhiều thế, thì tại sao
ông ấy lại tạo ra cái chết? Tâm trí thấy rất khó chấp
nhận ý tưởng rằng Thượng đế đã tạo ra cuộc sống
cũng tạo ra cái chết. Nếu đấy là tuỳ ở bạn, nếu như
bạn là người làm ra thế giới này, nếu tâm trí mà là
đấng sáng tạo, thế thì bạn sẽ chẳng bao giờ làm điều
đó.
Nhưng nghĩ về cuộc sống mà không tồn tại cái
chết xem. Nó sẽ cực kì chán. Nó sẽ tẻ ngắt. Cứ nghĩ
mà xem - nếu cái chết mà không thể được, thế thì bạn
sẽ liên tục trong địa ngục. Nếu tâm trí đã tạo ra thế
giới này, thế thì chắc sẽ chỉ có yêu, không có ghét.
Những nghĩ về một thế giới chỉ yêu tồn tại. Thế thì nó
sẽ quá dịu ngọt - dịu ngọt tới độ phát buồn nôn. Nó sẽ
mất tất cả các hương vị, nó sẽ mất tất cả mọi mầu sắc,
nó sẽ tẻ nhạt. Yêu là đẹp bởi vì có khả năng của ghét.
Nếu tâm trí mà tạo ra thế giới này hay Aristotle
được yêu cầu tạo ra thế giới này, thế thì sẽ chỉ có
ngày, không có đêm; chỉ công việc, không chơi đùa.
Thế thì nghĩ điều gì sẽ xảy ra. Thượng đế trong từ bi
của mình không bao giờ nhận lời khuyên nào từ
Aristotle. Và có thể đó là lí do để ngài đã tạo ra con
người vào phút chót. Trước hết ngài tạo ra những thứ
khác - bằng không thì con người sẽ bắt đầu cho lời
khuyên.
Đó đã từng là vấn đề - tại sao ngài đã tạo ra con
người vào phút chót? Trước hết ngài tạo ra cây cối và
trái đất và bầu trời và các vì sao và con vật và chim
chóc và cái toàn thể - thế rồi ngài chờ đợi và chờ đợi.
Thế rồi ngài tạo ra con người. Và ban đầu ngài tạo ra
đàn ông, rồi ngài tạo ra đàn bà. Bởi vì đàn ông, chỉ vì
lễ phép, có thể đã giữ yên tĩnh, nhưng đàn bà không
thể giữ yên tĩnh được. Ngài phải đã sợ. Không tạo ra
con người vội bằng không thì con người sẽ bắt đầu
cho lời khuyên - làm cái này, không làm cái kia. Và
với đàn bà ngài đợi tới cuối cùng. Và vì ngài đã tạo ra
đàn bà nên ngài đã biến mất - bằng không thì đàn bà
sẽ chì chiết ngài đến chết.
Một nhà công nghiệp lớn đã nói với tôi rằng với
nhà máy mới của ông ta thì mọi thứ đều đã được lập
kế hoạch, đã được thoả thuận. Các kĩ sư, kiến trúc sư,
nhà lập kế hoạch, họ đã làm mọi thứ và mọi thứ đều
đã được thoả thuận. Nhưng thế rồi tôi hỏi, 'Sao ông cứ
lặp đi lặp lại mãi rằng mọi thứ đã được thoả thuận?
Có điều gì đó đi sai chẳng?'
Ông ta nói, 'Thế rồi tôi về nhà và nói về điều đó
cho vợ tôi - và bị kết thúc. Bây giờ cô ấy gợi ý những
điều sẽ làm thay đổi toàn thể ý tưởng. Và nếu tôi
không làm điều đó bây giờ, thế thì nó sẽ là vấn đề
thường xuyên cho cả đời tôi. Cô ấy sẽ chì chiết tôi
đến chết.'
Nếu như Aristotle mà được yêu cầu tạo ra thế
giới, hay giúp cho thế giới được tạo ra, thế thì thế giới
này đã tuyệt đối nhất quán rồi - tuyệt đối nhất quán.
Nhưng thế thì nó đã là một thế giới của khổ và địa ngục. Cuộc sống là đẹp bởi vì có mâu thuẫn. Việc là
đẹp bởi vì có chơi. Việc nghĩa là bạn đang làm cái gì
đó để được cái gì đó từ nó. Chơi nghĩa là bạn đơn
giản làm nó vì riêng nó mà thôi.
Không, Aristotle sẽ không cho phép điều đó.
Plato sẽ không cho phép điều đó. Trong cuốn
Republic (Cộng hoà) của mình, Plato nói sẽ không có
khả năng nào cho bất kì nhà thơ nào; chúng ta sẽ
không cho phép họ. Họ là những người nguy hiểm, họ
đem mâu thuẫn vào thế giới - nhà thơ, họ là những tay
mơ. Và họ nói theo cách mơ hồ, mông lung. Bạn
không thể làm được gì từ điều đó - điều họ nói, điều
họ ngụ ý. Trong thế giới của Plato, trong cuốn
Republic của ông ấy, nhà logic, triết gia sẽ là vua; họ
sẽ quyết định.
Điều đó chưa xảy ra, chỉ vài điều như thế đã xảy
ra. Chẳng hạn, nước Nga Xô viết mang tính Plato
nhiều hơn, Trung Quốc mang tính Plato nhiều hơn.
Hai nước này được cai trị bởi logic. Bạn không thể
tìm thấy nhiều người khổ hơn ở bất kì nơi nào khác.
Được nuôi nấng tốt, có chỗ ở tốt - bởi vì logic là kẻ
thu xếp vĩ đại về mọi thứ; mọi thứ đều được thu xếp -
chỉ cuộc sống là thiếu. Bằng cách nào đó con người
không hạnh phúc, bởi vì con người không thể sống
bằng mỗi bánh mì. Bạn cần cái đối lập nữa. Cả ngày
bạn làm việc, đến đêm bạn nghỉ ngơi. Bạn cần bóng
tối nữa.
Học thuyết là phát biểu logic về một lí thuyết, và
logic lại giống như người không kiên định - nó cứ
thay đổi mầu sắc của nó, nó không đáng tin cậy. Nó
không đáng tin cậy bởi vì nó không dựa vào thực tại.
Nó không chịu trách nhiệm bởi vì nó không dựa vào
thực tại. Nó là không thực bởi vì nó là chân lí bộ
phận. Nhớ lấy, chân lí bộ phận không thật hơn phi
chân lí toàn bộ. Bởi vì chân lí bộ phận cho cảm giác
của việc là đúng. Nó chỉ là nửa đúng thôi và chẳng cái
gì có thể nửa đúng được. Hoặc nó là đúng hoặc nó là
không đúng. Nửa chân lí là tuyệt đối không đúng,
nhưng logic lại cho nó cảm giác rằng nó là đúng; ít
nhất theo cách hướng tới chân lí. Nó thậm chí không
trên con đường hướng tới chân lí.
Và nhà logic cứ làm trò nhào lộn, họ cứ thay đổi
quan điểm, bởi vì thực tế họ đã không đi tới cái gì
thực sự là thực cả, chỉ tâm trí của họ chơi trò chơi
thôi. Hôm nay trò chơi này, hôm khác trò chơi khác;
họ cứ thay đổi hoài. Họ vẫn còn nhất quán - nhất quán
với chuỗi suy nghĩ riêng của họ, nhưng bất nhất với
thực tại.
Tôi đã nghe:
'Khó mà giải thích được tiến trình logic sẽ làm gì
cho tư duy con người, nhưng để bố minh hoạ cho,'
Mulla Nasruddin nói với con mình. 'Giả sử hai người
bước ra từ ống khói. Một người sạch, người kia bẩn.
Người nào sẽ phải tắm?'
'Người bẩn, đương nhiên rồi,' đứa con trả lời.
'Nhớ lấy,' Nasruddin mắng, 'rằng người sạch nhìn
người bẩn và thấy anh ta bẩn làm sao, và ngược lại.'
'Bây giờ con hiểu điều đó rồi, bố ạ,' đứa trẻ trả lời.
'Người sạch, thấy bạn đồng hành bẩn của mình, kết luận là mình cũng bẩn. Thế là anh ta đi tắm. Bây giờ
con đúng chứ?'
'Sai toét,' Nasruddin lãnh đạm nói. 'Logic dạy
chúng ta điều này - làm sao hai người cùng ra khỏi
ống khói mà một người sạch một người bẩn được?'
Một khi bạn bắt đầu chơi trò chơi của logic thì
không có kết thúc cho nó, và bạn sẽ không bao giờ
thắng cả. Nhà logic bao giờ cũng thắng. Nhà logic bao
giờ cũng thắng vì bạn bao giờ cũng có thể tìm ra cách.
Và bạn chẳng có gì để so sánh, bạn không có thực tại.
Đó là lí do tại sao nhiếu triết lí thế tồn tại, và tất cả
các triết lí đều đối lập nhau; và không một kết luận
nào đã được đạt tới.
Trong nhiều thế kỉ, gần năm nghìn năm, con
người đã tranh cãi; con người đã không làm nhiều gì
mấy mà chỉ tranh cãi. Hàng nghìn triết lí đã được tạo
ra, logic rất nét và rõ ràng. Nếu bạn đọc triết gia này
bạn sẽ bị thuyết phục. Nếu bạn đọc người đối lập ông
ấy bạn sẽ bị thuyết phục. Đọc người thứ ba, bạn sẽ bị
thuyết phục - và bạn sẽ lâm vào đống lộn xộn. Dần
dần bạn sẽ bị thuyết phục bởi tất cả và bạn sẽ điên,
bởi vì bạn sẽ không biết cái gì là đúng. Họ tất cả đều
sai bởi vì cách tiếp cận logic là sai.
Có hai cách để biết tới thực tại. Một là: nhắm mắt
lại và nghĩ về nó. Tôi gọi nó là 'chủ nghĩa về'. Nó bao
giờ cũng về và về, nó chưa bao giờ đi trực tiếp cả.
Bạn cứ khua quanh bụi cây. Bạn chẳng bao giờ khua
đích xác vào bụi cây - chỉ loanh quanh. Bạn chưa bao
giờ thấm nhuần vào trung tâm của vấn đề, bạn đơn
giản đi vòng tròn xung quanh. Nó là trò vòng quay
ngựa gỗ. Bạn có thể thích thú nó - các nhà logic thích
thú lắm. Đi tới với một lí thuyết mới sao hay thế, cái
giải thích được mọi thứ - nhưng nó chỉ ở trong tâm trí.
Bạn nhắm mắt lại, ngồi trên ghế và nghĩ ngợi. Điều
này sẽ không cho bạn thực tại đâu.
Thực tại đã có đó rồi, bạn phải đừng nghĩ về nó.
Bạn phải cho phép nó. Bạn phải vứt bỏ mọi suy nghĩ
để cho bạn có thể thấy cái là chân lí, để cho bạn có thể
thấy cái đang đó. Nếu bạn cứ suy nghĩ thì bạn không
thể thấy được cái đang đó. Điều đó là không thể được.
Ý nghĩ của bạn sẽ tạo ra làn khói quanh bạn. Tâm
thức của bạn sẽ bị bao phủ bởi làn khói này, mắt bạn
sẽ không có sáng tỏ, bạn sẽ không có nhạy cảm. Và
bạn sẽ liên tục tìm và kiếm các ý tưởng riêng của
mình, áp đặt chúng, phóng chiếu chúng lên thực tại.
Bạn sẽ không cho thực tại cơ hội để hiển lộ bản thân
nó.
Học thuyết được đạt tới qua suy nghĩ logic. Học
thuyết tới qua quá trình của 'chủ nghĩa về'. Siddhanta
được đạt tới không bởi việc nhắm mắt, không bởi việc
suy nghĩ quá nhiều, mà bởi việc vứt bỏ suy nghĩ, toàn
bộ; bằng việc mở mắt ra không định kiến nào, không
quan niệm tiên thiên nào, và nhìn thẳng vào thực tại,
đối diện thẳng với thực tại. Nó đã có đó rồi, nó chỉ
cần bạn ở đó thôi.
Và khi bạn tuyệt đối không có ý nghĩ nào, tâm trí
của bạn tĩnh lặng, kí ức của bạn tĩnh lặng, suy nghĩ
của bạn đã hoàn toàn dừng hiện hữu, thế thì thực tại
bùng phát, bùng nổ. Thế thì bạn trở thành người nhận.
Thế thì siddhanta nảy sinh. 

Siddhanta của ta là để suy nghĩ ý nghĩ không thể
nghĩ được...
Điều đầu tiên, Phật nói, là suy nghĩ ý nghĩ không
thể nghĩ được. Đó là một mâu thuẫn, một nghịch lí.
Bây giờ, không nhà logic nào đã bao giờ thốt ra điều
vô nghĩa thế. Chính chỗ đó bắt đầu vô nghĩa. Đó là lí
do tại sao các nhà logic cứ nói rằng Phật, Jesus, Bồ đề
đạt ma, Lão Tử, Zarathustra - những người này tất cả
đều vô nghĩa. Tuyên bố của họ là vô nghĩa - bởi vì họ
nói điều này và trong hơi kế tiếp họ mâu thuẫn lại.
Bây giờ nhìn vào câu này: Siddhanta của ta là suy
nghĩ ý nghĩ không thể nghĩ được...
Bây giờ ngay trong câu nhỏ này đã tuyệt đối mâu
thuẫn - suy nghĩ về cái không thể nghĩ được. Làm sao
bạn có thể nghĩ về cái không thể nghĩ được? Nếu nó
thực sự là không thể nghĩ được thì bạn không thể
nghĩ. Nếu bạn có thể nghĩ thế thì làm sao nó có thể lại
là không thể nghĩ được? Đơn giản, phi logic - nhưng
điều Phật ngụ ý phải được hiểu. Đừng vội vàng; đó là
lí do tại sao tôi nói đi kiên nhẫn vào.
Khi ông ấy ngụ ý... khi ông ấy muốn nói điều gì
đó, ông ấy ngụ ý điều đó. Ông ấy đang nói có cách để
biết mọi thứ mà không suy nghĩ. Có cách để biết mọi
thứ mà không có tâm trí. Có cách để nhìn thẳng vào
thực tại, ngay lập tức, không dùng phương tiện ý nghĩ.
Bạn có thể được nối với thực tại mà không có tác
nhân tư duy nào - đó là điều ông ấy đang nói. Ông ấy
đang nói rằng tâm trí có thể hoàn toàn dừng hoạt động
của nó lại, hoàn toàn có thể vứt bỏ hoạt động của nó
vậy mà vẫn hiện hữu - tĩnh lặng, một bình chứa - và
nhìn vào thực tại. Nhưng bạn sẽ phải kinh nghiệm nó,
chỉ thế thì bạn mới có khả năng hiểu được.
Đôi khi hãy thử nhìn. Ngồi bên cạnh bụi hồng, chỉ
nhìn vào hoa hồng; không nghĩ, thậm chí không cho
nó tên. Thậm chí không phân loại. Thậm chí không
nói rằng đây là hoa hồng - bởi vì hoa hồng là hoa
hồng là hoa hồng; dù bạn có gọi nó là hoa hồng hay
cái gì đó khác cũng không tạo ra khác biệt gì. Cho nên
đừng dán nhãn nó, đừng cho nó cái tên, đừng đem
ngôn ngữ vào. Đừng đem bất kì biểu tượng nào vào,
bởi vì biểu tượng là phương pháp làm giả thực tại.
Nếu bạn nói đây là hoa hồng, bạn đã bỏ lỡ rồi.
Thế thì bạn đã đem vào kinh nghiệm quá khứ nào đó
về hoa hồng khác, cái không có đây. Bây giờ mắt bạn
đầy hoa hồng - từng luống hoa hồng. Trong cuộc đời
mình bạn phải đã bắt gặp nhiều kiểu hoa hồng - trắng
và đen và đỏ; tất cả những hoa bồng đó đang có đó
trôi nổi trong mắt bạn. Bây giờ bạn bị chen chúc bởi
kí ức quá khứ của mình. Và thế rồi, bên ngoài tất cả
những kí ức đó là hoa hồng này, cái là thực. Bây giờ
đám đông của cái không thực lại quá nhiều đến mức
bạn không có khả năng đạt tới và chạm vào cái thực.
Khi Phật nói buông bỏ suy nghĩ ông ấy ngụ ý,
đừng đem quá khứ vào. Phỏng có ích gì mà mang nó
vào? Hoa hồng này ở đây, bạn ở đây. Cứ để cho nó là
gặp gỡ sâu sắc, giao cảm, mối kết nối. Tan chảy một
chút với hoa hồng này, để cho hoa hồng này tan chảy
một chút vào trong bạn. Hoa hồng sẵn sàng chia sẻ
hương thơm của nó, bạn cũng chia sẻ bản thể mình,
tâm thức mình cùng nó. 

Có cái bắt tay với thực tại đi. Có chút ít nhảy múa
với hoa hồng này... nhảy múa trong gió. Bạn cũng
chuyển động, hiện hữu, nhìn, cảm, nhắm mắt lại,
ngửi, sờ, uống. Hiện tượng đẹp này đang đối diện với
bạn... đừng đi đây đó - ở cùng với nó. Không còn bên
phải và bên trái, chỉ đi thẳng như mũi tên hướng tới
đích. Nếu bạn đem lời, đem ngôn ngữ vào, bạn đem
xã hội vào, bạn đem quá khứ vào, bạn đem người
khác vào.
Tennyson đã nói điều gì đó về hoa hồng. Shelley
đã nói điều gì đó về hoa hồng. Shakespeare đã nói
điều gì đó về hoa hồng, hay Kalidas. Một khi bạn
mang ngôn ngữ vào, Shakespeare và Kalidas và
Bhavabhuti và Shelley và Keats - họ tất cả đều đang
đứng đó. Bây giờ bạn quá đầy các ý tưởng của riêng
mình, bây giờ bạn đang trong đám đông, mất hút. Bạn
sẽ không có khả năng thấy chân lí đơn giản.
Chân lí đơn giản thế. Vâng, nó cũng giống như
hoa hồng ngay trước bạn. Nó hoàn toàn có đó. Sao
phải đi đâu đó khác? Sao không đi vào trong thực tại
này? Sao phải đi và tìm quá khứ và tương lai? Đừng
nói hoa hồng này đẹp, bởi vì hoa hồng này không cần
lời khen từ bạn. Cứ để nó là một cảm giác. Hoa hồng
này không hiểu ngôn ngữ loài người, cho nên sao lại
bối rối về hoa hồng này? Sao lại nói nó là đẹp? Bởi vì
hoa hồng này chẳng biết gì về cái đẹp và chẳng biết gì
về cái xấu.
Với hoa hồng này, cuộc sống không bị phân chia
và chia chẻ; hoa hồng này không bị tinh thần phân
liệt. Hoa hồng này đơn giản có đó, không có ý tưởng
nào về đẹp là gì và xấu là gì. Đừng gọi nó là đẹp. Khi
bạn gọi nó là đẹp thì bạn đã mang vào một khái niệm.
Tâm trí đã bắt đầu hoạt động. Bây giờ, bạn có thể có
chút ít kinh nghiệm về hoa hồng, nhưng nó sẽ không
đúng - tâm trí bạn sẽ là việc bóp méo. Bạn sẽ nghĩ về
hoa hồng này như đại diện cho tất cả các hoa hồng
khác.
Plato nói rằng mọi thứ thực đều chỉ là đại diện
cho cái gì đó lí tưởng. Plato nói rằng với thượng đế
tồn tại ý tưởng về hoa hồng - cái đó là thực. Ý tưởng
về hoa hồng là thực và hoa hồng này chỉ là sự phản
chiếu của ý tưởng đó. Điều này là vô nghĩa, điều này
thực sự ngớ ngẩn.
Hoa hồng này tồn tại ở đây bây giờ cùng thượng
đế. Không có ý tưởng nào trong tâm trí của thượng
đế. Thượng đế không có tâm trí như vậy. Thượng đế
hiện hữu mà không có tâm trí. Thượng đế không phải
là người, và thượng đế đã không được huấn luyện bởi
bất kì cha mẹ nào, và thượng đế đã không được giáo
dục bởi bất kì đại học nào. Thượng đế đã không bị
ước định. Không có ý tưởng trong tâm trí của thượng
đế - và hoa hồng này là hoa hồng thực. Thượng đế tồn
tại cùng với hoa hồng này và hoa hồng này tồn tại
cùng thượng đế, và thượng đế không có rào chắn với
hoa hồng này, không rào chắn tâm trí.
Nhưng với Plato, thực tại là không thực còn ý
tưởng mới là thực. Với Phật nó chính là điều đối lập
lại: thực tại là thực còn ý tưởng là không thực. Nếu
bạn theo Plato, bạn sẽ trở thành triết gia. Nếu bạn theo
Phật bạn sẽ trở thành người tôn giáo. Tôn giáo không
phải là triết lí, tôn giáo là kinh nghiệm. 

Cho nên thử điều đó đi. Đôi khi cho phép vô trí
của bạn hoạt động. Đôi khi đẩy mọi suy nghĩ của bạn
sang bên. Đôi khi để thực tại thấm vào bạn. Đôi khi
để có phúc lành từ thực tại. Cho phép nó chuyển
thông điệp của nó cho bạn. Nhưng chúng ta cứ sống
trong lời, và chúng ta chú ý quá nhiều tới lời.
Tôi có một thầy giáo ở đại học và chúng tôi hay đi
dạo cùng nhau. Sau vài ngày tôi nói, 'Em sẽ không tới
nữa. Tốt hơn cả là em nên tự đi một mình.'
Thầy nói, 'Sao thế?' Bởi vì thầy quá bị ám ảnh với
các cái tên. Mọi cây thầy thấy thì thầy phải nói nó
thuộc vào loài gì. Mọi hoa - nó chứa gì, lịch sử của
nó. Nếu thầy nhìn hoa hồng, thầy sẽ không nhìn vào
hoa hồng đâu, thầy sẽ nhìn vào toàn thể lịch sử của
hoa hồng: nó tới từ Iran như thế nào, vào thế kỉ nào, ai
đem nó tới Ấn Độ - nó không phải là hoa Ấn Độ.
Bây giờ, thầy sẽ không bao giờ nhìn vào hoa cả,
và tôi cứ phải kéo thầy lại mãi - 'Hoa này là đủ rồi.
Vấn đề là gì? Hoa không có lịch sử, chỉ con người
mới có. Hoa này không bận tâm liệu nó bắt nguồn từ
Iran hay từ Ấn Độ. Hoa này không có ý tưởng về quá
khứ nào, nó sống ngay ở đây bây giờ. Nó không là
Hindu không là Mô ha mét giáo, không là Ấn Độ
không là Iran. Nó đơn giản có đó. Nó thậm chí không
phải là hoa hồng!'
Nhưng điều đó lại là khó cho thầy. Bất kì con
chim nào thầy trông thấy thầy sẽ nói, 'Đợi chút, để tôi
xem. Đây là loài chim gì? Nó từ đâu tới? Nó có tới từ
Siberia không? Hay từ Trung Á? Hay nó là con chim
Himalaya?' Sau vài ngày tôi nói, 'Em xin lỗi thầy.
Thầy đi một mình đi. Bởi vì em không quan tâm việc
con chim này đã từ đâu tới. Con chim này ở đây, nó là
đủ. Em không quan tâm tới việc giải thích khoa học,
lịch sử.'
Giải thích, với vài người, gần như là bệnh. Qua
việc giải thích của mình họ cố gắng giải thích cho mọi
điều. Họ bị ám ảnh với lời giải thích. Họ cho rằng nếu
họ có thể gọi tên một vật, đánh nhãn cho một vật, thì
họ biết nó. Họ rất không thoải mái chừng nào họ còn
chưa thể đánh nhãn cho một vật, biết một vật qua cái
tên, phân loại nó, phân ngăn cho nó - chừng nào họ
còn chưa làm điều đó thì họ rất không thoải mái.
Dường như là một điều nào đó đang làm chướng mắt
họ - sao mày ở đấy mà lại không có phân loại nào?
Một khi họ đã phân loại được nó, phân ngăn được nó,
dán nhãn lên nó, thế thì họ mới thoải mái. Họ đã biết
nó. Họ được kết thúc với vật này.
Tôi đã nghe:
Sau thế chiến thứ hai một lính Đức hãm hiếp một
người đàn bà Pháp và bảo cô ấy, 'Trong chín tháng cô
sẽ có đứa con - cô có thể gọi nó là Adolf Hitler.' Với
điều đó người đàn bà Pháp đáp lại, 'Trong chín ngày
ông sẽ bị phát ban - ông có thể gọi nó là bệnh sởi.'
Nhưng bằng việc gọi tên, nó chẳng thay đổi gì cả.
Điều bạn gọi là tuyệt đối không liên quan. Bất kì cái
gì đang đấy, thì vẫn đang đấy! Bằng việc bạn cho nó
cái tên nó chẳng bao giờ thay đổi cả. Nhưng với bạn
thì nó thay đổi. Chỉ bởi việc cho cái tên, thực tại trở
thành khác với bạn. 

Chuyện xảy ra:
Một con sư tử và một con lừa thoả thuận cùng đi
săn. Ngay lúc đó chúng đi tới một cái hang nơi ở của
nhiều con dê hoang. Sư tử chiếm vị trí cửa hang còn
lừa, đi vào bên trong, đá và kêu be be rầm rĩ và làm
cực kì om sòm để doạ lũ dê chui ra. Khi sư tử đã bắt
được nhiều dê, lừa chui ra và hỏi sư tử liệu nó có phải
đã làm việc cao quí và lùa đàn dê ra đúng không.
'Đúng thật đấy,' sư tử nói. 'Và tôi đảm bảo với
ông, ông chắc đã làm cả tôi cũng hoảng nữa nếu như
tôi mà không biết ông là lừa.'
Điều đó có thể tạo ra khác biệt cho bạn bằng việc
gọi các tên, nhưng nó không tạo khác biệt gì cho thực
tại. Nó có thể tạo ra khác biệt cho bạn bởi vì bạn sống
bị bao quanh bởi ngôn ngữ của mình, khái niệm, việc
nói ra lời. Bạn lập tức cứ dịch mọi thứ thành ngôn
ngữ.
Bỏ ngôn ngữ trong bạn - đó là điều Phật ngụ ý.
Tự mình khử bỏ tâm trí, tự mình tháo dỡ - đó là điều
Phật ngụ ý. Bằng không thì bạn sẽ không bao giờ biết
cái gì là đúng.
Siddhanta của ta là để suy nghĩ ý nghĩ không thể
nghĩ được.
Bạn không thể nghĩ được về thực tại. Không có
cách nào nghĩ về nó cả. Mọi suy nghĩ đều được vay
mượn. Không suy nghĩ nào đã bao giờ là nguyên bản.
Mọi suy nghĩ đều mang tính lặp lại, mọi suy nghĩ đều
mang tính máy móc. Bạn có thể cứ nhai đi nhai lại
cùng một điều lặp đi lặp lại mãi, nhưng chẳng cái gì
mới đã bao giờ nảy sinh ra từ việc suy nghĩ. Suy nghĩ
là cũ rích, mục nát. Nó là đồ đồng nát.
Bạn không thể nghĩ được về thực tại bởi vì mọi
khoảnh khắc đều nguyên bản. Mọi khoảnh khắc nó
đều mới tới mức nó chưa bao giờ giống thế trước đó.
Nó tuyệt đối tươi tắn tới mức bạn sẽ phải biết nó.
Không có cách khác để biết nó hơn là việc biết nó.
Cách duy nhất để biết yêu là yêu. Cách duy nhất
để biết bơi là bơi. Cách duy nhất để biết thực tại là
thành thực. Tâm trí làm cho bạn thành không thực.
Tâm trí làm cho bạn thành quá nhiều như ý nghĩ -
chất liệu tâm trí, lời, khái niệm, lí thuyết, triết lí, học
thuyết, kinh sách, chủ nghĩa. Tâm trí không cho bạn
cái thực, nó cho bạn chỉ những phản chiếu - và những
phản chiếu đó cũng bị bóp méo.
Phật nói đạt tới sáng tỏ. Nhìn, hiện hữu đi. Và thế
rồi bạn sẽ có khả năng nghĩ ý nghĩ mà không thể nghĩ
được. Bạn sẽ có khả năng có cuộc gặp gỡ với thực tại,
cuộc hẹn với thượng đế.
Ý nghĩ không thể nghĩ được - chỉ cái đó mới là
suy nghĩ xứng đáng. Tất cả mọi cái khác đều chỉ phí
hoài năng lượng sống.
để thực hành hành vi không làm được
Đây là điều Lão Tử gọi là vô vi. Hành động trong
bất hành - lại một ngược đời khác. Nhưng siddhanta
phải mang tính ngược đời thôi.

để thực hành hành vi không làm được
Thông thường chúng ta chỉ biết tới hành vi chúng
ta có thể làm. Chúng ta bị bao quanh bởi việc làm của
mình. Chúng ta không biết rằng có những điều ở bên
ngoài việc làm của mình và vẫn đang xảy ra. Bạn
được sinh ra. Bạn đã không trao việc sinh cho bản
thân mình, nó đơn giản đã xảy ra, và nó không thể xảy
ra theo cách tốt hơn. Bạn đang thở - nhưng bạn không
thở như một hành động; nó đang xảy ra. Bạn có thể cố
gắng ngừng nó và thế rồi bạn sẽ thấy bạn không thể
ngừng được nó. Cho dù vài giây thôi bạn cũng không
thể ngừng nó được; bạn sẽ phải thảnh thơi, bạn sẽ
phải cho phép nó. Việc thở là cuộc sống. Nó đang xảy
ra.
Tất cả mọi điều bản chất đều đang xảy ra, tất cả
những cái không bản chất, không mang tính tồn tại,
đều để được làm. Tất nhiên cửa hàng của bạn sẽ
không hoạt động nếu bạn không quản lí nó. Tất nhiên
bạn sẽ không trở thành thủ tướng hay tổng thống nếu
bạn không tranh đấu vì nó. Không ai đã bao giờ trở
thành thủ tướng mà không tranh đấu vì nó; không bạo
hành bạn không thể trở thành thủ tướng được. Bạn sẽ
phải cạnh tranh - cạnh tranh chẹn họng. Bạn sẽ phải
tàn bạo. Bạn sẽ phải hung hăng. Bạn sẽ phải làm điều
đó, chỉ thế thì nó mới có thể xảy ra. Tất cả mọi điều
phụ thuộc vào việc làm của bạn đều ngẫu nhiên và tất
cả những điều xảy ra không có bạn đều là bản chất.
Toàn thể mối quan tâm của tôn giáo là điều bản
chất, thế giới của điều bản chất. Bạn có đó; không
phải là bạn đã làm cho bản thân mình, bạn đơn giản
có đó chẳng vì lí do gì. Bạn đã không kiếm được nó,
nó không là gì của việc bạn làm cả. Nó là phúc lành,
nó là món quà. Bạn có đó: sự tồn tại đã muốn bạn có
đó, nó không phải là ý chí riêng của bạn.
Quan sát điều đó, hiểu điều đó đi. Khi một điều
như cuộc sống - quí giá thế - có thể xảy ra mà không
có việc làm của bạn, thế thì sao phải bận tâm? Thế thì
cho phép ngày một nhiều chiều của việc xảy ra. Vứt
ngày một nhiều việc làm đi. Làm chỉ cái dường như
cần thật. Đừng bị bận tâm quá nhiều với việc làm.
Đó là nghĩa của một sannyasin. Chủ hộ,
grihastha, là người đơn giản bị sở hữu bởi chiều làm
việc. Người đó nghĩ rằng nếu người đó không làm,
chẳng cái gì sẽ xảy ra. Người đó là người làm.
Sannyasin là người biết rằng dù mình có định làm
điều đó hay không, tất cả mọi điều là bản chất đều sẽ
tiếp tục xảy ra. Điều không bản chất có thể biến mất,
nhưng điều đó là không liên quan - nhưng điều bản
chất sẽ tiếp tục.
Tình yêu là bản chất; tiền bạc là không bản chất.
Sống động là bản chất; sống trong ngôi nhà lớn hay
không là không bản chất. Được thoả mãn, được mãn
nguyện là bản chất; xô đẩy, tham vọng, bao giờ cũng
cố đạt tới đâu đó, cố biểu diễn, cố chứng minh rằng
bạn là ai đó, là không bản chất. Mọi người sống chỉ
theo hai chiều hướng: chiều hướng của người làm và
chiều hướng của không người làm.
Phật nói:
để thực hành hành vi không làm được... 

Ông ấy nói thực hành điều đó. Ông ấy nói 'thực
hành', bởi vì không có cách khác để nói điều đó. Từ
'thực hành' có vẻ giống như làm, đó là nghịch lí. Ông
ấy nói, 'Làm điều không thể được làm.' Làm điều chỉ
xảy ra. Cho phép, ông ấy ngụ ý - cho phép cái xảy ra,
cho phép thượng đế có đó. Cho phép cuộc sống có đó,
cho phép tình yêu có đó. Cho phép sự tồn tại xuyên
thấu vào bạn, thấm vào bạn. Đừng tiếp tục là người
làm.
Ông ấy không ngụ ý không làm gì cả. Ông ấy nói
đừng nhấn mạnh nó. Có thể điều đó là cần thiết. Bạn
phải lau sạch căn phòng của mình. Không có việc bạn
làm điều đó, nó sẽ không xảy ra. Cho nên làm nó! -
nhưng không bị ám ảnh bởi nó. Nó chỉ là phần nhỏ.
Phần lớn của cuộc sống, phần trung tâm của cuộc
sống, nên giống như việc xảy ra. Như sét loé lên trong
đám mây, thượng đế xảy ra cũng vậy. Như dòng sông
cứ xô về đại dương và tan biến, tình yêu cũng xảy ra
như vậy. Thiền cũng xảy ra như vậy - nó chẳng liên
quan gì tới việc làm của bạn. Việc làm của bạn không
phải là bản chất cho nó xảy ra. Nó có thể xảy ra khi
bạn đang ngồi và không làm gì cả. Thực tế nó xảy ra
chỉ thế thôi, khi bạn không làm gì cả và bạn ngồi. Tôi
nhất định cho bạn làm nhiều điều như các phương
pháp, nhưng nhấn mạnh chỉ là điều này - rằng bạn
phải bị mệt nhoài, bằng không bạn sẽ không ngồi đâu.
Cứ dường như là bạn bảo đứa trẻ, 'Ngồi im trong
góc phòng,' và nó không thể ngồi được; nó bồn chồn
thế, nó đầy năng lượng thế. Nó muốn làm điều này
điều nọ và chạy quanh. Cách tốt nhất là bảo nó đi bẩy
vòng - chạy quanh nhà bẩy lần, quanh khối nhà - thế
rồi quay lại. Thế thì không cần bạn bảo, nó sẽ ngồi im
lặng.
Đó là toàn thể vấn đề của nhấn mạnh của tôi vào
việc dành thời gian thực hiện thiền Động, thiền
Kundalini, thiền Nataraj - để cho trong vài khoảnh
khắc bạn có thể cho phép việc xảy ra. Bạn sẽ không
đạt tới thiền bằng việc làm đâu, bạn sẽ đạt tới thiền
chỉ bằng không làm. Và trong không làm điều thực sẽ
xảy ra.
Điều thực không thể được tạo ra; nó bao giờ cũng
xảy ra. Người ta phải nhạy cảm và cởi mở và mong
manh. Nó rất tinh tế. Bạn không thể vồ được nó. Nó
rất mảnh mai... ẻo lả tựa bông hoa. Bạn không thể vồ
lấy nó được. Nếu bạn vồ lấy nó bạn sẽ phá huỷ nó.
Bạn phải rất dịu dàng. Nó không phải là phần cứng,
nó là phần mềm. Bạn phải thực sự dịu dàng, bạn phải
mang nữ tính.
Phật nói:
thực hành hành vi không làm được...
Đó là thông điệp của tất cả những người vĩ đại,
người thực sự vĩ đại. Việc nhận ra vĩ đại nhất trên trái
đất này đã từng là thế này: là chúng ta đang tạo ra quá
nhiều ồn ào không cần thiết. Cái sẽ xảy ra thì sẽ xảy
ra nếu chúng ta chờ đợi. Vào đúng mùa vụ, mùa
màng; vào đúng mùa, có kết quả. Vào đúng mùa mọi
thứ xảy ra. Nếu một người có thể học chỉ một điều -
cách chờ đợi mang tính cầu nguyện - thì chẳng cần cái
gì khác. Cực lạc là prasad, món quà của thượng đế. 

Thử xem. Thực hành điều Phật nói đi. Ít nhất
trong một giờ bạn trở thành không người làm. Ít nhất
trong một giờ, sâu trong đêm, ngồi một mình. Không
làm gì cả - thậm chí không tụng mật chú, thậm chí
không thiền siêu việt. Không làm gì cả. Chỉ ngồi, nằm
xuống, nhìn lên các vì sao. Điều đó nữa cũng phải
không khó khăn. Nhìn rất dịu dàng. Đừng hội tụ; vẫn
còn không hội tụ như việc chụp ảnh không hội tụ - mờ
mịt, mờ ảo, không biết biên giới ở đâu. Vẫn còn im
lặng trong bóng tối.
Nếu ý nghĩ tới cứ để chúng tới. Đừng tranh đấu
với chúng. Chúng sẽ tới và chúng sẽ đi - bạn chỉ là
người quan sát. Chúng tới hay chúng đi không phải là
việc của bạn. Bạn là ai? Chúng tới không lời mời,
chúng đi không xô đẩy. Chúng tới và đi, đó là lưu
thông thường xuyên. Bạn chỉ ngồi bên đường và quan
sát.
Khi tôi nói quan sát, đừng diễn giải sai tôi. Đừng
làm việc quan sát thành nỗ lực. Bằng không mọi
người trở nên rất cứng nhắc và họ bắt đầu quan sát
theo cách rất cứng nhắc và căng thẳng. Họ lại bắt đầu
làm việc. Điều tôi đang nói, hay điều Phật đang nói là
- ở trong thái độ không làm, lười biếng.
Lười biếng, và xem điều xảy ra. Bạn sẽ ngạc
nhiên. Một ngày nào đó - chỉ ngồi, chỉ ngồi thôi,
không làm gì cả - một ngày nào đó, từ cội nguồn
không biết nào đó, một tia sét, một phúc lành. Một
ngày nào đó, vào khoảnh khắc nào đó, bỗng nhiên bạn
được siêu việt lên. Bỗng nhiên bạn thấy yên tĩnh
choàng xuống mình. Nó gần như mang tính vật lí.
Nếu một thiền nhân thực, một người có thể thảnh
thơi, ngồi im lặng và cho phép, ngay cả ai đó không
phải là thiền nhân cũng sẽ cảm thấy sự hiện diện -
rằng cái gì đó đang xảy ra. Bạn có thể không có khả
năng hình dung ra nó là gì; bạn có thể cảm thấy kì lạ
hay chút ít sờ sợ, nhưng nếu bạn ngồi bên cạnh một
thiền nhân...
Bây giờ, khó mà dùng đúng từ, bởi vì từ 'thiền
nhân' lại cho ấn tượng dường như người đó đang làm
điều gì đó - làm việc thiền. Nhớ đi nhớ lại - ngôn ngữ
đã được những người không là thiền nhân phát triển,
cho nên toàn thể ngôn ngữ, theo một cách tinh tế, là
sai. Nó không thể diễn đạt được.
Khi ai đó đang ngồi đó, chỉ ngồi đó, giống như cái
cây, như tảng đá, không làm gì cả, điều đó xảy ra: cái
gì đó từ trên cao giáng xuống, thấm vào chính cốt lõi
bản thể người đó. Ánh sáng tinh tế bao quanh người
đó... vầng sáng, phúc lành có thể được cảm thấy
quanh người đó - ngay cả bởi những người không biết
thiền là gì. Ngay cả đi ngang qua bên cạnh, họ cũng
sẽ cảm thấy tác động của điều đó. Phúc lành này đã
được gọi là thượng đế.
Thượng đế không phải là người, đó là kinh
nghiệm sâu sắc khi bạn không làm gì cả và sự tồn tại
đơn giản tuôn chảy trong bạn... mênh mông của nó,
phúc lành của nó, ân huệ của nó.
Bạn không làm gì cả, bạn thậm chí không trông
đợi điều gì, bạn không chờ đợi điều gì. Bạn không có
động cơ. Bạn chỉ ở đó như cây đứng trong gió, hay
như tảng đá chỉ ngồi im lặng bên cạnh dòng sông.
Hay giống như đám mây quấn quít quanh đỉnh núi - chỉ ở đó, không chuyển động theo cách riêng của
mình.
Trong khoảnh khắc đó bạn không phải là cái ngã,
trong khoảnh khắc đó bạn là vô ngã. Trong khoảnh
khắc đó bạn không là tâm trí, bạn là vô trí. Trong
khoảnh khắc đó bạn không có trung tâm. Trong
khoảnh khắc đó bạn là mênh mông... bao la không
biên giới - bỗng nhiên có tiếp xúc. Bỗng nhiên nó có
đó! Bỗng nhiên bạn được hoàn thành, bỗng nhiên bạn
được bao quanh bởi sự hiện diện không biết nào đó.
Điều đó là rất bao la.
Đó là điều Phật nói:
thực hành hành vi không làm được; để nói bài nói
không diễn đạt được;
Và nếu bạn muốn nói điều gì đó, nói điều không
thể được nói đi. Diễn đạt cái không thể diễn đạt được
đi. Phỏng có ích gì mà nói điều có thể được nói? - bất
kì ai cũng biết chúng, mọi người đều biết chúng. Nếu
bạn thực sự muốn diễn đạt cái gì đó, diễn đạt cái
không thể diễn đạt được.
Cách diễn đạt cái không thể diễn đạt được là gì?
Nó có thể được diễn đạt chỉ qua việc hiện hữu. Lời là
quá hạn hẹp. Nó chỉ có thể được diễn đạt bằng sự tồn
tại của bạn, bằng sự hiện diện của bạn - trong bước đi
của bạn, trong ngồi của bạn, trong đôi mắt bạn, trong
điệu bộ của bạn, trong cái chạm của bạn, trong từ bi
của bạn, trong tình yêu của bạn. Cách bạn hiện hữu -
nó có thể được diễn đạt qua điều đó.
Phật nói, nhưng điều đó không phải rất bản chất.
Điều bản chất hơn là hiện hữu của ông ấy, là ông ấy
đang có đó. Qua việc nói của mình ông ấy cho phép
bạn được sống cùng ông ấy. Việc nói chỉ là để thuyết
phục bạn. Bởi vì sẽ khó cho bạn trong im lặng cùng vị
Phật. Ông ấy phải nói, bởi vì nếu ông ấy nói bạn cảm
thấy rằng mọi thứ đều tốt, bạn có thể nghe. Nếu ông
ấy không nói làm sao bạn sẽ nghe được? Bạn không
biết cách nghe khi không ai nói. Bạn không biết cách
nghe điều không thể được diễn đạt.
Nhưng dần dần, sống quanh một thầy, một phật,
một Jesus, dần dần bạn sẽ bắt đầu hấp thu tâm linh
của người đó. Dần dần, mặc bạn, sẽ có những khoảnh
khắc mà bạn sẽ thảnh thơi, và không chỉ điều ông ấy
đang nói sẽ đạt tới trong tim bạn, mà điều ông ấy
đang hiện hữu cũng sẽ thấm vào. Và với ông ấy toàn
thể chiều hướng của việc xảy ra mở ra. Đó là nghĩa
của satsang - ở trong hiện diện của thầy.
...và để được huấn luyện trong kỉ luật vượt ra
ngoài kỉ luật.
Và Phật nói có kỉ luật mà không phải là kỉ luật.
Thông thường chúng ta nghĩ về kỉ luật cứ dường như
ai đó khác đang cố gắng áp kỉ luật cho bạn. Kỉ luật
mang hàm nghĩa rất xấu - cứ dường như bạn đang bị
ép vào kỉ luật, cứ dường như bạn chỉ vâng lời. Trung
tâm đang áp kỉ luật lên bạn là ở ngoài bạn.
Phật nói đó không phải là kỉ luật đâu, đó là việc
buông bỏ sự nô lệ. Hãy tự do, không cần phải theo kỉ
luật từ bất kì nguồn bên ngoài nào. Trở nên tỉnh táo,
để cho kỉ luật bên trong nảy sinh trong bạn. Trở nên có trách nhiệm, để cho bất kì điều gì bạn làm thì bạn
làm với trật tự nào đó, hài hoà nào đó trong nó; để cho
bản thể bạn không là sự hỗn loạn, để cho bản thể bạn
không trong đống lộn xộn.
Cho nên có hai kiểu kỉ luật: một, kỉ luật có thể bị
ép buộc từ bên ngoài. Đó là điều các chính khách cứ
làm, các tu sĩ cứ làm, cha mẹ cứ làm. Và có một kỉ
luật có thể được gợi lên trong bạn - điều đó có thể
được thực hiện chỉ bởi các bậc thầy. Họ không áp đặt
kỉ luật nào lên bạn, họ làm cho bạn đơn giản nhận biết
hơn để cho bạn có thể tìm ra kỉ luật riêng của mình.
Mọi người tới tôi và họ hỏi, 'Sao thầy không cho
chúng tôi kỉ luật nào đó? Ăn cái gì, không ăn cái gì.
Khi nào dậy buổi sáng và khi nào đi ngủ.' Tôi không
cho bạn những kỉ luật như vậy đâu, bởi vì bất kì kỉ
luật nào tới từ bên ngoài cũng đều mang tính phá
hoại.
Tôi cho bạn chỉ một kỉ luật thôi - điều Phật gọi là
kỉ luật của cõi bên kia, kỉ luật của siêu việt.
Tôi cho bạn chỉ một kỉ luật và đó là kỉ luật của
nhận biết. Nếu bạn nhận biết bạn sẽ thức dậy đúng
lúc. Khi thân thể được nghỉ ngơi bạn sẽ dậy. Khi bạn
nhận biết bạn sẽ ăn chỉ cái được cần, bạn sẽ ăn chỉ cái
ít hại nhất cho bạn và cho người khác. Bạn sẽ ăn chỉ
cái không dựa trên bạo hành. Nhưng nhận biết sẽ là
nhân tố quyết định.
Bằng không bạn có thể bị ép buộc để trở nên vâng
lời, nhưng sâu bên dưới bạn cứ mang tính nổi dậy.
Tôi đã nghe một câu chuyện thời thế chiến thứ hai.
Một trung sĩ và một binh nhì bị buộc tội đá viên
đại tá. Khi được hỏi về lời giải thích, viên trung sĩ
đáp, "Thế này, thưa ngài, viên đại tá đi quanh góc thì
tôi đang tập thể dục chạy tới. Tôi chỉ đi đôi giày đế
mềm, ông ấy đi giầy ống, và ông ấy dẫm lên ngón
chân tôi. Tôi sợ bị đau, thưa ngài, tới mức tôi đã bất
ngờ đá lên - và trước khi tôi nhận ra đó là ai, thưa
ngài.'
'Tôi biết rồi,' viên sĩ quan trật tự nói. 'Thế về lính
của anh thì sao?'
Với điều này viên binh nhì đáp, 'Tôi thấy viên
trung sĩ đá viên đại tá, thưa ngài. Cho nên tôi tự nhủ
mình, "Chiến tranh chắc phải chấm dứt rồi, cho nên
tôi cũng có thể đá".'
Bất kì khi nào ai đó áp đặt kỉ luật lên bạn, sâu bên
dưới bạn không bằng lòng, sâu bên dưới bạn chống lại
nó. Bạn có thể tuân theo nó, nhưng bạn bao giờ cũng
tuân một cách ngần ngại. Và đó là cách nó phải vậy,
bởi vì thôi thúc sâu sắc nhất trong con người là vì tự
do, vì moksha.
Được tự do là việc tìm kiếm. Suốt nhiều thế kỉ,
trong hàng nghìn năm, trong nhiều kiếp sống, chúng
ta đã từng tìm kiếm cách được tự do. Cho nên bất kì
khi nào ai đó tới - cho dù là vì chính bạn, vì điều tốt
cho riêng bạn - và áp đặt cái gì đó lên bạn, bạn vẫn
chống lại. Điều đó chống lại bản tính con người, điều
đó chống lại định mệnh con người.
Phật nói không có nhu cầu phải vâng lời ai đó
khác; bạn phải tìm ra nhận biết riêng của mình - vâng theo nó. Nhận biết! - đó là kinh sách duy nhất. Nhận
biết! - đó là người thầy duy nhất. Nhận biết! - và
không cái gì có thể đi sai được. Nhận biết đem tới kỉ
luật riêng của nó như cái bóng. Và thế thì kỉ luật này
là đẹp. Thế thì nó không như cảnh nô lệ, thế thì nó
giống như sự hài hoà. Thế thì nó không phải dường
như bị ép buộc, thế thì nó là việc nở hoa từ bản thể
riêng của bạn, việc nở hoa.
và để được huấn luyện trong kỉ luật vượt ra ngoài
kỉ luật.
Mọi người thường tìm ai đó để bảo cho họ điều
phải làm - bởi vì họ sợ tự do của mình, bởi vì họ
không biết rằng họ có thể dựa vào cội nguồn riêng của
họ, bởi vì họ không tự tin, bởi vì họ bao giờ cũng
được ai đó khác bảo cho điều phải làm, cho nên họ đã
trở nên bị nghiện với điều đó. Họ tìm kiếm hình ảnh
người cha trong cả đời mình. Thượng đế của họ cũng
là cha, không gì khác. Thượng đế đó là giả, chính là
người cha. Và việc tìm kiếm hình ảnh người cha là
phản cuộc sống.
Bạn phải học cách tự do khỏi mọi hình ảnh người
cha. Bạn phải học cách là bản thân mình. Bạn phải
học cách nhận biết và có trách nhiệm. Chỉ thế thì bạn
mới bắt đầu lớn lên. Trưởng thành bao giờ cũng là
trưởng thành hướng tới tự do. Chưa trưởng thành bao
giờ cũng là một loại phụ thuộc và sợ tự do.
Đứa trẻ là phụ thuộc - điều đó là được, điều đó có
thể hiểu được. Nó bất lực. Nhưng tại sao cả đời bạn
vẫn còn là đứa trẻ? Đó là cuộc cách mạng Phật đã
đem vào trong thế giới. Ông ấy là một trong những
nhà tư tưởng nổi dậy nhất của thế giới. Ông ấy ném
bạn về với chính mình. Điều đó là nguy hiểm, nhưng
ông ấy nhận nguy cơ đó. Và ông ấy nói rằng mọi
người đều phải nhận lấy nguy cơ đó. Có mọi khả năng
bạn có thể đi lạc lối - nhưng cuộc sống là rủi ro.
Đi lạc lối theo cách riêng của bạn còn tốt hơn là đi
theo ai đó khác. Bị lạc mãi mãi và là bản thân mình
còn tốt hơn là đạt tới cõi trời như bản sao, như kẻ bắt
chước. Thế thì cõi trời của bạn sẽ không là gì ngoài
nhà tù. Và nếu bạn đã chọn địa ngục riêng của mình
theo cách riêng của mình, từ tự do của riêng mình, thì
địa ngục của bạn cũng sẽ là cõi trời - bởi vì tự do là
cõi trời.
Bây giờ bạn sẽ thấy khác biệt giữa Ki tô giáo và
Phật giáo. Ki tô giáo nói Adam bị đuổi bởi vì anh ta
đã không vâng lời thượng đế. Phật nói vâng theo mỗi
bản thân mình, không có thượng đế khác để mà phải
tuân theo. Ki tô giáo gọi không vâng lời là tội lỗi
nguyên thuỷ, còn Phật gọi vâng lời là tội lỗi nguyên
thuỷ. Khác biệt cực kì lớn. Phật là người giải thoát, Ki
tô giáo đã tạo ra tù túng cho toàn thể nhân loại.
Giải thoát của Phật là thuần khiết. Ông ấy dạy bạn
nổi dậy, nhưng nổi dậy của ông ấy không phải là nổi
dậy chính trị. Ông ấy dạy bạn nổi dậy với trách
nhiệm, với nhận biết. Nổi dậy của ông ấy không phải
là phản ứng. Bạn có thể vâng lời, bạn có thể không
vâng lời. Phật đang nói gì? Phật đang nói đừng vâng
lời đừng không vâng lời - bởi vì không vâng lời lại là
được ước định bởi ai đó khác. Bạn cứ làm điều gì đó
bởi vì cha bạn nói không làm điều đó, nhưng ông ấy
lại thao túng bạn theo cách tiêu cực. Bạn cứ làm điều gì đó bởi vì xã hội nói đừng làm điều đó, nhưng xã
hội đang xác định điều bạn phải làm.
Phật nói nổi dậy không phải là phản ứng. Nó
không là nô lệ không là phản ứng, không là vâng lời
cũng không là không vâng lời. Nó là kỉ luật bên trong.
Nó là kỉ luật, nó là trật tự vô cùng, nhưng nó tới từ cốt
lõi bên trong của bạn. Bạn quyết định nó.
Chúng ta cứ đổ trách nhiệm lên người khác. Điều
đó dễ dàng hơn. Bạn bao giờ cũng có thể nói rằng bố
bạn nói làm điều đó, cho nên bạn đã làm nó - bạn
không chịu trách nhiệm. Bạn bao giờ cũng có thể nói
lãnh đạo đã nói phải làm điều đó, cho nên bạn đã làm
- bạn không chịu trách nhiệm. Toàn thể đất nước định
làm điều đó, định đi vào chiến tranh và giết hại các
nước khác - bạn đã làm điều đó bởi vì bạn đơn giản
vâng theo mệnh lệnh, bạn đơn giản vâng lời.
Khi các đồng sự của Adolf Hitler bị bắt sau thế
chiến thứ hai, họ tất cả đều thú nhận trước toà rằng họ
không có trách nhiệm, họ đơn giản tuân theo mệnh
lệnh. Bất kì mệnh lệnh nào được trao cho, họ đều
vâng theo. Nếu mệnh lệnh được trao, 'Giết một triệu
người Do Thái!' thì họ giết. Họ đơn giản tuân theo
mệnh lệnh, họ đơn giản vâng lời. Họ không chịu trách
nhiệm.
Bây giờ nhìn và quan sát: bạn có thể đơn giản cố
gắng tìm ra ai đó, người nói 'làm cái này', để cho bạn
có thể đổ trách nhiệm lên người đó. Nhưng đây không
phải là cách thức - đổ trách nhiệm lên bất kì ai khác.
Cuộc sống là của bạn và trách nhiệm là của bạn.
Nếu bạn hiểu Phật, thế giới sẽ hoàn toàn khác.
Thế thì không thể có thêm bất kì Hitler nào nữa, thế
thì không thể có thêm chiến tranh nào nữa - bởi vì
không thể có bất kì việc vâng theo từ bên ngoài, và
mọi người có trách nhiệm sẽ nghĩ theo cách riêng của
mình. Không phải 'người Hindu đang giết người Mô
ha mét giáo, cho nên mình phải giết'; không phải
'người Mô ha mét giáo đang đốt đền chùa, cho nên tôi
phải đốt bởi vì tôi là người Mô ha mét giáo.' Từng cá
nhân nên trở thành ánh sáng lên bản thân mình, và
người đó nên quyết định - không như người Mô ha
mét giáo, không như người Ki tô giáo, không như
người Ấn Độ, không như người Pakistan; người đó
nên quyết định theo ý thức riêng của mình; không
theo bất kì cái gì khác. Đây là điều Phật gọi là kỉ luật
bên ngoài kỉ luật.
Đây là định nghĩa về người tôn giáo: Người suy
nghĩ ý nghĩ không thể nghĩ được; người thực hành
hành vi không thể làm được; người nói điều không
thể diễn đạt được, không thể tả được; và người đó
thực hành kỉ luật ở bên ngoài kỉ luật.
Những người hiểu điều này là gần; những người
bị lẫn lộn là xa.
Nếu bốn điều này mà được hiểu, bạn là gần với
chân lí. Nếu bạn không hiểu thế thì bạn ở xa với chân
lí.
Đạo ở bên ngoài lời và việc diễn đạt, không bị
giới hạn bởi bất kì cái gì trần tục. Mất cái nhìn về nó chỉ một li thôi hay mất nó trong một khoảnh
khắc thôi, và chúng ta xa khỏi nó mãi mãi.
Những người hiểu điều đó là gần... Bây giờ để
điều này là tiêu chí cho bạn - bạn có thể đánh giá. Để
điều này là hòn đá thử cho trưởng thành của bạn. Nếu
bạn cảm thấy bốn điều này đang xảy ra trong cuộc
sống của mình - tuy nhiên, theo bất kì số lượng nào...
có thể là số lượng rất nhỏ, nhưng nếu chúng đang xảy
ra, thế thì bạn đang trên đường đúng. Nếu bạn đi xa
khỏi bốn điều này, bạn đang đi xa khỏi con đường,
khỏi pháp, khỏi Đạo.
Đạo ở bên ngoài lời và việc diễn đạt, không bị
giới hạn bởi bất kì cái gì trần tục.
Chân lí tối thượng không bị giới hạn bởi bất kì cái
gì mà bạn có thể thấy, cái bạn có thể sờ. Nó không
phụ thuộc vào giác quan của bạn. Chân lí tối thượng
không là vật chất, nó là phi vật chất. Nó không trần
tục. Nó không thể bị bất kì cái gì gây ra. Đó là lí do
tại sao nó không bao giờ có thể trở thành một phần
của khoa học.
Bạn có thể trộn lẫn hidro và ô xi và bạn có thể tạo
ra nước ở đó. Không có cách nào để tạo ra cực lạc
theo cách đó. Không có cách nào để làm ra thượng đế
theo cách đó. Không có cách nào để làm ra chân lí
theo cách đó. Bạn có thể phá huỷ nước bằng việc
phân tách hidrô và ô xi, bạn có thể tạo ra nước bằng
việc trộn lẫn hidrô và ô xi, nhưng không có cách nào
để phá huỷ chân lí hay để tạo ra nó. Nó là không được
tạo ra.
Nó không phải là dây chuyền nhân quả. Bạn
không thể tạo ra được nó; nó đã có đó rồi. Bạn không
thể phá huỷ nó, bởi vì bạn là nó. Nó là chính cuộc
sống này. Bạn chỉ có thể làm một điều thôi - hoặc là
bạn có thể nhắm mắt lại với nó, hoặc là bạn có thể
quên nó đi, bạn có thể trở nên tuyệt đối quên lãng về
nó, hay bạn có thể nhớ, thấy, nhận ra.
Nếu bạn bị mất hút vào quá nhiều việc làm, tham
vọng, giầu có, tiền bạc, danh vọng, quyền lực, thế thì
bạn sẽ mất dấu vết của chân lí mà bao giờ cũng ở bên
cạnh bạn - chỉ ngay góc kia thôi, chỉ trong tầm với -
nhưng bạn đang quay lưng mình về nó.
Hay bạn có thể cho phép nó. Nếu bạn trở nên
mang tính thiền thêm chút ít và ít tham vọng hơn, nếu
bạn trở nên mang tính tôn giáo thêm chút ít và ít chính
trị đi, nếu bạn trở nên thanh cao hơn chút ít và ít trần
tục hơn, nếu bạn bắt đầu đi vào bên trong hơn đi ra
bên ngoài, nếu bạn bắt đầu trở nên tỉnh táo hơn chút ít
so với ngủ, nếu bạn đi ra khỏi trạng thái say sưa của
mình, nếu bạn đem chút ít ánh sáng vào trong bản thể
mình, thế thì... thế thì bạn sẽ ở gần, gần nhà. Bạn chưa
bao giờ ở xa cả. Thế thì toàn thể cuộc sống của bạn sẽ
được biến đổi, được siêu việt lên. Thế thì bạn sẽ sống
theo cách hoàn toàn khác; một phẩm chất mới sẽ có
đó trong cuộc sống của bạn mà không có gì liên quan
tới việc làm của bạn, cái là món quà, là phúc lành.
Mất cái nhìn về nó chỉ một li thôi hay mất nó
trong một khoảnh khắc thôi, và chúng ta xa khỏi
nó mãi mãi. 

Nhìn vào trong nó trong một khoảnh khắc thôi, lại
gần nó cho dù một li, và nó là của bạn, và nó bao giờ
cũng là của bạn.
Đây là nghịch lí của siddhanta. Đây không phải là
học thuyết, đây là việc nhận ra của Phật. Ông ấy đơn
giản cố gắng chia sẻ việc nhận ra của mình với bạn.
Ông ấy không làm sâu sắc triết lí hay hệ thống các ý
nghĩ. Ông ấy đơn giản chỉ tới mặt trăng, thực tại.
Đừng nhìn vào ngón tay đang trỏ của ông ấy,
bằng không bạn sẽ bỏ lỡ; bạn sẽ trở thành Phật tử.
Nhìn vào trăng mà ngón tay này đang trỏ tới. Quên
hoàn toàn ngón tay đi và nhìn vào trăng và bạn sẽ trở
thành vị phật.
Đây là vấn đề mà nhân loại phải giải quyết. Trở
thành người Ki tô giáo dễ hơn rất nhiều việc trở thành
một Christ, trở thành một Phật tử dễ hơn rất nhiều
việc trở thành vị phật, nhưng thực tại chỉ được biết tới
bởi việc trở thành một Christ hay một Phật. Bằng việc
trở thành người Ki tô giáo hay Phật tử bạn lại trở
thành bản sao. Đừng xúc phạm bản thân mình theo
cách đó. Có chút ít kính trọng bản thân mình đi. Đừng
bao giờ là người Ki tô giáo và đừng bao giờ là Phật tử
và đừng bao giờ là người Hindu. Là tâm thức không
xác định, không bị chặn, không động cơ. Nếu bạn có
thể làm được điều đó, tất cả những cái khác sẽ theo
sau theo cách riêng của nó.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

HÃY TÌM LẠI CHÍNH MÌNH BẰNG SỰ THỨC TÌNH MỤC ĐÍCH SỐNG

Nhân loại đã thực sự sẵn sàng cho một quá trình chuyển biến nhận thức , một quá trình nở hoa sâu sắc và triệt để của tâm thức đến độ , so với quá trình này thì việc cây cỏ nở hoa 114 triệu năm trước đây , dù cho đẹp đến mấy thì đấy cũng chỉ là sự phản ánh nhạt nhòa ? Liệu con người có thể từ bỏ tầng tầng lớp lớp những cách nghĩ bị bó buộc cũ và trở nên giống như những tinh thể pha lê trong suốt để ánh sang nhận thức xuyên qua dễ dàng ?

Liệu con người có thể thoát ra khỏi trường hấp dẫn của chủ nghĩa vật chất , thoát ra khỏi tình trạng tự đồng nhất mình với hình tướng ?

Khả năng chuyển hóa này cũng là thông điệp chính của những giáo lý sâu sắc để khai thị cho con người .Những người phát đi thông điệp này – như Đức Phật , chúa Jesus và nhiều người khác – là những bông hoa đầu tiên của nhân loại . Họ là những vị Thầy tiên phong , rất hiếm hoi và quý giá vô cùng . Tuy vậy , một sự chuyển hóa rộng khắp chưa thể xảy ra vào thời điểm đó được , nên thông điệp của họ bị bóp méo đi rất nhiều . Ngoại trừ ở một số ít người , tâm thức của con người thời ấy nói chung chưa được chuyển hóa nhiều

Bây giờ thì nhân loại đã sẵn sàng để chuyển hóa chưa ? tại sao lúc này mới thật là thời cơ ? Ban có thể làm gì để thúc đẩy quá trình chuyển hóa nội tại này ? Đặc điểm của nhận thức cũ đầy tính bản ngã là gì và đâu là dấu hiệu của một tâm thức mới đang trổi dậy ?

Những câu hỏi này và một số câu hỏi khác sẽ được đề cập trong cuốn sách này . Quan trọng hơn , quyển sách cũng chính là một công cụ có tính chuyển hóa , xuất phát từ một nhận thức mới đầy tính nổi dậy . Những ý tưởng và khái niệm ở đây tuy quan trọng , nhưng đó cũng là thứ yếu . Chính những tấm bảng chỉ đường giúp bảng chỉ đường giúp bạn đi đến trạng thái thức tỉnh . Trong lúc đọc quyển sách này , một sự chuyển hóa sẽ xảy ra trong bạn

Mục đích chính của quyển sách không phải là để cung cấp thêm thông tin hay những niềm tin mù quáng cho trí năng của bạn , hay cố thuyết phục bạn về một điều gì đó , mà nó mang đến cho bạn một sự chuyển hóa trong nhận thức , tức là thức tỉnh bạn ra khỏi những dòng suy nghĩ miên man ở trong đầu

Nếu được như vậy thì bạn sẽ không chỉ thấy cuốn sách này là “thú vị” . Vì “thú vị” có nghĩa là bạn còn đứng ở bên ngoài , tìm vui với những ý nghĩ , và khái niệm ở trong đầu bạn để tu duy rằng mình đồng ý hay không đồng ý với cuốn sách .

Vì cuốn sách này được viết cho bạn , do đó cuốn sách hoặc rất vô nghĩa đối với bạn , hoặc nó làm cho nhận thức của bạn có sự thay đổi lớn . Tuy nhiên cuốn sách này chỉ có thể thức tỉnh những người đã sẵn sang để tỉnh thức

Tuy nhiên khi có một người vừa tỉnh thức thì biến cố này sẽ tạo nên một quán tính trong tâm thức của tập thể , giúp cho sự tỉnh thức xảy ra dễ dàng hơn ở những người khác . Nếu trong lúc này bạn chưa rõ tỉnh thức nghĩa là gì , thì bạn cũng không cần bận tâm nhiều vể nghĩa của từ ấy , hãy cứ tiếp tục đọc và trong bạn có sự tỉnh thức , thì bạn sẽ hiểu “ tỉnh thức “ có nghĩa là gì

Quá trình tỉnh thức một khi đã bắt đầu ở trong bạn rồi thì không thể đảo ngược lại ; và để cho quá trình này được bắt đầu ,bạn chỉ cần trải qua trạng thái thức tỉnh – dù chỉ tong môt thoáng chốc

Đối với một số người thì một thoáng chốc của trạng thái thức tỉnh đó sẽ xảy đến khi họ đọc cuốn sách này . Còn đối với những người khác thì cuốn sách sẽ giúp họ nhận ra rằng quá trình tỉnh thức đã xảy ra ở trong họ rồi , nhưng bây giờ họ mới nhận ra .

Ở một số người thì quá trình tỉnh thức chỉ xảy ra khi họ gặp phải những mất mát hay khổ đau lớn

Trong khi ở những người khác , là khi họ tiếp xúc với những bậc Thầy hay những giáo lý về tâm linh , hay do đọc cuốn “ Sức mạnh của Hiện tại “ hay những cuốn sách có giá trị tâm linh sống động khác . Hoặc có thể là sự tổng hợp của tất cả những điều ấy . Tuy nhiên , một khi sự thức tỉnh đã bắt đầu ở trong bạn thì cuốn sách này sẽ giúp cho bạn đẩy nhanh và gia tăng cường độ tỉnh thức

Điều căn bản nhất của quá trình thức tỉnh là :

Nhận ra sự mê mờ đang tồn tại trong bạn

Nhận diện bản ngã của bạn khi nó đang nói , đang nghĩ , đang làm một việc nào đó

Nhận ra thói quen suy nghĩ đầy tính băng hoại trong tâm thức của tập thể đang thẩm thấu vào mọi khía cạnh của đời sống , kéo dài thêm tình trạng chưa thức tỉnh

Đó là lý do tôi viết quyển sách này : để nêu lên những khía cạnh chính của bản ngã và cách bản ngã hoạt động trong bạn cũng như trong tâm thức tập thể . Điều này có ý nghĩa quan trọng , vì hai lý do chính .

Trước hết , nếu bạn không nhận ra được những cơ cấu hoạt động của bản ngã , bạn sẽ không nhận diện được nó , và sẽ nhầm lẫn mà liên tục tự đồng hóa mình với bản ngã , tức là vô tình bạn để cho bản ngã chứ ngự lấy bạn , mạo danh là bạn

Thứ hai , tự than việc nhận diện bản ngã ở trong bạn chính là một trong những phương cách giúp cho sự tỉnh thức ở trong bạn được diễn ra . Khi bạn nhận ra sự mê lầm của mình , thì cái làm cho sự nhận biết ấy có thể diễn ra chính là thứ nhận thức mới đang trỗi dậy , đó cũng chính là tỉnh thức .

như ta không thể đấu tranh lại bong tối , hay chống đối lại sự mê mờ . Điều mà ta cần làm là mang ánh sáng của nhận thức vào những nơi tối tăm này

Và bạn chính là Ánh sang đó

Bài đăng phổ biến