Thông điệp yêu thương từ MẶT TRỜI TÂM THỨC

CÁC BẬC THẦY CHỨNG NGỘ CỦA THẾ KỶ 20 -21

XỨ SỞ GIÂY PHÚT HIỆN TẠI

XỨ SỞ GIÂY PHÚT HIỆN TẠI

Quảng cáo online

Chữ chạy

Chào mừng bạn đến với blog MẶT TRỜI TÂM THỨC Email : mattroitamthuc@yahoo.com - Phone 0903070348

Quảng cáo thay đổi

Truyện cười

CHÀO MỪNG CÁC BẠN ĐANG ĐẾN VỚI PHÚT GIÂY HIỆN TẠI

Giây phút hiện tại

Sống trong giây phút hiện tại là một phép lạ. Phép lạ không phải là để đi trên mặt nước.
Phép lạ là đi trên trên hành tinh xanh xinh đẹp này trong trong giây phút hiện tại, biết trân quý sự bình an và vẻ đẹp có sẵn ngay bây giờ.

Thứ Hai, 23 tháng 7, 2012

Phép màu vĩ đại nhất


Câu hỏi thứ nhất
Ai đó hỏi một thiền sư, 'Phép màu lớn nhất trên
thế giới này là gì?' Thầy đáp, 'Ta đang ngồi đây
một mình với ta.' Ý nghĩa của chuyện ngụ ngôn
này là gì?
Nó không phải là chuyện ngụ ngôn đâu, nó đơn
giản là sự kiện. Nhìn thẳng vào trong nó. Không có
nhu cầu tìm kiếm bất kì ý nghĩa nào. Nó cũng giống
như bông hồng vậy - một phát biểu đơn giản. Nếu bạn
bắt đầu tìm nghĩa, bạn sẽ bỏ lỡ nghĩa của nó. Nghĩa có
đó, hiển nhiên; không có nhu cầu tìm nó. Khoảnh
khắc bạn bắt đầu tìm nghĩa cho những sự kiện đơn
giản như vậy, bạn vẩn vơ vào các triết lí, bạn tạo ra
siêu hình. Và thế thì bạn cứ đi mãi, và bạn đi xa khỏi
sự kiện.
Đó là một phát biểu đơn giản. Thiền sư này nói,
'Ta đang ngồi đây một mình với bản thân ta.' Đây là
phép màu vĩ đại nhất. Ở một mình là thành tựu lớn lao
nhất. Người ta bao giờ cũng cảm thấy nhu cầu về
người khác. Có nhu cầu mênh mông về người khác
bởi vì cái gì đó bị thiếu bên trong chúng ta. Chúng ta
có lỗ lổng trong bản thể mình; chúng ta nhét vào lỗ
hổng đó sự hiện diện của người khác. Người khác
bằng cách nào đó làm cho chúng ta đầy đủ, bằng
không thì chúng ta không đầy đủ.
Không có người khác chúng ta không biết mình là
ai, chúng ta mất đi cá tính của mình. Người khác trở
thành tấm gương và chúng ta có thể nhìn khuôn mặt
của mình trong đó. Không có người khác chúng ta
bỗng nhiên bị ném về chính bản thân mình. Không
thoải mái lớn, bất tiện nảy sinh, bởi vì chúng ta không
biết mình là ai. Khi chúng ta một mình chúng ta đang
trong một nhóm rất kì lạ, một nhóm rất ngơ ngác.
Chúng ta không biết chúng ta đang ở với ai.
Ở cùng người khác, mọi sự là rõ ràng, được xác
định. Chúng ta biết tên, chúng ta biết hình dạng,
chúng ta biết đàn ông hay đàn bà - người Hindu,
người Ki tô giáo, người Ấn Độ, người Mĩ - có những
cách nào đó để xác định người khác. Làm sao bạn xác
định bản thân mình?
Sâu bên dưới có vực thẳm... không xác định được.
Có vực thẳm... trống rỗng. Bạn bắt đầu hội nhập vào
trong điều đó. Điều đó tạo ra nỗi sợ. Bạn trở nên
hoảng sợ. Bạn muốn chạy xô tới người khác. Người khác giúp cho bạn
treo đó, người khác giúp bạn vẫn
còn ở ngoài. Khi không có ai bạn đơn giản bị bỏ lại
với trống rỗng của mình.
Không ai muốn một mình cả. Nỗi sợ lớn nhất trên
thế giới là bị bỏ lại một mình. Mọi người đều làm cả
nghìn lẻ một thứ chỉ để không bị bỏ lại một mình. Bạn
bắt chước hàng xóm của mình để cho bạn cũng giống
như họ và bạn không bị bỏ lại một mình. Bạn đánh
mất đi tính cá nhân của mình, bạn đánh mất sự duy
nhất của mình, bạn trở thành kẻ bắt chước, bởi vì nếu
bạn không là kẻ bắt chước thì bạn sẽ bị bỏ lại một
mình.
Bạn trở thành một phần của đám đông, bạn trở
thành một phần của nhà thờ, bạn trở thành một phần
của tổ chức. Bằng cách nào đó bạn muốn hội nhập với
đám đông nơi bạn có thể cảm thấy thoải mái, rằng bạn
không một mình, có nhiều người giống như bạn -
nhiều người Mô ha mét giáo như bạn, nhiều người
Hindu giáo như bạn, nhiều người Ki tô giáo, hàng
triệu người trong số họ... bạn không một mình.
Ở một mình thực sự là phép màu vĩ đại nhất. Điều
đó nghĩa là bây giờ bạn không thuộc vào nhà thờ nào,
bạn không thuộc vào tổ chức nào, bạn không thuộc
vào bất kì thượng đế học nào, bạn không thuộc vào
bất kì ý thức hệ nào - xã hội, cộng sản, phát xít, Hindu
giáo, Ki tô giáo, Jaina giáo, Phật giáo - bạn không
thuộc vào đó, bạn đơn giản hiện hữu. Và bạn đã học
cách yêu cái không xác định của mình, thực tại không
thể nói ra được của mình. Bạn đã đi tới biết cách ở
với bản thân mình.
Nhu cầu của bạn về người khác đã biến mất. Bạn
không có chỗ hở nào, bạn không thiếu cái gì, bạn
không có khiếm khuyết nào - bạn đơn giản hạnh phúc
với chính bản thân mình. Bạn không cần cái gì cả,
phúc lạc của bạn là vô điều kiện. Vâng, nó là phép
màu vĩ đại nhất trên thế giới.
Nhưng nhớ cho, thầy nói, 'Ta ở đây một mình với
bản thân ta.' Khi bạn một mình bạn lại không một
mình đâu, bạn đơn giản cô đơn - và có khác biệt mênh
mông giữa cô đơn và một mình. Khi bạn cô đơn bạn
nghĩ tới người khác, bạn thiếu người khác. Cô đơn là
trạng thái tiêu cực. Bạn cảm thấy rằng nếu như người
khác có đó thì sẽ tốt hơn - bạn của bạn, vợ bạn, mẹ
bạn, người yêu của bạn, chồng bạn. Đáng ra thì tốt
nếu người khác có đó, nhưng người khác lại không
có.
Cô đơn là thiếu vắng người khác. Một mình là
hiện diện của bản thân mình. Một mình rất tích cực.
Nó là sự hiện diện, hiện diện tràn ngập. Bạn tràn đầy
hiện diện tới mức bạn có thể rót đầy toàn thể vũ trụ
bằng hiện diện của mình và không có nhu cầu về bất
kì ai.
Nếu toàn thể thế giới biến mất, Thiền sư này vẫn
sẽ không thiếu cái gì cả. Nếu bỗng nhiên bằng phép
thuật nào đó toàn thế giới biến mất và Thiền sư này bị
bỏ lại một mình, ông ấy sẽ vẫn hạnh phúc như bao
giờ, ông ấy sẽ không thiếu cái gì cả. Ông ấy sẽ yêu sự
trống rỗng mênh mông đó, cái vô hạn thuần khiết này.
Ông ấy sẽ không bỏ lỡ cái gì bởi vì ông ấy đã về tới
nhà. Ông ấy biết rằng bản thân mình là đủ cho chính
mình.
Điều này không có nghĩa là người đã trở nên
chứng ngộ và đã về nhà thì không sống với người
khác. Thực tế chỉ người đó mới có khả năng sống
cùng người khác. Bởi vì người đó có khả năng ở với
chính mình nên người đó trở nên có khả năng ở với
người khác. Nếu bạn không có khả năng ở cùng bản
thân mình, làm sao bạn có thể có khả năng ở cùng
người khác được? Bạn đang ở chỗ gần nhất rồi. Ngay
cả với bản thân mình mà bạn còn không có khả năng
sống trong tình yêu sâu sắc, trong vui sướng - thì làm
sao bạn có thể sống cùng người khác được? Người
khác còn xa thẳm.
Người yêu mến sự một mình của mình thì có khả
năng yêu, và người cảm thấy sự cô đơn của mình thì
không có khả năng yêu. Người hạnh phúc với bản
thân mình thì tràn đầy tình yêu, tuôn chảy. Người đó
không cần tình yêu của người khác, do đó người đó có
thể cho. Khi bạn đang cần, làm sao bạn có thể cho
được? Bạn là kẻ ăn mày. Và khi bạn có thể cho, nhiều
tình yêu lại tới với bạn. Đó là đáp ứng, đáp ứng tự
nhiên. Bài học thứ nhất của tình yêu là học cách ở
một mình.
Đó là một phát biểu rất có ý nghĩa. Nó chẳng có
gì giống như ngụ ngôn trong đó cả. Nó là tức khắc,
trực tiếp. Nó cũng giống như bông hồng bạn bắt gặp.
Bạn không bao giờ hỏi về bông hồng, 'Bông hồng này
ngụ ý cái gì?' Bạn không hỏi, 'Ý nghĩa của bông hồng
này là gì?'
Thầy cũng giống như bông hồng. Nếu bạn có thể
nhìn được, thì nhìn. Nếu bạn không thể nhìn được, thì
quên. Bạn sẽ không bao giờ có khả năng biết ý nghĩa
của nó bởi vì ý nghĩa ở ngay trước bạn rồi. Đừng làm
ra ngụ ngôn về nó. Ngụ ngôn nghĩa là bạn đã bắt đầu
diễn giải, và bất kì cái gì bạn diễn giải thì cũng sẽ là
diễn giải của bạn mà thôi.
Tôi đã nghe:
Mulla Nasruddin bị bắt khi câu cá tại nơi có tấm
biển lớn đề: Không câu cá ở đây. Người giám sát đã
bắt anh ta hỏi, 'Nasruddin, anh không thấy tấm biển
này sao? Anh không biết đọc à? - Không câu cá ở
đây.' Anh ta trỏ vào tấm biến.
Mulla Nasruddin nói, 'Có chứ, tôi biết đọc, nhưng
tôi không đồng ý. Câu cá tốt ở đây là đằng khác. Ai
nói "không câu cá ở đây". Câu cá tốt ở đây. Cứ nhìn
vào bao nhiêu cá tôi đã câu được hôm nay đây này.
Bất kì ai cắm tấm biển ở đó phải gàn dở lắm.'
Bây giờ đây là diễn giải của bạn. Nó đơn giản là
tấm biển - Không câu cá ở đây. Nghĩa không phải là
để tìm, nó đơn giản ở đó rồi.
Khi Thiền sư nói điều gì đó, hay khi bất kì thầy
nào nói điều gì đó, nghĩa của thầy là tuyệt đối rõ ràng,
hiển nhiên. Nó ở ngay trước bạn. Đừng cố tránh né
nó. Nếu bạn bắt đầu tìm ý nghĩa thì bạn sẽ nhìn trái
nhìn phải và bạn sẽ bỏ lỡ cái đang ở ngay trước bạn.
Nó là một phát biểu đơn giản: 'Ta đang ngồi đây một
mình với ta.'
Thử điều đó đi, để có cảm giác ấy. Thỉnh thoảng
ngồi một mình. Tất cả thiền cũng chỉ là thế thôi - chỉ
ngồi một mình, không làm gì cả. Thử mà xem. Nếu
bạn bắt đầu cảm thấy cô đơn thế thì cái gì đó còn
thiếu trong con người bạn, thế thì bạn vẫn chưa có
khả năng hiểu mình là ai.
Thế thì hãy đi sâu hơn vào trong cái cô đơn này
cho tới khi bạn đi tới một tầng mà bỗng nhiên cô đơn
biến đổi bản thân nó thành một mình. Nó biến đổi - nó
là mặt tiêu cực của cùng một hiện tượng. Cô đơn là
mặt tiêu cực của một mình. Nếu bạn đi sâu hơn vào
trong nó, một khoảnh khắc nhất định tới khi bỗng
nhiên bạn sẽ bắt đầu cảm thấy mặt tích cực của nó.
Bởi vì cả hai mặt bao giờ cũng cùng nhau.
Cho nên cứ cô đơn đi, chịu đựng cô đơn. Điều đó
là khó, thiền là khó. Mọi người tới tôi và họ hỏi,
'Vâng, chúng tôi đã sẵn sàng ngồi, nhưng cho chúng
tôi câu mật chú để cho chúng tôi có thể tụng mật chú.'
Họ đang hỏi gì? Họ đang nói rằng họ không muốn
một mình, họ không muốn đối diện với cô đơn của
mình. Họ sẽ tụng mật chú - mật chú sẽ trở thành bạn
đồng hành của họ. Họ sẽ nói, 'Ram, Ram, Ram' - bây
giờ họ không một mình. Bây giờ âm thanh này của
'Ram' liên tục được lặp lại sẽ trở thành bạn đồng hành
của họ.
Họ đang bỏ lỡ toàn bộ vấn đề. Thiền siêu việt,
TM, không phải là thiền chút nào, bởi vì thiền đơn
giản nghĩa là một mình, không làm gì cả - thậm chí
không tụng mật chú. Bởi vì đây là thủ đoạn của tâm
trí. Đó là điều tâm trí bao giờ cũng làm. Khi bạn ngồi
một mình, bạn có quan sát bao nhiêu tưởng tượng lộ
diện chúng ra cho bạn không?.. vô số tưởng tượng,
những giấc mơ ngày. Bất kì khi nào bạn một mình,
bạn bắt đầu mơ ngày. Bất kì khi nào bạn không có gì
để làm và bạn cảm thấy chán, lập tức bạn trốn vào
trong những giấc mơ ngày.
Đó là lí do tại sao nếu một người đi tới sa mạc, tới
sa mạc A rập, tới sa mạc Sahara, và ngồi đó, thì người
đó sẽ bắt đầu tưởng tượng, linh ảnh sẽ bắt đầu tới với
người đó, bởi vì sa mạc là thứ rất đơn điệu. Chẳng có
gì để mà chú ý cả - chỉ mỗi cảnh cát và cát trải rộng
đơn điệu; chẳng có gì làm sao lãng, chẳng cái gì mới -
đơn điệu, chán ngán thế. Nếu không có gì mới bên
ngoài, người ta tạo ra thế giới tưởng tượng bên trong
của riêng mình và bắt đầu nhìn vào trong nó.
Đó là điều xảy ra cho nhưng người đi lên
Himalaya và ngồi trong hang động để thiền. Họ bắt
đầu tưởng tượng. Thế rồi họ có thể tưởng tượng ra bất
kì cái gì - nam thần và nữ thần và apsaras và các thiên
thần và Krishna đang thổi sáo, và Rama đang đứng
cùng cây cung, và Jesus - và bất kì cái gì là tưởng
tượng của bạn, bất kì cái gì là ước định của bạn. Nếu
bạn đã được ước định là người Ki tô giáo, chẳng
chóng thì chầy trong hang động Himalaya bạn sẽ bắt
gặp Jesus, và điều này sẽ là tưởng tượng thuần khiết.
Không có gì làm sao lãng tâm trí từ bên ngoài, tâm trí
bắt đầu tạo ra những giấc mơ bên trong của riêng nó.
Và khi bạn liên tục mơ, những giấc mơ đó có vẻ rất,
rất thực.
Nhiều kinh nghiệm đã được thực hiện ở phương
Tây về mất cảm giác. Nếu một người bị mất tất cả các
cảm giác - mắt bị bịt kín, người đó bị cho vào trong một cái hộp, tai
bị bịt kín, toàn thân bị bọc trong bọt
cao su để cho xúc giác thành đơn điệu, bóng tối ở mắt
là đơn điệu, vô âm thanh đơn điệu, mọi thứ đều đơn
điệu - trong hai, ba giờ người đó bắt đầu mơ - những
giấc mơ lớn lao thế, và thực thế... còn thực hơn là
thực. Và nếu một người bị mất cảm giác trong hai
mươi mốt ngày thì người đó sẽ không bao giờ trở lại
lành mạnh được nữa. Người đó sẽ trở thành gàn dở,
bởi vì tưởng tượng của người đó sẽ chiếm lĩnh người
đó hoàn toàn.
Nhưng tại sao tâm trí bắt đầu mơ ngày? Giải thích
khoa học là ở chỗ tâm trí không thể sống một mình
với bản thân nó được. Cho nên hoặc nó cần ai đó
trong thực tế, hoặc nếu trong thực tế ai đó không có
đó, thế thì nó tạo ra tưởng tượng. Tưởng tượng là cái
thay thế. Tâm trí không thể sống được một mình.
Đó là lí do tại sao bạn lại mơ vào ban đêm - bởi vì
trong giấc ngủ bạn một mình; thế giới biến mất.
Chồng bạn không còn đó nữa, con bạn không còn đó
nữa, vợ bạn không còn đó nữa, bạn đơn giản một
mình - và bạn đã trở nên không có khả năng một
mình. Tâm trí bạn đơn giản thay thế một thế giới mơ
khác vào; mơ, chu trình mơ cả đêm. Sao giấc mơ lại
được cần tới? Bởi vì bạn không thể một mình được.
Toàn thể ảo tượng này tồn tại quanh bạn là bởi vì
bạn đã không học một điều cơ bản - việc ở một mình.
Thiền sư này là đúng. Ông ấy nói, 'Đây là phép màu
vĩ đại nhất. Ta ngồi đây một mình với bản thân ta.'
Hiện hữu với bản thân mình và hạnh phúc với bản
thân mình, phúc lạc với bản thân mình, và không đi
vào tưởng tượng... thế thì bỗng nhiên người ta ở nhà,
người ta đi vào trong vực thẳm riêng của mình.
Nó có vẻ giống như trống rỗng khi bạn bước vào,
nhưng một khi bạn đã đi vào trong nó thì lại có chính
sự tràn đầy của hiện hữu, sự hoàn thành, sự nở hoa,
đỉnh cao nhất, cao trào. Nó không phải là trống rỗng.
Nó chỉ có vẻ là trống rỗng bởi vì bạn đã sống với
người khác và đột nhiên bạn bị thiếu người khác; đó
là lí do tại sao bạn lại diễn giải nó là trống rỗng.
Người khác không có đó, chỉ bạn mới có đó - nhưng
bạn không thể thấy được bản thân mình ngay bây giờ,
bạn đơn giản thiếu người khác.
Bạn đã trở nên quá quen; ý tưởng về người khác
đã trở thành thâm căn cố đế, nó đã trở thành thói quen
máy móc, cho nên khi bạn bỏ nó bạn cảm thấy mình
trống rỗng, cô đơn, rơi vào trong vực thẳm. Nhưng
nếu bạn cho phép và cứ rơi vào trong vực thẳm đó,
chẳng mấy chốc bạn sẽ nhận ra vực thẳm này đã biến
mất, và cùng với vực thẳm đó tất cả mọi gắn bó ảo
tưởng đã biến mất. Thế thì phép màu vĩ đại nhất xảy
ra - rằng bạn đơn giản hạnh phúc chẳng bởi lí do nào
cả.
Nhớ lấy, khi hạnh phúc của bạn phụ thuộc vào
người khác, thì bất hạnh của bạn cũng sẽ phụ thuộc
vào người khác. Nếu bạn hạnh phúc bởi vì người đàn
bà yêu bạn, bạn sẽ trở nên bất hạnh nếu cô ấy không
yêu bạn. Nếu bạn hạnh phúc vì bất kì lí do nào về bất
kì cái gì, thế thì bất kì ngày nào lí do đó không còn
nữa, bạn sẽ trở nên bất hạnh. Hạnh phúc của bạn bao
giờ cũng như trứng treo trên đá, bạn bao giờ cũng vẫn
còn trong lúc bão tố. Bạn sẽ chẳng bao giờ chắc chắn được liệu bạn có
hạnh phúc hay bất hạnh, bởi vì từng
khoảnh khắc bạn sẽ thấy đất dưới chân có thể biến
mất - bất kì khoảnh khắc nào nó cũng có thể biến mất.
Bạn không bao giờ có thể chắc chắn được. Người đàn
bà đó mỉm cười ngay bây giờ đấy, và thế rồi cô ấy lại
trở nên giận dữ. Người chồng đang nói hay thế và
bỗng nhiên anh ấy mất hút vào tâm trạng tức giận.
Phụ thuộc vào người khác là phụ thuộc thôi - nó
là tù túng, nó là phụ thuộc, và người ta không bao giờ
có thể cảm thấy thực sự phúc lạc được.
Phúc lạc là có thể chỉ trong tự do toàn bộ, vô điều
kiện. Đó là lí do tại sao ở phương Đông chúng ta gọi
nó là moksha. Moksha nghĩa là tự do tuyệt đối. Hiện
hữu với chính mình là moksha bởi vì bây giờ bạn
không phụ thuộc. Hạnh phúc của bạn đơn giản là của
riêng bạn, bạn không vay mượn nó từ bất kì ai. Không
ai có thể lấy được nó đi, ngay cả cái chết.
Nhớ lấy, cái chết chỉ tách bạn ra khỏi người khác,
nó chưa bao giờ tách bạn khỏi bản thân mình. Cái
chết dường như đáng sợ thế bởi vì nó sẽ lôi bạn ra
khỏi người khác - vợ sẽ không còn với chồng nữa, mẹ
sẽ không còn với con nữa. Cái chết chỉ tách bạn ra
khỏi người khác thôi. Nó không thể tách bạn ra khỏi
bản thân mình được; không có cách nào để tách bạn
ra khỏi bản thân mình.
Một khi bạn đã học được cách hiện hữu với chính
mình thế thì cái chết là vô nghĩa, thế thì cái chết
không tồn tại. Bạn trở thành bất tử. Thế thì cái chết
không thể lấy được gì từ bạn. Cái mà cái chết có thể
lấy đi được khỏi bạn, bạn đã buông xuôi theo cách
riêng của mình rồi.
Đó chính là tất cả mọi điều về thiền - buông xuôi
cái không bản chất, cái mà cái chết có thể lấy đi khỏi
bạn. Cái mà cái chết sẽ làm, thì thiền nhân làm theo
cách riêng của mình, một cách tự nguyện. Biết rõ điều
đó - rằng cái này sẽ bị lấy đi - người đó buông xuôi
nó.
Hiện hữu một mình là cực kì đẹp. Không có gì so
sánh được với nó. Cái đẹp của nó là cái đẹp tối
thượng, vĩ đại của nó là vĩ đại tối thượng, sức mạnh
của nó là sức mạnh tối thượng.
Quay về nhà đi. Và con đường là: bạn sẽ phải
chịu đựng cô đơn trước hết. Chịu đựng nó đi, đi qua
nó. Bạn phải trả giá cho phúc lạc sẽ là của bạn - bạn
phải trả giá cho nó. Việc chịu đựng đơn độc này chính
là việc trả giá cho nó. Bạn sẽ được lợi vô cùng.
Câu hỏi thứ hai
Thầy nói các sannyassin chỉ lo lắng về bản thân
họ thôi - và họ làm điều đó! Ở Arica chúng tôi có
điều được biết tới là thống nhất nhóm. Qui tắc là
thế này: Nhóm chỉ lên cao tới mức của thành viên
thấp nhất của nhóm. Do đó tiến hoá của chúng tôi
là gắn bó lẫn nhau. Nhân loại là một thể; sao
nhấn mạnh vào tính cá nhân nhiều hơn tính toàn
thể?
Vâng, chúng ta là một phần của nhau. Không chỉ
nhân loại là một, sự tồn tại là một. Nhưng tính một
này có thể được cảm thấy ở hai mức: một mức là
trong vô thức sâu và mức kia là trong siêu thức. Hoặc
bạn phải trở thành cái cây - thế thì bạn là một với cái
toàn thể; hoặc bạn phải trở thành vị phật - thế thì bạn
là một với cái toàn thể. Giữa hai điều này bạn không
thể là một với cái toàn thể được.
Ý thức mang tính cá nhân, vô thức mang tính toàn
thể; siêu thức mang tính toàn thể, ý thức mang tính cá
nhân. Cho nên nếu chỗ nào đó ở Arica hay chỗ nào đó
khác họ dạy bạn là một phần của nhóm, bạn sẽ trở nên
vô thức. Khả năng lớn hơn là ở chỗ bạn sẽ tụt về ý
thức của mình. Chừng nào bạn còn chưa trở thành vị
phật, bạn không thể trở thành cái một được, bạn
không thể biết tới cái một thực của cái toàn thể.
Cái một thực của cái toàn thể chỉ có thể được biết
tới theo hai cách: hoặc là trở thành vô thức, đánh mất
đi ý thức của bạn - tính cá nhân bị mất; hoặc vượt ra
ngoài ý thức - thế thì tính cá nhân của bạn bị mất.
Đó là lí do tại sao đám đông lại hấp dẫn mọi
người nhiều thế. Bạn đã bao giờ thấy mọi người trong
đám đông chưa, họ trông sung sướng thế nào? Người
Mô ha mét giáo sẽ phá huỷ đền thờ, hay người Hindus
sẽ giết người Mô ha mét giáo - nhìn sự sung sướng
làm sao, sôi sùng sục, phát toả năng lượng. Những
người đờ đẫn... bạn đã thấy họ trước đây, bước đi trên
phố - đờ đẫn, chết. Bây giờ bỗng nhiên họ đã trở
thành sống động - hò hét, trêu đùa lẫn nhau, xô lên
phía trước, cứ dường như cái gì đó đẹp đẽ đang sắp
xảy ra.
Sao mọi người lại cảm thấy sung sướng thế trong
đám đông? Sao sung sướng trong đám đông lại trở
nên lây nhiễm thế? Bởi vì trong đám đông họ rơi
xuống, họ trở thành vô ý thức. Họ làm mất tính cá
nhân của mình, họ hội nhập tính cá nhân của mình.
Bằng việc vứt bỏ ý thức của mình họ vứt bỏ tính cá
nhân của mình. Thế thì họ sung sướng, thế thì không
có lo nghĩ, thế thì không có trách nhiệm.
Bạn đã bao giờ quan sát sự kiện là các cá nhân
không phạm tội ác lớn trong thế giới không? Tất cả
những tội ác lớn đều do đám đông phạm phải, không
bao giờ bởi các cá nhân. Quân đội có thể phạm phải
hàng triệu tội ác. Hỏi từng cá nhân của quân đội đó và
họ sẽ bắt đầu cảm thấy có trách nhiệm. Hỏi họ, 'Một
mình anh có thể làm điều đó được không?' Họ sẽ nói,
'Không. Làm sao tôi có thể làm điều đó một mình
được? Đấy là đám đông, tôi trở nên bị mất hút trong
đó. Tôi quên mất bản thân mình. Tâm trạng đám
đông, trong đám người quá lớn. Tôi bị mất hút. Đám
đông đang làm điều gì đó, tôi đơn giản trở thành một
phần của nó. Tôi đã không làm điều đó.' Hỏi một
người Mô ha mét giáo, 'Anh có thể đốt đền hay giết
người Hindus được không?' Hỏi người Hindus, 'Anh
có thể sát hại người Mô ha mét giáo được không -
riêng cá nhân anh thôi?'
Đây là phép màu, nhưng chúng ta không quan sát
điều đó. Không cá nhân người Mô ha mét giáo nào
xấu cả, không cá nhân người Hindu giáo nào xấu cả...
cá nhân là những người đẹp đẽ, vì mọi người bao giờ
cũng đẹp. Trong đám đông bỗng nhiên họ đổi khuôn
mặt mình... sự biến hình xảy ra. Họ không còn là cá
nhân nữa, họ không còn là con người có ý thức nữa; họ bị mất đi. Thế
rồi đám đông có cách riêng của nó,
không ai có thể điều khiển được nó.
Thế thì tất nhiên, Arica là đúng - Qui tắc là thế
này: nhóm chỉ lên cao tới mức của cá nhân thấp nhất
của nó. Đó là lí do tại sao tôi lại nói đừng trở thành
thành viên của nhóm. Bằng không bạn sẽ ở thấp như
thành viên thấp nhất. Trở thành cá nhân đi. Trong
nhóm bạn bao giờ cũng sẽ tụt xuống mẫu số thấp
nhất.
Điều đó là tự nhiên, điều đó rất khoa học. Nếu
bạn bước đi cùng một nhóm một trăm người, thì
người đi chậm nhất sẽ quyết định tốc độ. Bởi vì người
chậm nhất không thể đi nhanh hơn được, người đó có
giới hạn của mình. Và nếu nhóm phải vẫn giữ là một
nhóm thì nhóm phải đi cùng với người chậm nhất.
Người đi nhanh hơn có thể đi chậm lại, nhưng người
đi chậm hơn thì không thể trở nên nhanh được; người
đó có giới hạn của mình.
Nhóm bao giờ cũng bị cai quản bởi người ngu.
Người ngu không thể trở nên thông minh được, nhưng
người thông minh thì có thể dễ dàng rơi lại và trở
thành ngu. Bạn đã từng thấy người ngu nào làm điều
gì thông minh bao giờ chưa? Nhưng bạn đã thấy
nhiều người thông minh làm những hành động ngu
xuẩn, hành động ngốc nghếch. Bất kì lúc nào bạn
cũng có thể trở thành ngu, nhưng lại không dễ thế để
trở nên khôn ngoan mọi khoảnh khắc. Người ngu rất
nhất quán - người đó vẫn còn ngu. Người đó không
thể thỉnh thoảng thông minh được, điều đó là không
thể được. Nhưng người khôn ngoan thì lại không nhất
quán thế; đôi khi người đó trở lại, trở thành ngu. Có
những khoảnh khắc ngu xuẩn trong cuộc sống của
người đó. Có những ngày nghỉ trong cuộc sống người
đó khi người đó xả hơi chút ít và không bận tâm tới
khôn ngoan của mình.
Nếu bạn bị buộc với một người thấp hơn bạn
trong tiến hoá, thế thì bạn sẽ phải đi cùng người đó.
Tất nhiên người đó không thể bước đi cùng bạn được.
Do đó tôi nói tôi cũng tin vào qui tắc này, nhưng tôi
diễn giải nó theo cách khác. Qui tắc này hoàn toàn
đúng - Nhóm chỉ lên cao tới mức của người thấp nhất
của nhóm thôi. Cho nên nếu bạn muốn đi lên cao, xin
nhớ lấy - đừng bao giờ trở thành thành viên của bất kì
nhóm nào. Nhớ lấy vẫn còn là cá nhân. Thế thì bạn tự
do đi theo nhịp riêng của mình. Thế thì bạn hoàn toàn
tự do đi một mình. Trong nhóm bạn bị buộc lại.
Và tất nhiên, người ngu có khuynh hướng tạo
thành nhóm bởi vì một mình họ không thể dựa vào
bản thân mình được. Họ sợ, họ không có thông minh
nào. Họ biết rằng một mình họ sẽ bị lạc. Họ có
khuynh hướng tạo thành nhóm, đám đông. Cho nên
bất kì khi nào nhà thờ tồn tại, bất kì khi nào giáo phái
tồn tại, chín mươi chín phần trăm nó bao gồm người
ngu. Nó phải như vậy. Họ quyết định chính sách của
tôn giáo, chính trị và mọi thứ.
Nhận biết về sự thống trị của quần chúng này và
tỉnh táo. Bởi vì trong bạn cũng có những khoảnh
khắc, những khoảnh khắc ngu xuẩn, khi bạn muốn
thảnh thơi. Thế thì bạn không chịu trách nhiệm, thế
thì không có lo nghĩ. Thế thì bạn bao giờ cũng có thể
đổ trách nhiệm lên nhóm. Bạn bao giờ cũng có thể
nói, 'Tôi có thể làm được gì nào? Tôi bước đi cùng nhóm, và nhóm đi
chậm, cho nên tôi đi chậm. Thành
viên chậm nhất đang quyết định mọi thứ.'
Nếu bạn thực sự muốn trưởng thành, hãy một
mình. Nếu bạn thực sự muốn tự do, có trách nhiệm đi.
Do đó tôi nhấn mạnh vào tính cá nhân. Điều đó không
có nghĩa là tôi không biết rằng vũ trụ là một. Nhưng
có hai cách để biết nó: hoặc tụt xuống dưới ý thức, thế
thì vũ trụ là một - nhưng thế thì bạn không biết nó bởi
vì bạn đã tụt xuống dưới ý thức; hay, vươn lên trên ý
thức, trở thành siêu thức, trở nên chứng ngộ, trở thành
vị phật. Thế thì bạn cũng biết rằng cái toàn thể là một,
nhưng thế thì cái toàn thể không thể lôi bạn xuống
được. Thực tế vị phật bắt đầu lôi cái toàn thể lên.
Trong trạng thái vô thức, cái thấp nhất xác định tỉ
lệ trưởng thành. Trong trạng thái siêu thức cái cao
nhất, cái lớn nhất quyết định. Vị Phật kéo bạn lên.
Chính sự hiện diện của ông ấy kéo bạn lên tới những
đỉnh cao còn chưa được biết tới với bạn, chưa từng
được mơ tới. Thế thì cái cao nhất trở thành nhân tố
quyết định.
Đó là lí do tại sao ở phương Đông chúng ta bao
giờ cũng nhấn mạnh vào tính cá nhân, và chúng ta bao
giờ cũng nhấn mạnh vào việc tìm ra thầy riêng hơn là
trở thành một phần của bất kì nhóm nào. Có liên hệ cá
nhân với một thầy đi. Thế thì cái cao nhất xác định
cuộc sống của bạn; thế thì bạn có thể được thầy kéo
lên. Trong một nhóm, cái thấp nhất sẽ xác định cuộc
sống của bạn.
Đừng là người Hindu. Nếu bạn có thể tìm thấy
Krishna, nhất định đi theo - nhưng đừng là người
Hindu giáo. Đừng là người Ki tô giáo. Nếu bạn có thể
tìm thấy Jesus ở đâu đó, chạy xô về ông ấy, quên hết
tất cả đi... Nhưng nếu bạn không thể tìm ra một Jesus,
đừng là người Ki tô giáo, bởi vì Ki tô giáo là đám
đông. Jesus là siêu cá nhân. Tìm ra một thầy và sống
trong satsang với thầy, sống trong sự hiện diện của
thầy - và để nó là mối liên hệ cá nhân.
Tôi cho bạn tính chất sannyas. Bạn không trở
thành một phần của bất kì nhà thờ nào, bạn không trở
thành một phần của bất kì đám đông nào. Mối quan
hệ của bạn mang tính cá nhân với tôi. Có hàng nghìn
sannyasin, nhưng từng sannyasin đều có liên hệ cá
nhân với tôi. Bạn không có liên hệ với sannyasin khác
chút nào, nhớ lấy. Mối quan hệ của bạn là với tôi...
một cách cá nhân, một cách riêng tư.
Bạn không có quan hệ với các sannyasins như
một nhóm. Không có nhu cầu. Bạn tất cả chỉ có quan
hệ với tôi một cách cá nhân, và tất nhiên bạn có quan
hệ theo cách nào đó với nhau, nhưng điều đó là bởi vì
tôi. Mối quan hệ đó là không trực tiếp, nó là thông
qua tôi.
Và tôi muốn bạn trở nên ngày một cá nhân hơn.
Một ngày nào đó bạn sẽ trở thành vũ trụ, nhưng đó là
hi vọng, nó chưa phải là thực tại - chưa phải dành cho
bạn. Và nếu bạn muốn làm cho nó thành thực tại, bạn
sẽ phải trở nên ngày một ý thức hơn - ý thức cao tới
mức một ngày nào đó ý thức không được cần tới nữa.
Bạn đã trở thành ý thức tới mức ý thức không còn
được cần tới nữa, bạn có thể gạt nó sang bên.
Đi và xem người say bước đi trên phố. Người đó
đã làm gì? Người đó đã làm cùng điều như vị phật.
Quan sát vị phật và quan sát người say - họ cả hai đều làm cùng một
điều. Người say đã rơi vào vô thức và
trở thành một phần của vũ trụ. Người đó đã uống rượu
để làm chìm ngập ý thức và lo nghĩ, tính cá nhân của
mình. Người đó đã trở thành một phần của vô thức
tập thể.
Và thế rồi có Phật, bước đi với vẻ duyên dáng,
với vẻ đẹp, với sự vĩ đại của ông ấy. Ông ấy cũng đã
biến mất - nhưng không giống người say. Ông ấy đã
không tụt xuống dưới nhân loại, ông ấy đã vượt ra
ngoài nhân loại. Cả hai theo một cách nào đó là tương
tự, bởi vì cả hai đều không là cá nhân. Cho nên người
say có cái gì đó tương tự như vị phật - cả hai đều
không là cá nhân. Vậy mà bạn không thể tìm thấy
được hai người ở xa nhau thế, ở các cực đoan thế - thế
mà họ lại có cái gì đó tương tự.
Hay, lấy một ví dụ khác. Patanjali nói rằng ngủ và
samadhi (định), ngủ say và samadhi, là giống nhau.
Bởi vì trong samadhi cá nhân biến mất và trong giấc
ngủ say cá nhân cũng biến mất. Trong giấc ngủ say
bạn trở thành một phần của vô thức, vô thức tập thể.
Trong samadhi bạn trở thành một phần của siêu thức
tập thể.
Chúng là tương tự và vậy mà chúng là các cực
điểm, các cực đối lập. Sự tương tự chỉ là một - rằng
trong cả hai bản ngã biến mất. Nhưng nó biến mất
theo những cách khác nhau. Trong giấc ngủ bạn lại
trở thành giống như cây cỏ. Bạn sống vô vị, bạn giống
như tảng đá; bạn không có tính cá nhân nào.
Trong samadhi bản ngã bị vứt bỏ. Bây giờ bạn
không có giới hạn nào, không định nghĩa, bạn được
hội nhập với cái toàn thể - nhưng được hội nhập với
cái toàn thể trong nhận biết vô cùng. Bạn không ngủ.
Lo nghĩ đã biến mất, bởi vì lo nghĩ chỉ tồn tại với bản
ngã. Cho nên có hai cách để vứt bỏ lo nghĩ - hoặc trở
thành một phần của một nhóm, hoặc trở thành một
phần của bình diện siêu thức.
Người Aricans nói điều gì đó đúng, nhưng điều
họ làm lại tuyệt đối sai.
Thầy nói các sannyassin hãy chỉ lo lắng về bản
thân họ thôi - và họ làm điều đó!
Vâng, tôi nói với họ hãy chỉ lo nghĩ về phần họ
thôi, bởi vì ngay bây giờ điều đó nên là mối quan tâm
duy nhất của họ. Nếu họ bắt đầu lo nghĩ về toàn thế
giới thì họ sẽ không có khả năng làm gì cả. Thậm chí
lo nghĩ về bản thân mình cũng là quá nhiều rồi. Gạt
bỏ những lo nghĩ đó cũng là quá nhiều rồi, điều đó là
khó, và nếu bạn lo nghĩ về toàn thể thế giới thế thì
không có cách nào thoát ra khỏi nó cả. Thế thì bạn có
thể chắc chắn bạn bao giờ cũng sẽ vẫn còn lo nghĩ.
Và đừng nghĩ cho dù là một khoảnh khắc rằng
bạn đang giúp cho thế giới bằng việc lo nghĩ về nó.
Bạn chẳng giúp gì thế giới bằng việc lo nghĩ về nó,
bởi vì người lo không thể giúp được ai cả. Người đó
là lực huỷ hoại.
Cho nên trước hết giảm nỗi lo xuống mức tối
thiểu đi. Tức là, hạn chế nỗi lo của bạn vào bản thân
mình thôi, thế là đủ rồi. Tuyệt đối ích kỉ. Vâng, đó là
điều tôi nói đấy - tuyệt đối ích kỉ nếu bạn muốn giúp đỡ người khác.
Nếu một ngày nào đó bạn muốn thực
sự vị tha, thì vị kỉ đã.
Trước hết thay đổi con người bạn. Trước hết tạo
ra ánh sáng bên trong trái tim bạn, trở nên toả sáng.
Thế thì bạn có thể giúp được người khác. Và bạn sẽ
có khả năng giúp đỡ mà không lo lắng. Bởi vì lo lắng
chẳng bao giờ giúp được ai cả. Ai đó sắp chết và bạn
ngồi bên cạnh người đó và bạn lo lắng. Điều đó sẽ
giúp đỡ thế nào được? Nếu bệnh nhân sắp chết và bác
sĩ lo lắng, điều đó sẽ chẳng giúp ích gì. Bác sĩ lo lắng
bao nhiêu cũng là vô ích. Ông ấy phải làm điều gì đó.
Và khi bệnh nhân sắp chết, cần có bác sĩ biết cách
không lo lắng. Chỉ thế thì ông ấy mới có thể có ích,
bởi vì chỉ thế thì chẩn đoán của ông ấy mới rõ ràng
hơn, đúng đắn hơn. Đó là lí do tại sao nếu bạn ốm và
chồng bạn là bác sĩ, anh ấy sẽ không có ích gì nhiều,
bởi vì anh ấy sẽ lo lắng quá nhiều về bạn. Cần có ai
đó là người khách quan.
Đứa trẻ cần mổ. Bố nó có thể là nhà giải phẫu lớn,
nhưng ông ấy không được phép mổ cho đứa con bởi
vì ông ấy sẽ lo lắng quá nhiều. Tay ông ấy sẽ run -
con của ông ấy mà; ông ấy không thể chỉ là người
quan sát. Ông ấy không thể khách quan được, ông ấy
bị dính líu quá nhiều. Ông ấy sẽ giết chết đứa trẻ. Cần
nhà giải phẫu nào đó khác, người có thể vẫn còn vô
tư, người có thể vẫn còn ở xa xăm, xa rời, cách xa,
không lo lắng.
Cho nên nếu bạn thực sự muốn giúp cho nhân
loại, trước hết bạn phải trở thành không lo lắng. Và để
trở nên không lo lắng trước hết bạn phải vứt bỏ những
lo nghĩ không cần thiết. Đừng nghĩ tới thế giới vội.
Thế giới vẫn tiếp tục điều đó và nó sẽ tiếp tục điều đó.
Đừng ngu xuẩn. Tất cả những người không tưởng đều
có chút ít ngu xuẩn - họ mong đợi cái gì đó sẽ chẳng
bao giờ xảy ra, chưa bao giờ xảy ra cả.
Tất cả mọi điều đều là có thể - hiện thực đi, khoa
học đi - tất cả mọi điều có thể là ở chỗ bạn có thể siêu
việt lên trên lo lắng. Cho nên lo về bản thân mình đi
và tìm ra cách vượt lên trên chúng đi, vượt ra ngoài
chúng. Khi bạn đã vượt ra ngoài rồi, bạn có thể cực kì
có ích cho thế giới.
Câu hỏi thứ ba
Phần lớn thời gian tôi cảm thấy dường như mình
chỉ tồn tại trong con mắt của người khác, dường
như tôi phản ứng lại mong đợi của họ về tôi. Tôi
cảm thấy không phải là tôi đã siêu việt lên trên
bản ngã, nhưng dường như tôi không có bản ngã,
không có bản thể, không bản chất. Tôi cảm thấy
không thực thế. Tôi ở đâu đây? Tôi có thể làm gì -
hay không làm gì?
Điều đầu tiên - không chỉ bạn tồn tại trong con
mắt của người khác đâu; mọi người đều tồn tại theo
cách đó. Đó là cách thức thông thường của sự tồn tại.
Bạn dùng người khác làm tấm gương. Ý kiến của
người khác trở thành rất quan trọng, có giá trị mênh
mông - bởi vì chúng định nghĩa ra bạn.
Ai đó nói bạn đẹp; trong khoảnh khắc đó bạn trở
thành đẹp. Ai đó nói bạn ngu; trong khoảnh khắc đó
bạn bắt đầu nghi ngờ - có thể bạn là người ngu thật.
Bạn có thể bực mình, bạn có thể phủ nhận, nhưng sâu
bên dưới bạn đã trở nên nghi ngờ về thông minh của
mình. Ai đó nói bạn thánh thiện thế và bạn bắt đầu
hành xử như người thánh thiện, bởi vì bạn phải giữ
hình ảnh của mình.
Một khi xã hội đã quyết định rằng bạn là tội đồ,
thì bạn bắt đầu cư xử như tội đồ. Bởi vì bây giờ phỏng
có ích gì nữa? Họ đã quyết định rằng bạn là tội đồ rồi
mà. Dù bạn có là tội đồ hay không thì cũng chẳng
thành vấn đề gì mấy, cho nên sao không là tội đồ đi
cho rồi? Một khi một người vào tù, người đó trở thành
khách thăm vĩnh viễn ở đó; người đó cứ tới đó mãi.
Một khi xã hội đã biết rằng người đó là tội đồ và
người đó đã bị trừng phạt, một khi người đó đã bị dán
nhãn là tội đồ, thì người đó quyết định, 'Bây giờ thì
phỏng còn có ích gì?'
Các nhà tâm lí nói rằng nếu trong gia đình bạn bị
đối xử như người ngu hay như anh hề, thì dần dần bạn
bắt đầu đóng vai đó. Bạn phải chấp nhận nó bởi vì
bạn không biết mình là ai. Ít nhất mọi người cũng gọi
là đồ ngu; họ cho bạn một định nghĩa nào đó. Bạn có
thể tin vào họ. Một khi một đứa nhỏ được bảo rằng nó
là ngu - ở nhà, ở trường - thì nó bắt đầu cư xử theo
cách ngu xuẩn, bởi vì điều đó trở thành định nghĩa
của nó. Bằng không thì nó không biết mình là ai.
Điều đầu tiên cần hiểu - không chỉ bạn đang tồn
tại chỉ trong con mắt người khác đâu; mọi người đều
tồn tại trong con mắt của người khác. Đây là thế giới.
Đây là điều ở Ấn Độ chúng ta gọi thế giới là maya, ảo
tưởng. Bạn tồn tại trong con mắt người khác và người
khác tồn tại trong con mắt của bạn. Đó là lừa dối lẫn
nhau. Họ không biết họ là ai, bạn không biết bạn là ai.
Bạn định nghĩa họ, họ định nghĩa bạn. Đó là thủ đoạn
qua lại. Họ chơi trò định nghĩa bạn; bạn chơi trò định
nghĩa họ. Và tất cả các định nghĩa đều là giả, bởi vì
linh hồn bạn chưa bao giờ được phản chiếu trong con
mắt của bất kì ai.
Nếu bạn muốn biết mình là ai, bạn thậm chí sẽ
phải nhắm mắt mình lại - bạn sẽ phải đi vào bên
trong. Bạn sẽ phải quên đi cả thiên hạ, bạn sẽ phải
quên đi điều họ nói về bạn. Bạn sẽ phải đi sâu vào bên
trong mình và đương đầu với thực tại riêng của mình.
Đó là điều tôi đang thuyết giảng ở đây - đừng phụ
thuộc vào người khác, đừng nhìn vào mắt họ. Không
có manh mối nào trong mắt của họ đâu. Họ vô nhận
biết cũng như bạn vậy - làm sao họ có thể định nghĩa
được bạn?
Tôi đã nghe nói về hai nhà chiêm tinh mọi sáng
thường hay ra chợ của thị trấn nào đó để ngồi đó và
nói cho mọi người về tương lai của họ. Vào buổi sáng
họ sẽ tới và chìa tay mình ra cho nhau, chỉ để biết
tương lai riêng của mình, điều gì sẽ xảy ra vào ngày
hôm đó, liệu họ có kiếm được tiền hay không. Và nhà
chiêm tinh này sẽ nói về nhà chiêm tinh kia, và người
kia sẽ nói về người này, và họ cả hai đều sung sướng.
Điều đó tất nhiên là không mất tiền, bởi vì cả hai đều
phục vụ cho nhau. Bây giờ, những người đó đang tiên
đoán về tương lai của người khác đấy!
Một lần chuyện xảy ra, tôi ở trong một thành phố
và vài người bạn đưa một nhà chiêm tinh rất nổi tiếng
tới gặp tôi. Ông ấy chỉ xem tay cho nếu bạn trả cho
ông ấy một nghìn lẻ một ru pi. Ông ấy cứ nghĩ rằng
tất nhiên ông ấy được trả tiền. Ông ấy nhìn tay tôi và
thế rồi ông ấy đòi tiền. Tôi nói, 'Ông không thể thấy
được rằng tôi sẽ không trả tiền sao? Ông không thể
thấy được chừng đó sao? Nếu ông mà là nhà chiêm
tinh thực sự và ông biết tương lai của tôi, thì ông ít
nhất cũng phải biết tương lai của ông chứ.'
Các bạn đang nhìn vào mắt nhau để xem mình là
ai. Vâng, phản xạ nào đó có đấy, khuôn mặt của bạn
được phản xạ đấy. Nhưng khuôn mặt của bạn không
phải là bạn; bạn còn ở xa đằng sau khuôn mặt đó.
Khuôn mặt của bạn đã thay đổi nhiều tới mức bạn
không thể là khuôn mặt của mình được.
Bạn có nhớ bạn trông như thế nào vào ngày đầu
tiên khi bạn vào bụng mẹ bạn không? Chẳng có
khuôn mặt nào cả. Bạn có đó, nhưng không có mặt.
Bạn không thể nào được thấy bằng mắt trần; chỉ kính
hiển vi mới giúp cho thấy được. Và không có mặt
đâu, bạn chỉ là một thân thể, một tế bào. Nhưng bạn
có đó.
Thế rồi bạn bắt đầu lớn lên và nhiều khuôn mặt
trôi qua. Và thế rồi bạn được sinh ra. Nếu ai đó đem
bức ảnh của bạn vào cái ngày bạn được sinh ra đó,
bạn có cho rằng bạn sẽ có khả năng nhận ra đó là bạn
không? Vâng, nếu ai đó nói - mẹ bạn và bố bạn - rằng
đây là bạn, thì bạn có thể tin, nhưng bạn không thể
nhận ra được rằng đây là bạn. Thay đổi thường
xuyên... khuôn mặt bạn là một luồng. Nó cứ thay đổi
mọi ngày, mọi khoảnh khắc.
Bạn không phải là khuôn mặt. Đâu đó sâu bên
dưới được giấu kín là tâm thức bạn; nó chưa bao giờ
được phản xạ vào trong mắt của bất kì ai. Vâng, vài
điều có được phản xạ: hành động của bạn. Bạn làm
điều gì đó; điều đó được phản xạ trong mắt người
khác. Nhưng việc làm của bạn không phải là bạn. Bạn
còn vĩ đại hơn nhiều so với hành động của bạn.
Hành động chỉ giống như lá khô, lá úa rơi xuống
từ trên cây. Hành động giống như lá khô, lá chết rơi
rụng đi khỏi bạn - nó không phải là bạn. Trong hành
động của bạn không có định nghĩa nào về bạn cả. Cứ
dường như là bạn đi dưới cái cây và thu nhặt tất cả
những lá khô và bạn nghĩ bạn đã biết cái cây. Cái cây
còn lớn lao hơn nhiều, sống động. Bất kì hành động
nào, khoảnh khắc nó được hoàn thành, nó chết. Nó là
một phần của quá khứ, nó không còn sống nữa, nó là
cái lá chết.
Vâng, nhiều hành động xảy ra cho bạn như lá xảy
ra cho cây. Nhưng chúng cứ xảy ra. Và có những
khoảnh khắc khi tất cả các lá đều rơi rụng đi và cây
trơ trụi còn lại, trần trụi nổi trên trời... không lá. Cho
nên lá không thể định nghĩa ra cây được, chúng tới rồi
đi. Đến mùa rụng lá chúng biến mất, đến mùa xuân
chúng lại tới. Tán lá lớn lại tới, mầu lục lớn lại tới,
hoa lớn lại tới - nhưng cây là cái gì đó khác.
Bạn là sự hiện hữu đó - cái cây. Hành động tới và
đi; hành động không định nghĩa ra bạn, chúng được
phản xạ. Và thực tế mọi người không nói về hành
động của bạn đâu, họ nói về diễn giải của họ về hành động của bạn. Họ
không nói điều bạn đã làm, họ lập
tức đánh giá nó. Chẳng hạn, nếu bạn giận, họ nghĩ
bạn đang làm điều gì đó xấu. Họ không phản xạ giận
dữ của bạn, họ phản xạ thái độ của họ về cơn giận.
Bây giờ nghiên cứu hiện đại về tâm trí con người
nói rằng giận dữ là đẹp, nó không xấu, thực tế kìm
nén giận dữ mới xấu - đó là diễn giải mới. Nếu bạn
kìm nén giận dữ nó trở thành hận thù - hận thù là giận
dữ bị kìm nén thường xuyên. Nếu bạn đơn giản bày tỏ
giận dữ của mình thì bạn không bao giờ tích luỹ giận
dữ đủ để tạo ra hận thù.
Cũng giống như đứa trẻ nhỏ - trong một khoảnh
khắc nó giận dữ thế, bốc lửa, cứ dường như nó có thể
phá huỷ toàn thế giới, và khoảnh khắc tiếp nó lại chơi
với cùng đứa trẻ đó, hay ngồi vào lòng bạn, cười rinh
rích - nó đã quên hoàn toàn. Nó không mang ác ý, nó
không mang hận thù. Bất kì cái gì tới, đều trôi qua.
Giận dữ tới như làn gió thoảng và qua đi.
Nếu bạn kìm nén giận dữ thế thì bạn cứ chồng
chất nó, bên trong nó cứ tích luỹ lại. Nó trở thành mủ,
và thế rồi nó bùng nổ một ngày nào đó thành hận thù.
Người dễ dàng nổi cơn giận thì không bao giờ có thể
giết người được. Người không bao giờ trở nên giận và
bao giờ cũng trong kiểm soát - cảnh giác với người
đó. Người đó có thể giết người một ngày nào đó bởi
vì người đó đang tích luỹ.
Bây giờ, đây là diễn giải mới. Tôi không nói liệu
điều này là đúng hay sai, tôi đơn giản nói cách diễn
giải thay đổi. Trong quá khứ, giận dữ là xấu và người
giận dữ là người ác. Bây giờ Phong trào tiềm năng
nhân bản đã tạo ra một cách diễn giải mới. Họ nói
giận dữ là tốt, nó đơn giản chỉ ra sự sống động; nó là
năng lượng thuần khiết, nó là việc trao đổi; nó là tự
nhiên, nó mang tính con người, không có gì sai trong
nó, đừng kìm nén nó - hãy tận hưởng nó.
Tâm lí học mới nói nếu bạn tận hưởng giận dữ thì
bạn sẽ trở nên có nhiều khả năng hơn để tận hưởng
tình yêu. Tâm lí học cũ hay nói rằng nếu bạn trở nên
giận dữ thì bạn sẽ đánh mất tất cả tình yêu, thế thì tình
yêu của bạn sẽ biến mất. Bây giờ cách diễn giải đã
thay đổi hoàn toàn. Bây giờ nếu bạn kìm nén giận dữ
thì bạn sẽ trở thành ghét bỏ; hận thù sẽ được tích luỹ.
Và nếu bạn diễn đạt giận dữ, nó không là gì ngoài
việc diễn đạt của tình yêu.
Thực tế bạn trở nên giận dữ chỉ với người bạn
chăm sóc tới, bằng không bạn không bận tâm. Con
bạn đang làm điều gì đó; bạn trở nên giận dữ bởi vì
bạn chăm sóc, bởi vì bạn yêu. Vợ bạn đang làm điều
gì đó; bạn trở nên giận dữ bởi vì bạn yêu, bạn chăm
sóc. Vợ hàng xóm đang làm cùng một điều. Cứ để cô
ấy làm - ai bận tâm? Bạn chưa bao giờ trở nên giận dữ
bởi vì không có quan hệ. Giận dữ là mối quan hệ.
Lại để tôi nhắc bạn tôi không nói ai đúng, ai sai.
Tôi đơn giản nói rằng cách diễn giải thay đổi và mọi
người không phản xạ bạn hay hành động của bạn; họ
phản xạ cách diễn giải của họ. Bây giờ nếu một người
truyền thống, kiểu cổ mà quan sát bạn giận dữ, trong
cơn cáu kỉnh, nhảy lên và đi lại và ném đồ đạc, người
đó sẽ nói bạn điên. Còn người nhân văn sẽ nói bạn là
con người.
Tôi đã nghe:
Cô y tá trẻ vừa mới hoàn thành khoá huấn luyện
và không may bắt gặp một bệnh nhân đặc biệt khó
tính vào ngày đầu tiên trong khu bệnh viện. Ông ta
phàn nàn về mọi thứ, cứ mong đợi mọi người phục vụ
mọi nhu cầu của ông ta không chậm trễ, và nói chung
bản thân ông ta là mối phiền hà lớn.
Cô y tá đáng thương mệt mỏi quá sức chịu đựng
và, nhớ tới bài học về mối quan hệ y tá - bệnh nhân,
cuối cùng mất hết sự kiểm soát và bực tức thốt lên, 'A
cái ông này - ông con người này!'
Bây giờ thậm chí 'con người' cũng có thể được
dùng trong một câu kết án: 'A cái ông này - ông con
người này!' Điều đó tuỳ thuộc vào cách diễn giải của
bạn.
Bản thể bạn chưa bao giờ được phản ánh trong
con mắt của người khác. Bản thể bạn phải đi tới biết
chỉ theo một cách - và đó là bằng việc nhắm mắt lại
với mọi tấm gương. Bạn phải đi vào trong sự tồn tại
nội tâm riêng của mình, đối diện trực tiếp với nó.
Không ai có thể cho bạn ý tưởng nào về nó, nó là gì.
Bạn có thể biết nó, nhưng không từ người khác. Nó
không bao giờ có thể là tri thức vay mượn, nó chỉ có
thể là kinh nghiệm trực tiếp, việc kinh nghiệm trực
tiếp, tức khắc.
Cho nên, đừng lo nghĩ về nó.
"Tôi cảm thấy không phải là tôi đã siêu việt lên
trên bản ngã, nhưng dường như tôi không có bản ngã,
không có bản thể, không bản chất. Tôi cảm thấy
không thực thế. Tôi ở đâu đây?" Bạn đang ở ngay
giữa hai thế giới này. Điều đó xảy ra cho mọi thiền
nhân. Hừ? Bạn đã có sự đồng nhất được thu thập từ
con mắt của người khác, được chọn lựa từ ý kiến của
người khác. Thế rồi bạn bắt đầu đi vào bên trong; sự
đồng nhất đó trở nên mơ hồ, mơ hồ hơn, bắt đầu biến
mất. Bạn không biết mình là ai, và tất cả mọi điều bạn
biết về bản thân mình lại đang biến mất. Một ngày
nào đó bạn đứng ở giữa.
Đây là khoảnh khắc chuyển dịch. Bạn còn chưa
vào, và bạn đã rời xa khỏi cái bên ngoài. Bạn đang
đứng ngay trên ngưỡng cửa. Thế giới không còn đó
nữa, nhưng bạn cũng chưa hiện hữu. Trong khoảnh
khắc này người ta cảm thấy rất không thực, chỉ là ảo
ảnh, bởi vì người ta không có ý tưởng nào mình là ai,
và tất cả mọi ý tưởng người ta đã có thì đều đã mất.
Và trong thực tế không ai có thể siêu việt lên trên
bản ngã được bởi vì bản ngã không tồn tại. Khi chúng
ta nói 'siêu việt lên trên bản ngã' điều đó đơn giản
nghĩa là đi tới biết rằng bản ngã không tồn tại. Nó
không phải là cái gì đó thực mà bạn có thể siêu việt
lên trên hay bạn có thể vứt bỏ đi, nó là một ý tưởng
không thực mà bạn chỉ phải hiểu ra. Chính việc hiểu
đó là siêu việt.
Bây giờ để tôi nhắc lại toàn bộ câu hỏi.
Phần lớn thời gian tôi cảm thấy dường như mình
chỉ tồn tại trong con mắt của người khác, dường
như tôi phản ứng lại mong đợi của họ về tôi. Tôi
cảm thấy không phải là tôi đã siêu việt lên trên
bản ngã, nhưng dường như tôi không có bản ngã,
không có bản thể, không bản chất. Tôi cảm thấy
không thực thế. Tôi ở đâu đây? Tôi có thể làm gì,
hay không làm gì?
Bạn đang trên ngưỡng đấy. Bạn đã đi tới hiểu ra
rằng sự đồng nhất của bạn trong con mắt của người
khác là giả tạo. Do đó bạn không thể tạo ra được bản
ngã của mình. Chính thức ăn cho bản ngã đã biến mất.
Bạn cảm thấy không thực. Bản ngã đã từng là thực tại
duy nhất của bạn cho tới giờ, và bạn cảm thấy mất đi,
bạn không biết mình là ai, nhưng tôi biết bạn ở đâu.
Bạn đang ở ngay chính giữa của hai thế giới - thế giới
này và thế giới kia. Bạn đang ở ngay khoảnh khắc
chuyển đổi giữa sansara và sannyas - giữa thế giới và
việc từ bỏ thực.
Bây giờ, vào khoảnh khắc này bạn không được
mong đợi phải làm gì, bởi vì bất kì cái gì bạn làm
cũng đều sẽ đưa bạn trở lại trong thế giới. Việc làm
đưa mọi người vào trong thế giới. Chẳng ai mong đợi
bạn phải làm cái gì cả. Bạn không định làm gì, bạn
đơn giản chờ đợi và quan sát, không làm. Không làm
sẽ có tác dụng.
Đừng làm gì cả và đừng cố gắng thay đổi tình
huống này, bởi vì nếu bạn cố gắng thay đổi nó thì bạn
sẽ lại rơi về thế giới quen thuộc đã biết riêng của
mình; bạn sẽ lại níu bám lấy sự đồng nhất cũ của
mình. Bạn đơn giản chờ đợi. Chỉ bằng việc chờ đợi,
và dần dần bạn sẽ trượt vào trong thế giới nội tâm.
Chẳng cần làm cái gì về nó cả, chỉ vô làm mới có tác
dụng.
Điều đó cũng giống như dòng suối bị ngầu bùn.
Bạn làm gì để làm trong lại dòng suối? Bạn đơn giản
ngồi trên bờ; dần dần cát bụi lắng xuống. Dòng suối
lại tuôn chảy trong veo, trong như pha lê. Chỉ chờ đợi
thôi. Ngồi ở giữa hai thế giới này. Tôi biết điều đó rất
bất tiện, rất không thoải mái. Người ta muốn có thực
tại nào đó, và điều đó lại rất không thực. Nhưng chờ
đợi đi.
Đây chính là điều, trên con đường, vẫn được gọi
là khổ hạnh, tapascharya. Đây là điều gian nan, gian
nan thực sự - khi người ta đang làm mất đi cái cũ mà
cái mới còn chưa tới. Bạn đã lấy bước nhảy từ cái cũ
và bạn còn chưa có khả năng tìm ra nơi tiếp đất - vẫn
đang treo ở giữa, trong trạng thái lơ lửng. Điều đó
không thoải mái, nhưng đợi đấy. Mọi sự sẽ tự chúng
lắng đọng.
Trong thế giới bên trong, hành động là không
được cần tới; chỉ vô hành động mới có ích. Vô hành
động chính là hành động của thế giới bên trong. Lão
Tử gọi nó là vô vi - hành động vô hành động, hành
động thụ động. Bạn không làm gì, bạn đơn giản chờ
đợi và mọi sự xảy ra chỉ bởi chờ đợi của bạn.
Điều tốt là bạn cảm thấy được tự do với ý kiến
của người khác. Là không thực còn tốt hơn là thực
một cách giả tạo. Cái phi thực tại của bạn có cái thực
tại trong nó. Khi bạn là thực trong con mắt của người
khác, bạn là thực một cách giả tạo đấy. Bạn chỉ có vẻ là thực thôi,
bạn không phải là thực. Và bây giờ bạn
đã hiểu ra, nhận biết đi - cái bẫy thì lớn và ở mọi phía
xung quanh, và mọi người đều sẵn sàng buộc bạn trở
lại trong bẫy, bởi vì không ai muốn bạn thoát ra ngoài
cái bẫy của họ. Bố muốn bạn làm mọi điều theo cách
ông ấy muốn chúng xảy ra. Mẹ muốn bạn làm mọi
điều như bà ấy muốn chúng được làm. Vợ có ý tưởng
riêng của mình, con bạn, chúng có ý tưởng riêng của
chúng. Và mọi người đều nghĩ rằng mình có manh
mối đúng, và họ tất cả đều cứ làm cho bạn thành lẩm
cẩm.
Tôi đã nghe:
Tấm màn quen thuộc được đặt cẩn thận ở vị trí
xung quanh giường của bệnh nhân, và người y tá đi
vào cầm thước dây. Bệnh nhân vẫn còn im lặng và
không phản đối khi cô y tá đo anh ta từ đầu tới chân
và từ vai nọ sang vai kia, nhưng không thể kìm mình
được lâu hơn khi cô ta đo khoảng cách từ nệm trên
giường tới chiều cao của dạ dầy thay vì chiều rộng.
'Cô làm cái quái quỉ gì thế này, cô y tá?' anh ta hỏi
một cách yếu ớt.
'Tôi đo anh để làm quan tài,' một lời đáp thật bất
ngờ.
'Nhưng tôi đã chết đâu!'
'Anh im đi! Bác sĩ là đồ ngốc sao?'
Bây giờ, bác sĩ nói, mà bác sĩ thì biết rõ hơn liệu
bạn chết hay sống. 'Anh im đi!' cô ta nói. 'Bác sĩ là đồ
ngốc sao?'
Bất kì điều gì bạn làm cũng đều sai, bởi vì bạn sẽ
đi ngược lại ý muốn của ai đó, ý tưởng của ai đó. Rất
khó làm hài lòng tất cả mọi người, và nếu bạn cứ cố
gắng làm hài lòng tất cả, bạn đơn giản sẽ làm phí hoài
cuộc đời mình. Và không ai hài lòng cả, không ai có
thể được hài lòng, không thể nào làm hài lòng cho
mọi người.
Chấm dứt đáp ứng các mong đợi của người khác
đi, bởi vì đó là cách duy nhất bạn có thể tự tử. Bạn
không ở đây để hoàn thành mong đợi của bất kì ai và
không ai khác ở đây để hoàn thành các mong đợi của
bạn. Đừng bao giờ trở thành nạn nhân của mong đợi
của người khác và đừng làm cho bất kì ai thành nạn
nhân của mong đợi của bạn.
Đây là điều tôi gọi là tính cá nhân. Kính trọng
tính cá nhân riêng của bạn và kính trọng tính cá nhân
của người khác. Đừng bao giờ can thiệp vào cuộc
sống của bất kì ai và đừng cho phép bất kì ai can thiệp
vào cuộc sống của bạn. Chỉ thế thì một ngày nào đó
bạn mới có thể trưởng thành trong tính tâm linh.
Bằng không, chín mươi chín phần trăm mọi người
đơn giản tự tử. Toàn thể cuộc sống của họ không là gì
ngoài việc tự tử chậm chạp. Việc hoàn thành mong
đợi này... ngày nào đó đấy là bố, ngày nào đó đấy là
mẹ, ngày nào đó đấy là vợ, chồng, thế rồi đến con cái
- họ cũng mong đợi. Bạn phải hoàn thành các mong
đợi của họ. Thế rồi xã hội, tu sĩ và chính khách, và tất
cả mọi người xung quanh đều mong đợi. Và bạn tội nghiệp ở đó, chỉ một
người tội nghiệp - và toàn thế
giới đang mong đợi bạn làm điều này điều nọ. Và nếu
bạn không hoàn thành những mong đợi của họ... và
bạn không thể nào hoàn thành tất cả mọi mong đợi
của họ, bởi vì chúng mâu thuẫn.
Tôi đã ở trong một gia đình và tôi hỏi một cậu bé,
'Cháu định trở thành cái gì?'
Nó nói, 'Cháu không biết. Cháu nghĩ cháu sẽ phát
điên.'
'Cháu định nói gì?'
Nó nói, 'Bố cháu muốn cháu trở thành kĩ sư, mẹ
cháu muốn cháu trở thành bác sĩ. Bác cháu nói, "Là
nhà kinh doanh đi, chỉ thế thì cháu mới có thể..."
'Một bác khác, bác ấy nói làm thầy giáo bởi vì đó
là nghề đơn giản nhất. Và cháu không biết. Nhưng
điều này thì cháu biết - rằng nếu tất cả mọi mong đợi
đều được hoàn thành thì cháu sẽ phát điên.'
Đó là cách nhiều người đã phát điên. Và khi tôi
nói nhiều người đã phát điên, đừng tạo ra ngoại lệ về
bản thân bạn. Bạn đã phát điên khi hoàn thành mong
đợi của mọi người. Và bạn chẳng hoàn thành mong
đợi của ai cả; chẳng ai hạnh phúc. Đây là cái đẹp đấy.
Bạn bị mất, hoàn toàn bị phá huỷ, và không ai hạnh
phúc cả. Bởi vì những người không hạnh phúc với
bản thân mình thì không thể hạnh phúc theo bất kì
cách nào. Bất kì cái gì bạn làm, họ sẽ tìm cách để bất
hạnh với bạn, bởi vì họ không thể hạnh phúc được.
Hạnh phúc là nghệ thuật mà người ta phải học. Điều
đó chẳng liên quan gì tới việc bạn làm hay không làm.
Câu hỏi thứ tư
Nếu tình yêu trở nên bị phá huỷ trong hôn nhân,
làm sao chúng tôi sống được nếu chúng tôi muốn
chia sẻ tình yêu và ý nghĩ trên cơ sở hàng ngày,
và cũng nêu ra chuyện con cái với cả mẹ và cha?
Tôi chưa bao giờ nói rằng tình yêu bị hôn nhân
phá huỷ. Làm sao hôn nhân có thể phá huỷ được tình
yêu? Vâng, nó bị phá huỷ trong hôn nhân, nhưng nó
bị bạn phá huỷ chứ không phải bởi hôn nhân. Nó bị
các bạn tình cùng phá huỷ. Làm sao hôn nhân có thể
phá huỷ được tình yêu? Chính bạn mới là người phá
huỷ nó, bởi vì bạn không biết tình yêu là gì. Bạn đơn
giản giả vờ biết, bạn đơn giản hi vọng rằng bạn biết,
bạn mơ rằng bạn biết, nhưng bạn không biết tình yêu
là gì. Tình yêu phải được học; nó là kho báu lớn nhất
có đó.
Nếu mọi người nhảy múa và ai đó bảo bạn, 'Lại
đây và nhảy múa đi,' bạn nói, 'Tôi không biết nhảy.'
Bạn không nhảy lên và bắt đầu nhảy múa và để mọi
người nghĩ rằng bạn là một vũ công lớn. Bạn sẽ
không tự chứng tỏ mình là anh hề đâu. Bạn sẽ không
tự chứng minh mình là một vũ công. Điều đó phải được học - duyên dáng
của nó, chuyển động của nó.
Bạn phải huấn luyện thân thể cho việc đó.
Bạn không đi và bắt đầu vẽ chỉ bởi vì bức vải vẽ
đang có sẵn cùng chổi vẽ và hộp mầu. Bạn không bắt
đầu vẽ đâu. Bạn nói, 'Tất cả mọi yêu cầu đều có ở đây
rồi, cho nên tôi có thể vẽ." Bạn có thể vẽ - nhưng bạn
sẽ không là hoạ sĩ theo cách đó đâu.
Bạn gặp một người đàn bà - bức vải vẽ có đó. Bạn
ngay lập tức trở thành người yêu - bạn bắt đầu vẽ. Và
cô ấy bắt đầu vẽ lên bạn. Tất nhiên cả hai bạn có thể
chứng tỏ sự ngu xuẩn - những kẻ ngu được tô vẽ - và
chẳng chóng thì chầy bạn hiểu điều đang xảy ra.
Nhưng bạn không bao giờ nghĩ rằng tình yêu là nghệ
thuật. Bạn được sinh ra mà không có nghệ thuật đó,
nó chẳng liên quan gì tới việc sinh của bạn cả. Bạn
phải học nghệ thuật đó. Nó là nghệ thuật tinh tế nhất.
Bạn được sinh ra với một khả năng. Tất nhiên,
bạn được sinh ra với một thân thể; bạn có thể là vũ
công bởi vì bạn có thân thể. Bạn có thể di chuyển thân
thể mình và bạn có thể là vũ công - nhưng nhảy múa
thì phải học. Phải cần tới nhiều cố gắng để học nhảy
múa. Và nhảy múa không khó lắm bởi vì một mình
bạn tham gia vào việc đó.
Tình yêu còn khó hơn nhiều. Nó là việc nhảy múa
với ai đó khác. Người khác cũng cần được biết nhảy
múa là gì. Khớp với ai đó, đấy là nghệ thuật lớn. Tạo
ra hài hoà giữa hai người... Hai người có nghĩa là hai
thế giới khác nhau. Khi hai thế giới lại gần, va chạm
nhất định có đó nếu bạn không biết cách làm hài hoà.
Tình yêu là hài hoà. Và hạnh phúc, mạnh khoẻ, hài
hoà, tất cả đều xảy ra từ tình yêu. Học yêu đi. Đừng
vội vã vì hôn nhân, học yêu đã. Trước hết trở thành
người yêu lớn lao.
Và yêu cầu là gì? Yêu cầu là ở chỗ người yêu lớn
bao giờ cũng sẵn sàng cho tình yêu và không bận tâm
liệu nó có được đền đáp lại hay không. Nó bao giờ
cũng được đáp lại, nó chính là ở bản chất của mọi sự.
Nó cũng tựa như bạn đi lên núi và bạn hát bài ca, và
thung lũng vọng lại. Bạn có thấy điểm vọng ở trên núi
trên đồi không? Bạn hét lên và thung lũng hét lên, hay
bạn ca lên và thung lũng ca lên. Từng trái tim đều là
thung lũng. Nếu bạn rót tình yêu vào trong nó, nó sẽ
đáp ứng.
Bài học đầu tiên về tình yêu là không hỏi xin tình
yêu, mà cho. Trở thành người cho. Và mọi người lại
đang làm điều đối lập lại. Ngay cả khi họ cho, họ cho
chỉ với ý tưởng rằng tình yêu phải quay lại. Đó là mặc
cả. Họ không chia sẻ, họ không chia sẻ một cách tự
do. Họ chia sẻ có điều kiện. Họ cứ liếc trộm xem liệu
nó có quay lại hay không. Những người rất tội
nghiệp... Họ không biết vận hành tự nhiên của tình
yêu. Bạn đơn giản đổ ra, nó sẽ tới.
Và nếu nó không tới, thì cũng chẳng có gì phải lo
âu cả - bởi vì người yêu biết rằng tình yêu là hạnh
phúc. Nếu nó tới, tốt; thế thì hạnh phúc được nhân
lên. Nhưng cho dù nó không bao giờ quay lại, trong
chính hành động yêu bạn đã trở nên hạnh phúc thế,
cực lạc thế, ai còn bận tâm tới việc nó tới hay không
nữa?
Tình yêu có hạnh phúc cố hữu của riêng nó. Nó
xảy ra khi bạn yêu. Không có nhu cầu chờ đợi kết
quả. Bắt đầu yêu đi. Dần dần bạn sẽ thấy thêm nhiều tình yêu nữa lại
tới với bạn. Người ta yêu và đi tới
biết tình yêu là gì bằng việc yêu. Cũng như người ta
học bơi bằng việc bơi, bằng việc yêu người ta yêu.
Và mọi người đều rất keo kiệt. Họ chờ đợi người
yêu lớn lao nào đó xuất hiện, thế rồi họ sẽ yêu. Họ
vẫn còn đóng, họ vẫn còn rút vào trong. Họ chờ đợi.
Từ đâu đó một Cleopatra sẽ tới và thế rồi họ sẽ mở
tấm lòng mình, nhưng vào lúc đó họ đã hoàn toàn
quên mất cách mở nó ra.
Đừng bỏ lỡ bất kì cơ hội nào của tình yêu. Ngay
cả đi qua trên phố bạn cũng có thể là niềm yêu mến.
Ngay cả với người ăn xin bạn cũng có thể là niềm yêu
mến. Không có nhu cầu rằng bạn phải cho người đó
cái gì đó; ít nhất bạn có thể mỉm cười. Điều đó chẳng
tốn gì - nhưng chính nụ cười của bạn lại mở ra tấm
lòng mình, làm cho trái tim bạn sống động hơn. Cầm
tay ai đó - người bạn hay người lạ. Đừng chờ đợi rằng
bạn sẽ chỉ yêu khi người đúng xuất hiện. Thế thì
người đúng đó sẽ chẳng bao giờ xuất hiện cả. Cứ yêu
đi. Bạn càng yêu nhiều càng có nhiều khả năng cho
người đúng xảy ra, bởi vì tấm lòng bạn bắt đầu nở
hoa. Và trái tim nở hoa hấp dẫn nhiều ong bướm,
nhiều người yêu.
Bạn đã được huấn luyện theo cách rất sai. Thứ
nhất, mọi người đều sống dưới ảo tưởng sai lầm rằng
mọi người đều đã là người yêu. Được sinh ra, bạn cho
rằng bạn là người yêu rồi. Điều đó không dễ dàng thế.
Vâng, có tiềm năng, nhưng tiềm năng phải được huấn
luyện, phải được rèn luyện. Hạt mầm tồn tại, nhưng
nó phải trở thành hoa.
Bạn có thể cứ mang hạt mầm của mình; chẳng
ong bướm nào sẽ tới. Bạn đã bao giờ thấy ong bay tới
hạt mầm chưa? Chúng không biết rằng hạt mầm có
thể trở thành hoa sao? Nhưng chúng tới khi hạt mầm
đã trưởng thành. Trở thành hoa đi, đừng vẫn còn là
hạt mầm.
Hai người, bất hạnh tách biệt, tạo ra nhiều bất
hạnh hơn cho nhau khi họ tới với nhau. Đó là toán
học. Bạn đã bất hạnh, vợ bạn đã bất hạnh và các bạn
cả hai lại hi vọng rằng ở cùng nhau bạn cả hai sẽ trở
nên hạnh phúc sao? Đây là... đây là số học thông
thường thế - giống như hai cộng với hai thành bốn.
Nó là sự đơn giản đó. Nó không phải là một phần của
toán học cao cấp nào; nó rất bình thường, bạn có thể
đếm nó trên đầu ngón tay của mình. Các bạn cả hai sẽ
trở nên bất hạnh.
'Anh không yêu em nữa à?' vợ Mulla Nasruddin
hỏi. 'Anh chẳng bao giờ nói điều gì tình tứ với em như
anh đã nói khi chúng ta tán tỉnh nhau.' Cô ấy chùi
nước mắt bằng góc tạp dề.
'Anh yêu em, anh yêu em,' Mulla Nasruddin nói
lại. 'Bây giờ xin em hãy câm đi và để anh uống bia
trong an bình được chứ?'
Tán tỉnh là một chuyện. Đừng phụ thuộc vào việc
tán tỉnh. Thực tế trước khi bạn lấy nhau, gạt bỏ việc
tán tỉnh ra. Gợi ý của tôi là ở chỗ hôn nhân nên xảy ra
sau tuần trăng mật, đừng bao giờ trước nó. Chỉ nếu
mọi thứ đi đúng, chỉ thế thì hôn nhân mới nên xảy ra.
Tuần trăng mật sau hôn nhân là rất nguy hiểm.
Như tôi biết, chín mươi chín phần trăm hôn nhân kết
thúc vào lúc tuần trăng mật chấm dứt. Nhưng thế thì
bạn bị tóm rồi, thế thì bạn không còn đường thoát
nữa. Thế thì toàn thể xã hội, luật pháp, toà án - mọi
người đều chống lại bạn nếu bạn bỏ vợ, hay vợ bỏ
bạn. Thế thì toàn thể nền đạo đức, tôn giáo, tu sĩ, mọi
người đều chống lại bạn. Thực tế xã hội nên tạo ra đủ
loại rào chắn có thể có đối với hôn nhân và không rào
chắn nào với li dị. Xã hội không nên cho phép mọi
người lấy nhau dễ dàng thế. Toà án nên tạo ra rào
chắn - sống với người đàn bà ít nhất là hai năm, thế
rồi toà án có thể cho phép bạn xây dựng gia đình.
Ngay bây giờ họ đang làm chính điều ngược lại. Nếu
bạn muốn xây dựng gia đình, không ai hỏi liệu bạn đã
sẵn sàng hay liệu đấy chỉ là ý thích nhất thời, chỉ bởi
vì bạn thích cái mũi của người đàn bà. Ngu xuẩn làm
sao! Người ta không thể sống chỉ bởi cái mũi dài. Sau
hai ngày cái mũi sẽ bị quên phắt. Ai nhìn vào mũi của
vợ mình?
Tôi đã nghe:
Một khu vực nào đó đầy các nữ y tá trông cứ như
họ là người lọt vào vòng chung kết thi hoa hậu thế
giới, nhưng mọi lần một trong các bệnh nhân thấy họ,
anh ta đều nhìn một cách có chủ ý và nói, 'Rác rưởi!'
Người nằm giường bên cạnh không thể hiểu được
điều đó chút nào. 'Các y tá lộng lẫy thế này để chăm
sóc anh mà ất cả mọi điều anh có thể nói chỉ là "Rác
rưởi". Sao vậy?'
'Tôi không nghĩ tới y tá đâu,' người kia nói một
cách buồn bã, 'tôi đang nghĩ về vợ tôi đấy.'
Vợ chẳng bao giờ trông đẹp, chồng chẳng bao giờ
trông đẹp cả. Một khi bạn quen rồi, cái đẹp biến mất.
Hai người nên được phép sống cùng nhau đủ lâu
để trở nên quen thuộc, quen biết lẫn nhau. Và cho dù
họ muốn lấy nhau, họ cũng không nên được phép.
Thế thì li dị sẽ biến mất khỏi thế giới này. Li dị tồn tại
bởi vì hôn nhân là sai và bị ép buộc. Li dị tồn tại bởi
vì hôn nhân được thực hiện trong tâm trạng lãng mạn.
Tâm trạng lãng mạn là tốt nếu bạn là nhà thơ - và
người ta biết nhà thơ thì không phải là chồng tốt hay
vợ tốt. Thực tế nhà thơ gần như bao giờ cũng là người
độc thân. Họ lừa xung quanh nhưng họ chưa bao giờ
bị bắt cả, và do đó cái lãng mạn của họ vẫn còn sống
động. Họ cứ viết thơ, những bài thơ hay.
Người ta không nên lấy người đàn bà hay người
đàn ông trong tâm trạng thơ ca. Để tâm trạng văn xuôi
tới, thế rồi lắng đọng. Bởi vì cuộc sống hàng ngày
giống văn xuôi hơn là thơ ca. Người ta phải trở nên đủ
trưởng thành.
Trưởng thành nghĩa là người ta không còn là kẻ
ngốc lãng mạn nữa. Người ta hiểu cuộc sống, người ta
hiểu trách nhiệm về cuộc sống, người ta hiểu những
vấn đề của việc sống cùng với một người. Người ta
chấp nhận tất cả những khó khăn đó vậy mà vẫn quyết định sống cùng
người đó. Người ta không hi vọng
rằng sẽ chỉ có thiên đường, toàn hoa hồng. Người ta
không hi vọng điều vô nghĩa; người ta biết thực tại là
khắc nghiệt. Nó khắc nghiệt đấy. Có hoa hồng, nhưng
lại xa xăm và chỉ có vài bông ở giữa; có nhiều gai.
Khi bạn đã trở nên tỉnh táo với tất cả những vấn
đề này và bạn vẫn quyết định rằng đáng mạo hiểm và
sống cùng với một người còn hơn là ở một mình, thế
thì lấy nhau. Thế thì hôn nhân sẽ không bao giờ giết
chết tình yêu, bởi vì tình yêu này mang tính thực tế.
Hôn nhân chỉ có thể giết chết tình yêu lãng mạn. Và
tình yêu lãng mạn là điều mọi người gọi là 'tình yêu
trẻ con'. Người ta không nên phụ thuộc vào nó. Người
ta không nên nghĩ về nó như thứ nuôi dưỡng. Nó có
thể giống như kem. Thỉnh thoảng bạn có thể ăn nó,
nhưng đừng phụ thuộc vào nó. Cuộc sống phải thực tế
hơn, văn xuôi hơn.
Và hôn nhân bản thân nó không bao giờ phá huỷ
cái gì cả. Hôn nhân đơn giản lôi ra bất kì cái gì bị giấu
kín trong bạn - nó đem cái đó ra. Nếu tình yêu bị giấu
kín đằng sau bạn, bên trong bạn, hôn nhân đem nó ra.
Nếu tình yêu chỉ là giả vờ, chỉ là cái mồi, thế thì
chẳng chóng thì chầy nó phải biến mất. Và thế thì
thực tại của bạn, cá tính xấu xí của bạn ló ra. Hôn
nhân đơn giản là cơ hội, cho nên bất kì cái gì bạn phải
đem ra thì sẽ ló ra.
Tôi không nói rằng tình yêu bị hôn nhân phá huỷ.
Tình yêu bị phá huỷ bởi vì ngay chỗ đầu tiên tình yêu
đã không có rồi. Bạn đã sống trong mơ, thực tại phá
huỷ giấc mơ đó. Bằng không thì tình yêu là cái gì đó
vĩnh hằng, một phần của cái vĩnh hằng. Nếu bạn lớn
lên, nếu bạn biết nghệ thuật này, và bạn chấp nhận
thực tại của cuộc sống-tình yêu, thế thì nó cứ lớn lên
mọi ngày. Hôn nhân trở thành cơ hội vô cùng để lớn
lên trong tình yêu.
Không cái gì có thể phá huỷ được tình yêu. Nếu
nó có đó, nó sẽ lớn lên. Nhưng cảm giác của tôi là, nó
không có đó ngay chỗ đầu tiên. Bạn đã hiểu lầm bản
thân mình; cái gì khác có đó. Có thể dục có đó, hấp
dẫn dục có đó. Thế thì nó sẽ bị phá huỷ, bởi vì một
khi bạn đã yêu người đàn bà, thế thì hấp dẫn dục biến
mất - bởi vì hấp dẫn dục chỉ có với cái không biết.
Một khi bạn đã nếm trải thân thể người đàn bà, thế thì
hấp dẫn dục biến mất. Nếu tình yêu của bạn chỉ là hấp
dẫn dục thế thì nó nhất định biến mất.
Cho nên đừng bao giờ hiểu lầm tình yêu vì cái gì
đó khác. Nếu yêu thực sự là yêu... Tôi ngụ ý gì khi tôi
nói 'thực sự yêu'? Tôi ngụ ý rằng chính hiện hữu trong
sự hiện diện của người khác, bạn bỗng nhiên cảm thấy
hạnh phúc, chỉ ở cùng nhau bạn cảm thấy cực lạc,
chính sự hiện hữu của người khác hoàn thành cái gì
đó sâu trong lòng bạn... cái gì đó bắt đầu hát lên trong
lòng bạn, bạn rơi vào sự hài hoà. Chính sự hiện diện
của người khác giúp cho bạn ở cùng nhau; bạn trở
thành cá nhân hơn, định tâm hơn, bắt đất hơn. Thế thì
đó là tình yêu.
Tình yêu không phải là đam mê, tình yêu không
phải là xúc động. Tình yêu là hiểu biết rất sâu sắc
rằng ai đó bằng cách nào đó làm đầy đủ bạn. Ai đó
làm cho bạn thành vòng tròn đầy đặn. Sự hiện diện
của người khác tôn cao sự hiện diện của bạn. Tình yêu cho tự do được
là chính bản thân bạn; nó không
phải là tính sở hữu.
Cho nên, quan sát đi. Đừng bao giờ coi dục là tình
yêu, bằng không bạn sẽ bị lừa. Tỉnh táo, và khi bạn
bắt đầu cảm thấy với ai đó rằng chỉ sự hiện diện thôi,
sự hiện diện thuần khiết - không cái gì khác, không
cái gì khác được cần tới; bạn không hỏi xin cái gì cả -
chỉ sự hiện diện, chỉ mỗi điều người khác có đó, là đủ
để làm cho bạn hạnh phúc... cái gì đó bắt đầu nở hoa
bên trong bạn, và bông sen nở ra... thế thì bạn đang
trong tình yêu đấy, và thế thì bạn có thể trải qua mọi
khó khăn mà thực tế tạo ra. Nhiều phiền não, nhiều lo
âu - bạn sẽ có khả năng trải qua tất cả chúng, và tình
yêu của bạn sẽ nở hoa ngày một nhiều hơn, bởi vì tất
cả những tình huống đó sẽ trở thành thách thức. Và
tình yêu của bạn, bằng việc vượt qua chúng, sẽ trở
thành ngày một mạnh mẽ hơn.
Tình yêu là vĩnh hằng. Nếu nó có đó, thế thì nó cứ
lớn lên mãi. Tình yêu biết cái bắt đầu nhưng không
biết cái kết thúc.

Câu hỏi thứ nhất
Ai đó hỏi một thiền sư, 'Phép màu lớn nhất trên
thế giới này là gì?' Thầy đáp, 'Ta đang ngồi đây
một mình với ta.' Ý nghĩa của chuyện ngụ ngôn
này là gì?
Nó không phải là chuyện ngụ ngôn đâu, nó đơn
giản là sự kiện. Nhìn thẳng vào trong nó. Không có
nhu cầu tìm kiếm bất kì ý nghĩa nào. Nó cũng giống
như bông hồng vậy - một phát biểu đơn giản. Nếu bạn
bắt đầu tìm nghĩa, bạn sẽ bỏ lỡ nghĩa của nó. Nghĩa có
đó, hiển nhiên; không có nhu cầu tìm nó. Khoảnh
khắc bạn bắt đầu tìm nghĩa cho những sự kiện đơn
giản như vậy, bạn vẩn vơ vào các triết lí, bạn tạo ra
siêu hình. Và thế thì bạn cứ đi mãi, và bạn đi xa khỏi
sự kiện.
Đó là một phát biểu đơn giản. Thiền sư này nói,
'Ta đang ngồi đây một mình với bản thân ta.' Đây là
phép màu vĩ đại nhất. Ở một mình là thành tựu lớn lao
nhất. Người ta bao giờ cũng cảm thấy nhu cầu về
người khác. Có nhu cầu mênh mông về người khác
bởi vì cái gì đó bị thiếu bên trong chúng ta. Chúng ta
có lỗ lổng trong bản thể mình; chúng ta nhét vào lỗ
hổng đó sự hiện diện của người khác. Người khác
bằng cách nào đó làm cho chúng ta đầy đủ, bằng
không thì chúng ta không đầy đủ.
Không có người khác chúng ta không biết mình là
ai, chúng ta mất đi cá tính của mình. Người khác trở
thành tấm gương và chúng ta có thể nhìn khuôn mặt
của mình trong đó. Không có người khác chúng ta
bỗng nhiên bị ném về chính bản thân mình. Không
thoải mái lớn, bất tiện nảy sinh, bởi vì chúng ta không
biết mình là ai. Khi chúng ta một mình chúng ta đang
trong một nhóm rất kì lạ, một nhóm rất ngơ ngác.
Chúng ta không biết chúng ta đang ở với ai.
Ở cùng người khác, mọi sự là rõ ràng, được xác
định. Chúng ta biết tên, chúng ta biết hình dạng,
chúng ta biết đàn ông hay đàn bà - người Hindu,
người Ki tô giáo, người Ấn Độ, người Mĩ - có những
cách nào đó để xác định người khác. Làm sao bạn xác
định bản thân mình?
Sâu bên dưới có vực thẳm... không xác định được.
Có vực thẳm... trống rỗng. Bạn bắt đầu hội nhập vào
trong điều đó. Điều đó tạo ra nỗi sợ. Bạn trở nên
hoảng sợ. Bạn muốn chạy xô tới người khác. Người khác giúp cho bạn
treo đó, người khác giúp bạn vẫn
còn ở ngoài. Khi không có ai bạn đơn giản bị bỏ lại
với trống rỗng của mình.
Không ai muốn một mình cả. Nỗi sợ lớn nhất trên
thế giới là bị bỏ lại một mình. Mọi người đều làm cả
nghìn lẻ một thứ chỉ để không bị bỏ lại một mình. Bạn
bắt chước hàng xóm của mình để cho bạn cũng giống
như họ và bạn không bị bỏ lại một mình. Bạn đánh
mất đi tính cá nhân của mình, bạn đánh mất sự duy
nhất của mình, bạn trở thành kẻ bắt chước, bởi vì nếu
bạn không là kẻ bắt chước thì bạn sẽ bị bỏ lại một
mình.
Bạn trở thành một phần của đám đông, bạn trở
thành một phần của nhà thờ, bạn trở thành một phần
của tổ chức. Bằng cách nào đó bạn muốn hội nhập với
đám đông nơi bạn có thể cảm thấy thoải mái, rằng bạn
không một mình, có nhiều người giống như bạn -
nhiều người Mô ha mét giáo như bạn, nhiều người
Hindu giáo như bạn, nhiều người Ki tô giáo, hàng
triệu người trong số họ... bạn không một mình.
Ở một mình thực sự là phép màu vĩ đại nhất. Điều
đó nghĩa là bây giờ bạn không thuộc vào nhà thờ nào,
bạn không thuộc vào tổ chức nào, bạn không thuộc
vào bất kì thượng đế học nào, bạn không thuộc vào
bất kì ý thức hệ nào - xã hội, cộng sản, phát xít, Hindu
giáo, Ki tô giáo, Jaina giáo, Phật giáo - bạn không
thuộc vào đó, bạn đơn giản hiện hữu. Và bạn đã học
cách yêu cái không xác định của mình, thực tại không
thể nói ra được của mình. Bạn đã đi tới biết cách ở
với bản thân mình.
Nhu cầu của bạn về người khác đã biến mất. Bạn
không có chỗ hở nào, bạn không thiếu cái gì, bạn
không có khiếm khuyết nào - bạn đơn giản hạnh phúc
với chính bản thân mình. Bạn không cần cái gì cả,
phúc lạc của bạn là vô điều kiện. Vâng, nó là phép
màu vĩ đại nhất trên thế giới.
Nhưng nhớ cho, thầy nói, 'Ta ở đây một mình với
bản thân ta.' Khi bạn một mình bạn lại không một
mình đâu, bạn đơn giản cô đơn - và có khác biệt mênh
mông giữa cô đơn và một mình. Khi bạn cô đơn bạn
nghĩ tới người khác, bạn thiếu người khác. Cô đơn là
trạng thái tiêu cực. Bạn cảm thấy rằng nếu như người
khác có đó thì sẽ tốt hơn - bạn của bạn, vợ bạn, mẹ
bạn, người yêu của bạn, chồng bạn. Đáng ra thì tốt
nếu người khác có đó, nhưng người khác lại không
có.
Cô đơn là thiếu vắng người khác. Một mình là
hiện diện của bản thân mình. Một mình rất tích cực.
Nó là sự hiện diện, hiện diện tràn ngập. Bạn tràn đầy
hiện diện tới mức bạn có thể rót đầy toàn thể vũ trụ
bằng hiện diện của mình và không có nhu cầu về bất
kì ai.
Nếu toàn thể thế giới biến mất, Thiền sư này vẫn
sẽ không thiếu cái gì cả. Nếu bỗng nhiên bằng phép
thuật nào đó toàn thế giới biến mất và Thiền sư này bị
bỏ lại một mình, ông ấy sẽ vẫn hạnh phúc như bao
giờ, ông ấy sẽ không thiếu cái gì cả. Ông ấy sẽ yêu sự
trống rỗng mênh mông đó, cái vô hạn thuần khiết này.
Ông ấy sẽ không bỏ lỡ cái gì bởi vì ông ấy đã về tới
nhà. Ông ấy biết rằng bản thân mình là đủ cho chính
mình.
Điều này không có nghĩa là người đã trở nên
chứng ngộ và đã về nhà thì không sống với người
khác. Thực tế chỉ người đó mới có khả năng sống
cùng người khác. Bởi vì người đó có khả năng ở với
chính mình nên người đó trở nên có khả năng ở với
người khác. Nếu bạn không có khả năng ở cùng bản
thân mình, làm sao bạn có thể có khả năng ở cùng
người khác được? Bạn đang ở chỗ gần nhất rồi. Ngay
cả với bản thân mình mà bạn còn không có khả năng
sống trong tình yêu sâu sắc, trong vui sướng - thì làm
sao bạn có thể sống cùng người khác được? Người
khác còn xa thẳm.
Người yêu mến sự một mình của mình thì có khả
năng yêu, và người cảm thấy sự cô đơn của mình thì
không có khả năng yêu. Người hạnh phúc với bản
thân mình thì tràn đầy tình yêu, tuôn chảy. Người đó
không cần tình yêu của người khác, do đó người đó có
thể cho. Khi bạn đang cần, làm sao bạn có thể cho
được? Bạn là kẻ ăn mày. Và khi bạn có thể cho, nhiều
tình yêu lại tới với bạn. Đó là đáp ứng, đáp ứng tự
nhiên. Bài học thứ nhất của tình yêu là học cách ở
một mình.
Đó là một phát biểu rất có ý nghĩa. Nó chẳng có
gì giống như ngụ ngôn trong đó cả. Nó là tức khắc,
trực tiếp. Nó cũng giống như bông hồng bạn bắt gặp.
Bạn không bao giờ hỏi về bông hồng, 'Bông hồng này
ngụ ý cái gì?' Bạn không hỏi, 'Ý nghĩa của bông hồng
này là gì?'
Thầy cũng giống như bông hồng. Nếu bạn có thể
nhìn được, thì nhìn. Nếu bạn không thể nhìn được, thì
quên. Bạn sẽ không bao giờ có khả năng biết ý nghĩa
của nó bởi vì ý nghĩa ở ngay trước bạn rồi. Đừng làm
ra ngụ ngôn về nó. Ngụ ngôn nghĩa là bạn đã bắt đầu
diễn giải, và bất kì cái gì bạn diễn giải thì cũng sẽ là
diễn giải của bạn mà thôi.
Tôi đã nghe:
Mulla Nasruddin bị bắt khi câu cá tại nơi có tấm
biển lớn đề: Không câu cá ở đây. Người giám sát đã
bắt anh ta hỏi, 'Nasruddin, anh không thấy tấm biển
này sao? Anh không biết đọc à? - Không câu cá ở
đây.' Anh ta trỏ vào tấm biến.
Mulla Nasruddin nói, 'Có chứ, tôi biết đọc, nhưng
tôi không đồng ý. Câu cá tốt ở đây là đằng khác. Ai
nói "không câu cá ở đây". Câu cá tốt ở đây. Cứ nhìn
vào bao nhiêu cá tôi đã câu được hôm nay đây này.
Bất kì ai cắm tấm biển ở đó phải gàn dở lắm.'
Bây giờ đây là diễn giải của bạn. Nó đơn giản là
tấm biển - Không câu cá ở đây. Nghĩa không phải là
để tìm, nó đơn giản ở đó rồi.
Khi Thiền sư nói điều gì đó, hay khi bất kì thầy
nào nói điều gì đó, nghĩa của thầy là tuyệt đối rõ ràng,
hiển nhiên. Nó ở ngay trước bạn. Đừng cố tránh né
nó. Nếu bạn bắt đầu tìm ý nghĩa thì bạn sẽ nhìn trái
nhìn phải và bạn sẽ bỏ lỡ cái đang ở ngay trước bạn.
Nó là một phát biểu đơn giản: 'Ta đang ngồi đây một
mình với ta.'
Thử điều đó đi, để có cảm giác ấy. Thỉnh thoảng
ngồi một mình. Tất cả thiền cũng chỉ là thế thôi - chỉ
ngồi một mình, không làm gì cả. Thử mà xem. Nếu
bạn bắt đầu cảm thấy cô đơn thế thì cái gì đó còn
thiếu trong con người bạn, thế thì bạn vẫn chưa có
khả năng hiểu mình là ai.
Thế thì hãy đi sâu hơn vào trong cái cô đơn này
cho tới khi bạn đi tới một tầng mà bỗng nhiên cô đơn
biến đổi bản thân nó thành một mình. Nó biến đổi - nó
là mặt tiêu cực của cùng một hiện tượng. Cô đơn là
mặt tiêu cực của một mình. Nếu bạn đi sâu hơn vào
trong nó, một khoảnh khắc nhất định tới khi bỗng
nhiên bạn sẽ bắt đầu cảm thấy mặt tích cực của nó.
Bởi vì cả hai mặt bao giờ cũng cùng nhau.
Cho nên cứ cô đơn đi, chịu đựng cô đơn. Điều đó
là khó, thiền là khó. Mọi người tới tôi và họ hỏi,
'Vâng, chúng tôi đã sẵn sàng ngồi, nhưng cho chúng
tôi câu mật chú để cho chúng tôi có thể tụng mật chú.'
Họ đang hỏi gì? Họ đang nói rằng họ không muốn
một mình, họ không muốn đối diện với cô đơn của
mình. Họ sẽ tụng mật chú - mật chú sẽ trở thành bạn
đồng hành của họ. Họ sẽ nói, 'Ram, Ram, Ram' - bây
giờ họ không một mình. Bây giờ âm thanh này của
'Ram' liên tục được lặp lại sẽ trở thành bạn đồng hành
của họ.
Họ đang bỏ lỡ toàn bộ vấn đề. Thiền siêu việt,
TM, không phải là thiền chút nào, bởi vì thiền đơn
giản nghĩa là một mình, không làm gì cả - thậm chí
không tụng mật chú. Bởi vì đây là thủ đoạn của tâm
trí. Đó là điều tâm trí bao giờ cũng làm. Khi bạn ngồi
một mình, bạn có quan sát bao nhiêu tưởng tượng lộ
diện chúng ra cho bạn không?.. vô số tưởng tượng,
những giấc mơ ngày. Bất kì khi nào bạn một mình,
bạn bắt đầu mơ ngày. Bất kì khi nào bạn không có gì
để làm và bạn cảm thấy chán, lập tức bạn trốn vào
trong những giấc mơ ngày.
Đó là lí do tại sao nếu một người đi tới sa mạc, tới
sa mạc A rập, tới sa mạc Sahara, và ngồi đó, thì người
đó sẽ bắt đầu tưởng tượng, linh ảnh sẽ bắt đầu tới với
người đó, bởi vì sa mạc là thứ rất đơn điệu. Chẳng có
gì để mà chú ý cả - chỉ mỗi cảnh cát và cát trải rộng
đơn điệu; chẳng có gì làm sao lãng, chẳng cái gì mới -
đơn điệu, chán ngán thế. Nếu không có gì mới bên
ngoài, người ta tạo ra thế giới tưởng tượng bên trong
của riêng mình và bắt đầu nhìn vào trong nó.
Đó là điều xảy ra cho nhưng người đi lên
Himalaya và ngồi trong hang động để thiền. Họ bắt
đầu tưởng tượng. Thế rồi họ có thể tưởng tượng ra bất
kì cái gì - nam thần và nữ thần và apsaras và các thiên
thần và Krishna đang thổi sáo, và Rama đang đứng
cùng cây cung, và Jesus - và bất kì cái gì là tưởng
tượng của bạn, bất kì cái gì là ước định của bạn. Nếu
bạn đã được ước định là người Ki tô giáo, chẳng
chóng thì chầy trong hang động Himalaya bạn sẽ bắt
gặp Jesus, và điều này sẽ là tưởng tượng thuần khiết.
Không có gì làm sao lãng tâm trí từ bên ngoài, tâm trí
bắt đầu tạo ra những giấc mơ bên trong của riêng nó.
Và khi bạn liên tục mơ, những giấc mơ đó có vẻ rất,
rất thực.
Nhiều kinh nghiệm đã được thực hiện ở phương
Tây về mất cảm giác. Nếu một người bị mất tất cả các
cảm giác - mắt bị bịt kín, người đó bị cho vào trong một cái hộp, tai
bị bịt kín, toàn thân bị bọc trong bọt
cao su để cho xúc giác thành đơn điệu, bóng tối ở mắt
là đơn điệu, vô âm thanh đơn điệu, mọi thứ đều đơn
điệu - trong hai, ba giờ người đó bắt đầu mơ - những
giấc mơ lớn lao thế, và thực thế... còn thực hơn là
thực. Và nếu một người bị mất cảm giác trong hai
mươi mốt ngày thì người đó sẽ không bao giờ trở lại
lành mạnh được nữa. Người đó sẽ trở thành gàn dở,
bởi vì tưởng tượng của người đó sẽ chiếm lĩnh người
đó hoàn toàn.
Nhưng tại sao tâm trí bắt đầu mơ ngày? Giải thích
khoa học là ở chỗ tâm trí không thể sống một mình
với bản thân nó được. Cho nên hoặc nó cần ai đó
trong thực tế, hoặc nếu trong thực tế ai đó không có
đó, thế thì nó tạo ra tưởng tượng. Tưởng tượng là cái
thay thế. Tâm trí không thể sống được một mình.
Đó là lí do tại sao bạn lại mơ vào ban đêm - bởi vì
trong giấc ngủ bạn một mình; thế giới biến mất.
Chồng bạn không còn đó nữa, con bạn không còn đó
nữa, vợ bạn không còn đó nữa, bạn đơn giản một
mình - và bạn đã trở nên không có khả năng một
mình. Tâm trí bạn đơn giản thay thế một thế giới mơ
khác vào; mơ, chu trình mơ cả đêm. Sao giấc mơ lại
được cần tới? Bởi vì bạn không thể một mình được.
Toàn thể ảo tượng này tồn tại quanh bạn là bởi vì
bạn đã không học một điều cơ bản - việc ở một mình.
Thiền sư này là đúng. Ông ấy nói, 'Đây là phép màu
vĩ đại nhất. Ta ngồi đây một mình với bản thân ta.'
Hiện hữu với bản thân mình và hạnh phúc với bản
thân mình, phúc lạc với bản thân mình, và không đi
vào tưởng tượng... thế thì bỗng nhiên người ta ở nhà,
người ta đi vào trong vực thẳm riêng của mình.
Nó có vẻ giống như trống rỗng khi bạn bước vào,
nhưng một khi bạn đã đi vào trong nó thì lại có chính
sự tràn đầy của hiện hữu, sự hoàn thành, sự nở hoa,
đỉnh cao nhất, cao trào. Nó không phải là trống rỗng.
Nó chỉ có vẻ là trống rỗng bởi vì bạn đã sống với
người khác và đột nhiên bạn bị thiếu người khác; đó
là lí do tại sao bạn lại diễn giải nó là trống rỗng.
Người khác không có đó, chỉ bạn mới có đó - nhưng
bạn không thể thấy được bản thân mình ngay bây giờ,
bạn đơn giản thiếu người khác.
Bạn đã trở nên quá quen; ý tưởng về người khác
đã trở thành thâm căn cố đế, nó đã trở thành thói quen
máy móc, cho nên khi bạn bỏ nó bạn cảm thấy mình
trống rỗng, cô đơn, rơi vào trong vực thẳm. Nhưng
nếu bạn cho phép và cứ rơi vào trong vực thẳm đó,
chẳng mấy chốc bạn sẽ nhận ra vực thẳm này đã biến
mất, và cùng với vực thẳm đó tất cả mọi gắn bó ảo
tưởng đã biến mất. Thế thì phép màu vĩ đại nhất xảy
ra - rằng bạn đơn giản hạnh phúc chẳng bởi lí do nào
cả.
Nhớ lấy, khi hạnh phúc của bạn phụ thuộc vào
người khác, thì bất hạnh của bạn cũng sẽ phụ thuộc
vào người khác. Nếu bạn hạnh phúc bởi vì người đàn
bà yêu bạn, bạn sẽ trở nên bất hạnh nếu cô ấy không
yêu bạn. Nếu bạn hạnh phúc vì bất kì lí do nào về bất
kì cái gì, thế thì bất kì ngày nào lí do đó không còn
nữa, bạn sẽ trở nên bất hạnh. Hạnh phúc của bạn bao
giờ cũng như trứng treo trên đá, bạn bao giờ cũng vẫn
còn trong lúc bão tố. Bạn sẽ chẳng bao giờ chắc chắn được liệu bạn có
hạnh phúc hay bất hạnh, bởi vì từng
khoảnh khắc bạn sẽ thấy đất dưới chân có thể biến
mất - bất kì khoảnh khắc nào nó cũng có thể biến mất.
Bạn không bao giờ có thể chắc chắn được. Người đàn
bà đó mỉm cười ngay bây giờ đấy, và thế rồi cô ấy lại
trở nên giận dữ. Người chồng đang nói hay thế và
bỗng nhiên anh ấy mất hút vào tâm trạng tức giận.
Phụ thuộc vào người khác là phụ thuộc thôi - nó
là tù túng, nó là phụ thuộc, và người ta không bao giờ
có thể cảm thấy thực sự phúc lạc được.
Phúc lạc là có thể chỉ trong tự do toàn bộ, vô điều
kiện. Đó là lí do tại sao ở phương Đông chúng ta gọi
nó là moksha. Moksha nghĩa là tự do tuyệt đối. Hiện
hữu với chính mình là moksha bởi vì bây giờ bạn
không phụ thuộc. Hạnh phúc của bạn đơn giản là của
riêng bạn, bạn không vay mượn nó từ bất kì ai. Không
ai có thể lấy được nó đi, ngay cả cái chết.
Nhớ lấy, cái chết chỉ tách bạn ra khỏi người khác,
nó chưa bao giờ tách bạn khỏi bản thân mình. Cái
chết dường như đáng sợ thế bởi vì nó sẽ lôi bạn ra
khỏi người khác - vợ sẽ không còn với chồng nữa, mẹ
sẽ không còn với con nữa. Cái chết chỉ tách bạn ra
khỏi người khác thôi. Nó không thể tách bạn ra khỏi
bản thân mình được; không có cách nào để tách bạn
ra khỏi bản thân mình.
Một khi bạn đã học được cách hiện hữu với chính
mình thế thì cái chết là vô nghĩa, thế thì cái chết
không tồn tại. Bạn trở thành bất tử. Thế thì cái chết
không thể lấy được gì từ bạn. Cái mà cái chết có thể
lấy đi được khỏi bạn, bạn đã buông xuôi theo cách
riêng của mình rồi.
Đó chính là tất cả mọi điều về thiền - buông xuôi
cái không bản chất, cái mà cái chết có thể lấy đi khỏi
bạn. Cái mà cái chết sẽ làm, thì thiền nhân làm theo
cách riêng của mình, một cách tự nguyện. Biết rõ điều
đó - rằng cái này sẽ bị lấy đi - người đó buông xuôi
nó.
Hiện hữu một mình là cực kì đẹp. Không có gì so
sánh được với nó. Cái đẹp của nó là cái đẹp tối
thượng, vĩ đại của nó là vĩ đại tối thượng, sức mạnh
của nó là sức mạnh tối thượng.
Quay về nhà đi. Và con đường là: bạn sẽ phải
chịu đựng cô đơn trước hết. Chịu đựng nó đi, đi qua
nó. Bạn phải trả giá cho phúc lạc sẽ là của bạn - bạn
phải trả giá cho nó. Việc chịu đựng đơn độc này chính
là việc trả giá cho nó. Bạn sẽ được lợi vô cùng.
Câu hỏi thứ hai
Thầy nói các sannyassin chỉ lo lắng về bản thân
họ thôi - và họ làm điều đó! Ở Arica chúng tôi có
điều được biết tới là thống nhất nhóm. Qui tắc là
thế này: Nhóm chỉ lên cao tới mức của thành viên
thấp nhất của nhóm. Do đó tiến hoá của chúng tôi
là gắn bó lẫn nhau. Nhân loại là một thể; sao
nhấn mạnh vào tính cá nhân nhiều hơn tính toàn
thể?
Vâng, chúng ta là một phần của nhau. Không chỉ
nhân loại là một, sự tồn tại là một. Nhưng tính một
này có thể được cảm thấy ở hai mức: một mức là
trong vô thức sâu và mức kia là trong siêu thức. Hoặc
bạn phải trở thành cái cây - thế thì bạn là một với cái
toàn thể; hoặc bạn phải trở thành vị phật - thế thì bạn
là một với cái toàn thể. Giữa hai điều này bạn không
thể là một với cái toàn thể được.
Ý thức mang tính cá nhân, vô thức mang tính toàn
thể; siêu thức mang tính toàn thể, ý thức mang tính cá
nhân. Cho nên nếu chỗ nào đó ở Arica hay chỗ nào đó
khác họ dạy bạn là một phần của nhóm, bạn sẽ trở nên
vô thức. Khả năng lớn hơn là ở chỗ bạn sẽ tụt về ý
thức của mình. Chừng nào bạn còn chưa trở thành vị
phật, bạn không thể trở thành cái một được, bạn
không thể biết tới cái một thực của cái toàn thể.
Cái một thực của cái toàn thể chỉ có thể được biết
tới theo hai cách: hoặc là trở thành vô thức, đánh mất
đi ý thức của bạn - tính cá nhân bị mất; hoặc vượt ra
ngoài ý thức - thế thì tính cá nhân của bạn bị mất.
Đó là lí do tại sao đám đông lại hấp dẫn mọi
người nhiều thế. Bạn đã bao giờ thấy mọi người trong
đám đông chưa, họ trông sung sướng thế nào? Người
Mô ha mét giáo sẽ phá huỷ đền thờ, hay người Hindus
sẽ giết người Mô ha mét giáo - nhìn sự sung sướng
làm sao, sôi sùng sục, phát toả năng lượng. Những
người đờ đẫn... bạn đã thấy họ trước đây, bước đi trên
phố - đờ đẫn, chết. Bây giờ bỗng nhiên họ đã trở
thành sống động - hò hét, trêu đùa lẫn nhau, xô lên
phía trước, cứ dường như cái gì đó đẹp đẽ đang sắp
xảy ra.
Sao mọi người lại cảm thấy sung sướng thế trong
đám đông? Sao sung sướng trong đám đông lại trở
nên lây nhiễm thế? Bởi vì trong đám đông họ rơi
xuống, họ trở thành vô ý thức. Họ làm mất tính cá
nhân của mình, họ hội nhập tính cá nhân của mình.
Bằng việc vứt bỏ ý thức của mình họ vứt bỏ tính cá
nhân của mình. Thế thì họ sung sướng, thế thì không
có lo nghĩ, thế thì không có trách nhiệm.
Bạn đã bao giờ quan sát sự kiện là các cá nhân
không phạm tội ác lớn trong thế giới không? Tất cả
những tội ác lớn đều do đám đông phạm phải, không
bao giờ bởi các cá nhân. Quân đội có thể phạm phải
hàng triệu tội ác. Hỏi từng cá nhân của quân đội đó và
họ sẽ bắt đầu cảm thấy có trách nhiệm. Hỏi họ, 'Một
mình anh có thể làm điều đó được không?' Họ sẽ nói,
'Không. Làm sao tôi có thể làm điều đó một mình
được? Đấy là đám đông, tôi trở nên bị mất hút trong
đó. Tôi quên mất bản thân mình. Tâm trạng đám
đông, trong đám người quá lớn. Tôi bị mất hút. Đám
đông đang làm điều gì đó, tôi đơn giản trở thành một
phần của nó. Tôi đã không làm điều đó.' Hỏi một
người Mô ha mét giáo, 'Anh có thể đốt đền hay giết
người Hindus được không?' Hỏi người Hindus, 'Anh
có thể sát hại người Mô ha mét giáo được không -
riêng cá nhân anh thôi?'
Đây là phép màu, nhưng chúng ta không quan sát
điều đó. Không cá nhân người Mô ha mét giáo nào
xấu cả, không cá nhân người Hindu giáo nào xấu cả...
cá nhân là những người đẹp đẽ, vì mọi người bao giờ
cũng đẹp. Trong đám đông bỗng nhiên họ đổi khuôn
mặt mình... sự biến hình xảy ra. Họ không còn là cá
nhân nữa, họ không còn là con người có ý thức nữa; họ bị mất đi. Thế
rồi đám đông có cách riêng của nó,
không ai có thể điều khiển được nó.
Thế thì tất nhiên, Arica là đúng - Qui tắc là thế
này: nhóm chỉ lên cao tới mức của cá nhân thấp nhất
của nó. Đó là lí do tại sao tôi lại nói đừng trở thành
thành viên của nhóm. Bằng không bạn sẽ ở thấp như
thành viên thấp nhất. Trở thành cá nhân đi. Trong
nhóm bạn bao giờ cũng sẽ tụt xuống mẫu số thấp
nhất.
Điều đó là tự nhiên, điều đó rất khoa học. Nếu
bạn bước đi cùng một nhóm một trăm người, thì
người đi chậm nhất sẽ quyết định tốc độ. Bởi vì người
chậm nhất không thể đi nhanh hơn được, người đó có
giới hạn của mình. Và nếu nhóm phải vẫn giữ là một
nhóm thì nhóm phải đi cùng với người chậm nhất.
Người đi nhanh hơn có thể đi chậm lại, nhưng người
đi chậm hơn thì không thể trở nên nhanh được; người
đó có giới hạn của mình.
Nhóm bao giờ cũng bị cai quản bởi người ngu.
Người ngu không thể trở nên thông minh được, nhưng
người thông minh thì có thể dễ dàng rơi lại và trở
thành ngu. Bạn đã từng thấy người ngu nào làm điều
gì thông minh bao giờ chưa? Nhưng bạn đã thấy
nhiều người thông minh làm những hành động ngu
xuẩn, hành động ngốc nghếch. Bất kì lúc nào bạn
cũng có thể trở thành ngu, nhưng lại không dễ thế để
trở nên khôn ngoan mọi khoảnh khắc. Người ngu rất
nhất quán - người đó vẫn còn ngu. Người đó không
thể thỉnh thoảng thông minh được, điều đó là không
thể được. Nhưng người khôn ngoan thì lại không nhất
quán thế; đôi khi người đó trở lại, trở thành ngu. Có
những khoảnh khắc ngu xuẩn trong cuộc sống của
người đó. Có những ngày nghỉ trong cuộc sống người
đó khi người đó xả hơi chút ít và không bận tâm tới
khôn ngoan của mình.
Nếu bạn bị buộc với một người thấp hơn bạn
trong tiến hoá, thế thì bạn sẽ phải đi cùng người đó.
Tất nhiên người đó không thể bước đi cùng bạn được.
Do đó tôi nói tôi cũng tin vào qui tắc này, nhưng tôi
diễn giải nó theo cách khác. Qui tắc này hoàn toàn
đúng - Nhóm chỉ lên cao tới mức của người thấp nhất
của nhóm thôi. Cho nên nếu bạn muốn đi lên cao, xin
nhớ lấy - đừng bao giờ trở thành thành viên của bất kì
nhóm nào. Nhớ lấy vẫn còn là cá nhân. Thế thì bạn tự
do đi theo nhịp riêng của mình. Thế thì bạn hoàn toàn
tự do đi một mình. Trong nhóm bạn bị buộc lại.
Và tất nhiên, người ngu có khuynh hướng tạo
thành nhóm bởi vì một mình họ không thể dựa vào
bản thân mình được. Họ sợ, họ không có thông minh
nào. Họ biết rằng một mình họ sẽ bị lạc. Họ có
khuynh hướng tạo thành nhóm, đám đông. Cho nên
bất kì khi nào nhà thờ tồn tại, bất kì khi nào giáo phái
tồn tại, chín mươi chín phần trăm nó bao gồm người
ngu. Nó phải như vậy. Họ quyết định chính sách của
tôn giáo, chính trị và mọi thứ.
Nhận biết về sự thống trị của quần chúng này và
tỉnh táo. Bởi vì trong bạn cũng có những khoảnh
khắc, những khoảnh khắc ngu xuẩn, khi bạn muốn
thảnh thơi. Thế thì bạn không chịu trách nhiệm, thế
thì không có lo nghĩ. Thế thì bạn bao giờ cũng có thể
đổ trách nhiệm lên nhóm. Bạn bao giờ cũng có thể
nói, 'Tôi có thể làm được gì nào? Tôi bước đi cùng nhóm, và nhóm đi
chậm, cho nên tôi đi chậm. Thành
viên chậm nhất đang quyết định mọi thứ.'
Nếu bạn thực sự muốn trưởng thành, hãy một
mình. Nếu bạn thực sự muốn tự do, có trách nhiệm đi.
Do đó tôi nhấn mạnh vào tính cá nhân. Điều đó không
có nghĩa là tôi không biết rằng vũ trụ là một. Nhưng
có hai cách để biết nó: hoặc tụt xuống dưới ý thức, thế
thì vũ trụ là một - nhưng thế thì bạn không biết nó bởi
vì bạn đã tụt xuống dưới ý thức; hay, vươn lên trên ý
thức, trở thành siêu thức, trở nên chứng ngộ, trở thành
vị phật. Thế thì bạn cũng biết rằng cái toàn thể là một,
nhưng thế thì cái toàn thể không thể lôi bạn xuống
được. Thực tế vị phật bắt đầu lôi cái toàn thể lên.
Trong trạng thái vô thức, cái thấp nhất xác định tỉ
lệ trưởng thành. Trong trạng thái siêu thức cái cao
nhất, cái lớn nhất quyết định. Vị Phật kéo bạn lên.
Chính sự hiện diện của ông ấy kéo bạn lên tới những
đỉnh cao còn chưa được biết tới với bạn, chưa từng
được mơ tới. Thế thì cái cao nhất trở thành nhân tố
quyết định.
Đó là lí do tại sao ở phương Đông chúng ta bao
giờ cũng nhấn mạnh vào tính cá nhân, và chúng ta bao
giờ cũng nhấn mạnh vào việc tìm ra thầy riêng hơn là
trở thành một phần của bất kì nhóm nào. Có liên hệ cá
nhân với một thầy đi. Thế thì cái cao nhất xác định
cuộc sống của bạn; thế thì bạn có thể được thầy kéo
lên. Trong một nhóm, cái thấp nhất sẽ xác định cuộc
sống của bạn.
Đừng là người Hindu. Nếu bạn có thể tìm thấy
Krishna, nhất định đi theo - nhưng đừng là người
Hindu giáo. Đừng là người Ki tô giáo. Nếu bạn có thể
tìm thấy Jesus ở đâu đó, chạy xô về ông ấy, quên hết
tất cả đi... Nhưng nếu bạn không thể tìm ra một Jesus,
đừng là người Ki tô giáo, bởi vì Ki tô giáo là đám
đông. Jesus là siêu cá nhân. Tìm ra một thầy và sống
trong satsang với thầy, sống trong sự hiện diện của
thầy - và để nó là mối liên hệ cá nhân.
Tôi cho bạn tính chất sannyas. Bạn không trở
thành một phần của bất kì nhà thờ nào, bạn không trở
thành một phần của bất kì đám đông nào. Mối quan
hệ của bạn mang tính cá nhân với tôi. Có hàng nghìn
sannyasin, nhưng từng sannyasin đều có liên hệ cá
nhân với tôi. Bạn không có liên hệ với sannyasin khác
chút nào, nhớ lấy. Mối quan hệ của bạn là với tôi...
một cách cá nhân, một cách riêng tư.
Bạn không có quan hệ với các sannyasins như
một nhóm. Không có nhu cầu. Bạn tất cả chỉ có quan
hệ với tôi một cách cá nhân, và tất nhiên bạn có quan
hệ theo cách nào đó với nhau, nhưng điều đó là bởi vì
tôi. Mối quan hệ đó là không trực tiếp, nó là thông
qua tôi.
Và tôi muốn bạn trở nên ngày một cá nhân hơn.
Một ngày nào đó bạn sẽ trở thành vũ trụ, nhưng đó là
hi vọng, nó chưa phải là thực tại - chưa phải dành cho
bạn. Và nếu bạn muốn làm cho nó thành thực tại, bạn
sẽ phải trở nên ngày một ý thức hơn - ý thức cao tới
mức một ngày nào đó ý thức không được cần tới nữa.
Bạn đã trở thành ý thức tới mức ý thức không còn
được cần tới nữa, bạn có thể gạt nó sang bên.
Đi và xem người say bước đi trên phố. Người đó
đã làm gì? Người đó đã làm cùng điều như vị phật.
Quan sát vị phật và quan sát người say - họ cả hai đều làm cùng một
điều. Người say đã rơi vào vô thức và
trở thành một phần của vũ trụ. Người đó đã uống rượu
để làm chìm ngập ý thức và lo nghĩ, tính cá nhân của
mình. Người đó đã trở thành một phần của vô thức
tập thể.
Và thế rồi có Phật, bước đi với vẻ duyên dáng,
với vẻ đẹp, với sự vĩ đại của ông ấy. Ông ấy cũng đã
biến mất - nhưng không giống người say. Ông ấy đã
không tụt xuống dưới nhân loại, ông ấy đã vượt ra
ngoài nhân loại. Cả hai theo một cách nào đó là tương
tự, bởi vì cả hai đều không là cá nhân. Cho nên người
say có cái gì đó tương tự như vị phật - cả hai đều
không là cá nhân. Vậy mà bạn không thể tìm thấy
được hai người ở xa nhau thế, ở các cực đoan thế - thế
mà họ lại có cái gì đó tương tự.
Hay, lấy một ví dụ khác. Patanjali nói rằng ngủ và
samadhi (định), ngủ say và samadhi, là giống nhau.
Bởi vì trong samadhi cá nhân biến mất và trong giấc
ngủ say cá nhân cũng biến mất. Trong giấc ngủ say
bạn trở thành một phần của vô thức, vô thức tập thể.
Trong samadhi bạn trở thành một phần của siêu thức
tập thể.
Chúng là tương tự và vậy mà chúng là các cực
điểm, các cực đối lập. Sự tương tự chỉ là một - rằng
trong cả hai bản ngã biến mất. Nhưng nó biến mất
theo những cách khác nhau. Trong giấc ngủ bạn lại
trở thành giống như cây cỏ. Bạn sống vô vị, bạn giống
như tảng đá; bạn không có tính cá nhân nào.
Trong samadhi bản ngã bị vứt bỏ. Bây giờ bạn
không có giới hạn nào, không định nghĩa, bạn được
hội nhập với cái toàn thể - nhưng được hội nhập với
cái toàn thể trong nhận biết vô cùng. Bạn không ngủ.
Lo nghĩ đã biến mất, bởi vì lo nghĩ chỉ tồn tại với bản
ngã. Cho nên có hai cách để vứt bỏ lo nghĩ - hoặc trở
thành một phần của một nhóm, hoặc trở thành một
phần của bình diện siêu thức.
Người Aricans nói điều gì đó đúng, nhưng điều
họ làm lại tuyệt đối sai.
Thầy nói các sannyassin hãy chỉ lo lắng về bản
thân họ thôi - và họ làm điều đó!
Vâng, tôi nói với họ hãy chỉ lo nghĩ về phần họ
thôi, bởi vì ngay bây giờ điều đó nên là mối quan tâm
duy nhất của họ. Nếu họ bắt đầu lo nghĩ về toàn thế
giới thì họ sẽ không có khả năng làm gì cả. Thậm chí
lo nghĩ về bản thân mình cũng là quá nhiều rồi. Gạt
bỏ những lo nghĩ đó cũng là quá nhiều rồi, điều đó là
khó, và nếu bạn lo nghĩ về toàn thể thế giới thế thì
không có cách nào thoát ra khỏi nó cả. Thế thì bạn có
thể chắc chắn bạn bao giờ cũng sẽ vẫn còn lo nghĩ.
Và đừng nghĩ cho dù là một khoảnh khắc rằng
bạn đang giúp cho thế giới bằng việc lo nghĩ về nó.
Bạn chẳng giúp gì thế giới bằng việc lo nghĩ về nó,
bởi vì người lo không thể giúp được ai cả. Người đó
là lực huỷ hoại.
Cho nên trước hết giảm nỗi lo xuống mức tối
thiểu đi. Tức là, hạn chế nỗi lo của bạn vào bản thân
mình thôi, thế là đủ rồi. Tuyệt đối ích kỉ. Vâng, đó là
điều tôi nói đấy - tuyệt đối ích kỉ nếu bạn muốn giúp đỡ người khác.
Nếu một ngày nào đó bạn muốn thực
sự vị tha, thì vị kỉ đã.
Trước hết thay đổi con người bạn. Trước hết tạo
ra ánh sáng bên trong trái tim bạn, trở nên toả sáng.
Thế thì bạn có thể giúp được người khác. Và bạn sẽ
có khả năng giúp đỡ mà không lo lắng. Bởi vì lo lắng
chẳng bao giờ giúp được ai cả. Ai đó sắp chết và bạn
ngồi bên cạnh người đó và bạn lo lắng. Điều đó sẽ
giúp đỡ thế nào được? Nếu bệnh nhân sắp chết và bác
sĩ lo lắng, điều đó sẽ chẳng giúp ích gì. Bác sĩ lo lắng
bao nhiêu cũng là vô ích. Ông ấy phải làm điều gì đó.
Và khi bệnh nhân sắp chết, cần có bác sĩ biết cách
không lo lắng. Chỉ thế thì ông ấy mới có thể có ích,
bởi vì chỉ thế thì chẩn đoán của ông ấy mới rõ ràng
hơn, đúng đắn hơn. Đó là lí do tại sao nếu bạn ốm và
chồng bạn là bác sĩ, anh ấy sẽ không có ích gì nhiều,
bởi vì anh ấy sẽ lo lắng quá nhiều về bạn. Cần có ai
đó là người khách quan.
Đứa trẻ cần mổ. Bố nó có thể là nhà giải phẫu lớn,
nhưng ông ấy không được phép mổ cho đứa con bởi
vì ông ấy sẽ lo lắng quá nhiều. Tay ông ấy sẽ run -
con của ông ấy mà; ông ấy không thể chỉ là người
quan sát. Ông ấy không thể khách quan được, ông ấy
bị dính líu quá nhiều. Ông ấy sẽ giết chết đứa trẻ. Cần
nhà giải phẫu nào đó khác, người có thể vẫn còn vô
tư, người có thể vẫn còn ở xa xăm, xa rời, cách xa,
không lo lắng.
Cho nên nếu bạn thực sự muốn giúp cho nhân
loại, trước hết bạn phải trở thành không lo lắng. Và để
trở nên không lo lắng trước hết bạn phải vứt bỏ những
lo nghĩ không cần thiết. Đừng nghĩ tới thế giới vội.
Thế giới vẫn tiếp tục điều đó và nó sẽ tiếp tục điều đó.
Đừng ngu xuẩn. Tất cả những người không tưởng đều
có chút ít ngu xuẩn - họ mong đợi cái gì đó sẽ chẳng
bao giờ xảy ra, chưa bao giờ xảy ra cả.
Tất cả mọi điều đều là có thể - hiện thực đi, khoa
học đi - tất cả mọi điều có thể là ở chỗ bạn có thể siêu
việt lên trên lo lắng. Cho nên lo về bản thân mình đi
và tìm ra cách vượt lên trên chúng đi, vượt ra ngoài
chúng. Khi bạn đã vượt ra ngoài rồi, bạn có thể cực kì
có ích cho thế giới.
Câu hỏi thứ ba
Phần lớn thời gian tôi cảm thấy dường như mình
chỉ tồn tại trong con mắt của người khác, dường
như tôi phản ứng lại mong đợi của họ về tôi. Tôi
cảm thấy không phải là tôi đã siêu việt lên trên
bản ngã, nhưng dường như tôi không có bản ngã,
không có bản thể, không bản chất. Tôi cảm thấy
không thực thế. Tôi ở đâu đây? Tôi có thể làm gì -
hay không làm gì?
Điều đầu tiên - không chỉ bạn tồn tại trong con
mắt của người khác đâu; mọi người đều tồn tại theo
cách đó. Đó là cách thức thông thường của sự tồn tại.
Bạn dùng người khác làm tấm gương. Ý kiến của
người khác trở thành rất quan trọng, có giá trị mênh
mông - bởi vì chúng định nghĩa ra bạn.
Ai đó nói bạn đẹp; trong khoảnh khắc đó bạn trở
thành đẹp. Ai đó nói bạn ngu; trong khoảnh khắc đó
bạn bắt đầu nghi ngờ - có thể bạn là người ngu thật.
Bạn có thể bực mình, bạn có thể phủ nhận, nhưng sâu
bên dưới bạn đã trở nên nghi ngờ về thông minh của
mình. Ai đó nói bạn thánh thiện thế và bạn bắt đầu
hành xử như người thánh thiện, bởi vì bạn phải giữ
hình ảnh của mình.
Một khi xã hội đã quyết định rằng bạn là tội đồ,
thì bạn bắt đầu cư xử như tội đồ. Bởi vì bây giờ phỏng
có ích gì nữa? Họ đã quyết định rằng bạn là tội đồ rồi
mà. Dù bạn có là tội đồ hay không thì cũng chẳng
thành vấn đề gì mấy, cho nên sao không là tội đồ đi
cho rồi? Một khi một người vào tù, người đó trở thành
khách thăm vĩnh viễn ở đó; người đó cứ tới đó mãi.
Một khi xã hội đã biết rằng người đó là tội đồ và
người đó đã bị trừng phạt, một khi người đó đã bị dán
nhãn là tội đồ, thì người đó quyết định, 'Bây giờ thì
phỏng còn có ích gì?'
Các nhà tâm lí nói rằng nếu trong gia đình bạn bị
đối xử như người ngu hay như anh hề, thì dần dần bạn
bắt đầu đóng vai đó. Bạn phải chấp nhận nó bởi vì
bạn không biết mình là ai. Ít nhất mọi người cũng gọi
là đồ ngu; họ cho bạn một định nghĩa nào đó. Bạn có
thể tin vào họ. Một khi một đứa nhỏ được bảo rằng nó
là ngu - ở nhà, ở trường - thì nó bắt đầu cư xử theo
cách ngu xuẩn, bởi vì điều đó trở thành định nghĩa
của nó. Bằng không thì nó không biết mình là ai.
Điều đầu tiên cần hiểu - không chỉ bạn đang tồn
tại chỉ trong con mắt người khác đâu; mọi người đều
tồn tại trong con mắt của người khác. Đây là thế giới.
Đây là điều ở Ấn Độ chúng ta gọi thế giới là maya, ảo
tưởng. Bạn tồn tại trong con mắt người khác và người
khác tồn tại trong con mắt của bạn. Đó là lừa dối lẫn
nhau. Họ không biết họ là ai, bạn không biết bạn là ai.
Bạn định nghĩa họ, họ định nghĩa bạn. Đó là thủ đoạn
qua lại. Họ chơi trò định nghĩa bạn; bạn chơi trò định
nghĩa họ. Và tất cả các định nghĩa đều là giả, bởi vì
linh hồn bạn chưa bao giờ được phản chiếu trong con
mắt của bất kì ai.
Nếu bạn muốn biết mình là ai, bạn thậm chí sẽ
phải nhắm mắt mình lại - bạn sẽ phải đi vào bên
trong. Bạn sẽ phải quên đi cả thiên hạ, bạn sẽ phải
quên đi điều họ nói về bạn. Bạn sẽ phải đi sâu vào bên
trong mình và đương đầu với thực tại riêng của mình.
Đó là điều tôi đang thuyết giảng ở đây - đừng phụ
thuộc vào người khác, đừng nhìn vào mắt họ. Không
có manh mối nào trong mắt của họ đâu. Họ vô nhận
biết cũng như bạn vậy - làm sao họ có thể định nghĩa
được bạn?
Tôi đã nghe nói về hai nhà chiêm tinh mọi sáng
thường hay ra chợ của thị trấn nào đó để ngồi đó và
nói cho mọi người về tương lai của họ. Vào buổi sáng
họ sẽ tới và chìa tay mình ra cho nhau, chỉ để biết
tương lai riêng của mình, điều gì sẽ xảy ra vào ngày
hôm đó, liệu họ có kiếm được tiền hay không. Và nhà
chiêm tinh này sẽ nói về nhà chiêm tinh kia, và người
kia sẽ nói về người này, và họ cả hai đều sung sướng.
Điều đó tất nhiên là không mất tiền, bởi vì cả hai đều
phục vụ cho nhau. Bây giờ, những người đó đang tiên
đoán về tương lai của người khác đấy!
Một lần chuyện xảy ra, tôi ở trong một thành phố
và vài người bạn đưa một nhà chiêm tinh rất nổi tiếng
tới gặp tôi. Ông ấy chỉ xem tay cho nếu bạn trả cho
ông ấy một nghìn lẻ một ru pi. Ông ấy cứ nghĩ rằng
tất nhiên ông ấy được trả tiền. Ông ấy nhìn tay tôi và
thế rồi ông ấy đòi tiền. Tôi nói, 'Ông không thể thấy
được rằng tôi sẽ không trả tiền sao? Ông không thể
thấy được chừng đó sao? Nếu ông mà là nhà chiêm
tinh thực sự và ông biết tương lai của tôi, thì ông ít
nhất cũng phải biết tương lai của ông chứ.'
Các bạn đang nhìn vào mắt nhau để xem mình là
ai. Vâng, phản xạ nào đó có đấy, khuôn mặt của bạn
được phản xạ đấy. Nhưng khuôn mặt của bạn không
phải là bạn; bạn còn ở xa đằng sau khuôn mặt đó.
Khuôn mặt của bạn đã thay đổi nhiều tới mức bạn
không thể là khuôn mặt của mình được.
Bạn có nhớ bạn trông như thế nào vào ngày đầu
tiên khi bạn vào bụng mẹ bạn không? Chẳng có
khuôn mặt nào cả. Bạn có đó, nhưng không có mặt.
Bạn không thể nào được thấy bằng mắt trần; chỉ kính
hiển vi mới giúp cho thấy được. Và không có mặt
đâu, bạn chỉ là một thân thể, một tế bào. Nhưng bạn
có đó.
Thế rồi bạn bắt đầu lớn lên và nhiều khuôn mặt
trôi qua. Và thế rồi bạn được sinh ra. Nếu ai đó đem
bức ảnh của bạn vào cái ngày bạn được sinh ra đó,
bạn có cho rằng bạn sẽ có khả năng nhận ra đó là bạn
không? Vâng, nếu ai đó nói - mẹ bạn và bố bạn - rằng
đây là bạn, thì bạn có thể tin, nhưng bạn không thể
nhận ra được rằng đây là bạn. Thay đổi thường
xuyên... khuôn mặt bạn là một luồng. Nó cứ thay đổi
mọi ngày, mọi khoảnh khắc.
Bạn không phải là khuôn mặt. Đâu đó sâu bên
dưới được giấu kín là tâm thức bạn; nó chưa bao giờ
được phản xạ vào trong mắt của bất kì ai. Vâng, vài
điều có được phản xạ: hành động của bạn. Bạn làm
điều gì đó; điều đó được phản xạ trong mắt người
khác. Nhưng việc làm của bạn không phải là bạn. Bạn
còn vĩ đại hơn nhiều so với hành động của bạn.
Hành động chỉ giống như lá khô, lá úa rơi xuống
từ trên cây. Hành động giống như lá khô, lá chết rơi
rụng đi khỏi bạn - nó không phải là bạn. Trong hành
động của bạn không có định nghĩa nào về bạn cả. Cứ
dường như là bạn đi dưới cái cây và thu nhặt tất cả
những lá khô và bạn nghĩ bạn đã biết cái cây. Cái cây
còn lớn lao hơn nhiều, sống động. Bất kì hành động
nào, khoảnh khắc nó được hoàn thành, nó chết. Nó là
một phần của quá khứ, nó không còn sống nữa, nó là
cái lá chết.
Vâng, nhiều hành động xảy ra cho bạn như lá xảy
ra cho cây. Nhưng chúng cứ xảy ra. Và có những
khoảnh khắc khi tất cả các lá đều rơi rụng đi và cây
trơ trụi còn lại, trần trụi nổi trên trời... không lá. Cho
nên lá không thể định nghĩa ra cây được, chúng tới rồi
đi. Đến mùa rụng lá chúng biến mất, đến mùa xuân
chúng lại tới. Tán lá lớn lại tới, mầu lục lớn lại tới,
hoa lớn lại tới - nhưng cây là cái gì đó khác.
Bạn là sự hiện hữu đó - cái cây. Hành động tới và
đi; hành động không định nghĩa ra bạn, chúng được
phản xạ. Và thực tế mọi người không nói về hành
động của bạn đâu, họ nói về diễn giải của họ về hành động của bạn. Họ
không nói điều bạn đã làm, họ lập
tức đánh giá nó. Chẳng hạn, nếu bạn giận, họ nghĩ
bạn đang làm điều gì đó xấu. Họ không phản xạ giận
dữ của bạn, họ phản xạ thái độ của họ về cơn giận.
Bây giờ nghiên cứu hiện đại về tâm trí con người
nói rằng giận dữ là đẹp, nó không xấu, thực tế kìm
nén giận dữ mới xấu - đó là diễn giải mới. Nếu bạn
kìm nén giận dữ nó trở thành hận thù - hận thù là giận
dữ bị kìm nén thường xuyên. Nếu bạn đơn giản bày tỏ
giận dữ của mình thì bạn không bao giờ tích luỹ giận
dữ đủ để tạo ra hận thù.
Cũng giống như đứa trẻ nhỏ - trong một khoảnh
khắc nó giận dữ thế, bốc lửa, cứ dường như nó có thể
phá huỷ toàn thế giới, và khoảnh khắc tiếp nó lại chơi
với cùng đứa trẻ đó, hay ngồi vào lòng bạn, cười rinh
rích - nó đã quên hoàn toàn. Nó không mang ác ý, nó
không mang hận thù. Bất kì cái gì tới, đều trôi qua.
Giận dữ tới như làn gió thoảng và qua đi.
Nếu bạn kìm nén giận dữ thế thì bạn cứ chồng
chất nó, bên trong nó cứ tích luỹ lại. Nó trở thành mủ,
và thế rồi nó bùng nổ một ngày nào đó thành hận thù.
Người dễ dàng nổi cơn giận thì không bao giờ có thể
giết người được. Người không bao giờ trở nên giận và
bao giờ cũng trong kiểm soát - cảnh giác với người
đó. Người đó có thể giết người một ngày nào đó bởi
vì người đó đang tích luỹ.
Bây giờ, đây là diễn giải mới. Tôi không nói liệu
điều này là đúng hay sai, tôi đơn giản nói cách diễn
giải thay đổi. Trong quá khứ, giận dữ là xấu và người
giận dữ là người ác. Bây giờ Phong trào tiềm năng
nhân bản đã tạo ra một cách diễn giải mới. Họ nói
giận dữ là tốt, nó đơn giản chỉ ra sự sống động; nó là
năng lượng thuần khiết, nó là việc trao đổi; nó là tự
nhiên, nó mang tính con người, không có gì sai trong
nó, đừng kìm nén nó - hãy tận hưởng nó.
Tâm lí học mới nói nếu bạn tận hưởng giận dữ thì
bạn sẽ trở nên có nhiều khả năng hơn để tận hưởng
tình yêu. Tâm lí học cũ hay nói rằng nếu bạn trở nên
giận dữ thì bạn sẽ đánh mất tất cả tình yêu, thế thì tình
yêu của bạn sẽ biến mất. Bây giờ cách diễn giải đã
thay đổi hoàn toàn. Bây giờ nếu bạn kìm nén giận dữ
thì bạn sẽ trở thành ghét bỏ; hận thù sẽ được tích luỹ.
Và nếu bạn diễn đạt giận dữ, nó không là gì ngoài
việc diễn đạt của tình yêu.
Thực tế bạn trở nên giận dữ chỉ với người bạn
chăm sóc tới, bằng không bạn không bận tâm. Con
bạn đang làm điều gì đó; bạn trở nên giận dữ bởi vì
bạn chăm sóc, bởi vì bạn yêu. Vợ bạn đang làm điều
gì đó; bạn trở nên giận dữ bởi vì bạn yêu, bạn chăm
sóc. Vợ hàng xóm đang làm cùng một điều. Cứ để cô
ấy làm - ai bận tâm? Bạn chưa bao giờ trở nên giận dữ
bởi vì không có quan hệ. Giận dữ là mối quan hệ.
Lại để tôi nhắc bạn tôi không nói ai đúng, ai sai.
Tôi đơn giản nói rằng cách diễn giải thay đổi và mọi
người không phản xạ bạn hay hành động của bạn; họ
phản xạ cách diễn giải của họ. Bây giờ nếu một người
truyền thống, kiểu cổ mà quan sát bạn giận dữ, trong
cơn cáu kỉnh, nhảy lên và đi lại và ném đồ đạc, người
đó sẽ nói bạn điên. Còn người nhân văn sẽ nói bạn là
con người.
Tôi đã nghe:
Cô y tá trẻ vừa mới hoàn thành khoá huấn luyện
và không may bắt gặp một bệnh nhân đặc biệt khó
tính vào ngày đầu tiên trong khu bệnh viện. Ông ta
phàn nàn về mọi thứ, cứ mong đợi mọi người phục vụ
mọi nhu cầu của ông ta không chậm trễ, và nói chung
bản thân ông ta là mối phiền hà lớn.
Cô y tá đáng thương mệt mỏi quá sức chịu đựng
và, nhớ tới bài học về mối quan hệ y tá - bệnh nhân,
cuối cùng mất hết sự kiểm soát và bực tức thốt lên, 'A
cái ông này - ông con người này!'
Bây giờ thậm chí 'con người' cũng có thể được
dùng trong một câu kết án: 'A cái ông này - ông con
người này!' Điều đó tuỳ thuộc vào cách diễn giải của
bạn.
Bản thể bạn chưa bao giờ được phản ánh trong
con mắt của người khác. Bản thể bạn phải đi tới biết
chỉ theo một cách - và đó là bằng việc nhắm mắt lại
với mọi tấm gương. Bạn phải đi vào trong sự tồn tại
nội tâm riêng của mình, đối diện trực tiếp với nó.
Không ai có thể cho bạn ý tưởng nào về nó, nó là gì.
Bạn có thể biết nó, nhưng không từ người khác. Nó
không bao giờ có thể là tri thức vay mượn, nó chỉ có
thể là kinh nghiệm trực tiếp, việc kinh nghiệm trực
tiếp, tức khắc.
Cho nên, đừng lo nghĩ về nó.
"Tôi cảm thấy không phải là tôi đã siêu việt lên
trên bản ngã, nhưng dường như tôi không có bản ngã,
không có bản thể, không bản chất. Tôi cảm thấy
không thực thế. Tôi ở đâu đây?" Bạn đang ở ngay
giữa hai thế giới này. Điều đó xảy ra cho mọi thiền
nhân. Hừ? Bạn đã có sự đồng nhất được thu thập từ
con mắt của người khác, được chọn lựa từ ý kiến của
người khác. Thế rồi bạn bắt đầu đi vào bên trong; sự
đồng nhất đó trở nên mơ hồ, mơ hồ hơn, bắt đầu biến
mất. Bạn không biết mình là ai, và tất cả mọi điều bạn
biết về bản thân mình lại đang biến mất. Một ngày
nào đó bạn đứng ở giữa.
Đây là khoảnh khắc chuyển dịch. Bạn còn chưa
vào, và bạn đã rời xa khỏi cái bên ngoài. Bạn đang
đứng ngay trên ngưỡng cửa. Thế giới không còn đó
nữa, nhưng bạn cũng chưa hiện hữu. Trong khoảnh
khắc này người ta cảm thấy rất không thực, chỉ là ảo
ảnh, bởi vì người ta không có ý tưởng nào mình là ai,
và tất cả mọi ý tưởng người ta đã có thì đều đã mất.
Và trong thực tế không ai có thể siêu việt lên trên
bản ngã được bởi vì bản ngã không tồn tại. Khi chúng
ta nói 'siêu việt lên trên bản ngã' điều đó đơn giản
nghĩa là đi tới biết rằng bản ngã không tồn tại. Nó
không phải là cái gì đó thực mà bạn có thể siêu việt
lên trên hay bạn có thể vứt bỏ đi, nó là một ý tưởng
không thực mà bạn chỉ phải hiểu ra. Chính việc hiểu
đó là siêu việt.
Bây giờ để tôi nhắc lại toàn bộ câu hỏi.
Phần lớn thời gian tôi cảm thấy dường như mình
chỉ tồn tại trong con mắt của người khác, dường
như tôi phản ứng lại mong đợi của họ về tôi. Tôi
cảm thấy không phải là tôi đã siêu việt lên trên
bản ngã, nhưng dường như tôi không có bản ngã,
không có bản thể, không bản chất. Tôi cảm thấy
không thực thế. Tôi ở đâu đây? Tôi có thể làm gì,
hay không làm gì?
Bạn đang trên ngưỡng đấy. Bạn đã đi tới hiểu ra
rằng sự đồng nhất của bạn trong con mắt của người
khác là giả tạo. Do đó bạn không thể tạo ra được bản
ngã của mình. Chính thức ăn cho bản ngã đã biến mất.
Bạn cảm thấy không thực. Bản ngã đã từng là thực tại
duy nhất của bạn cho tới giờ, và bạn cảm thấy mất đi,
bạn không biết mình là ai, nhưng tôi biết bạn ở đâu.
Bạn đang ở ngay chính giữa của hai thế giới - thế giới
này và thế giới kia. Bạn đang ở ngay khoảnh khắc
chuyển đổi giữa sansara và sannyas - giữa thế giới và
việc từ bỏ thực.
Bây giờ, vào khoảnh khắc này bạn không được
mong đợi phải làm gì, bởi vì bất kì cái gì bạn làm
cũng đều sẽ đưa bạn trở lại trong thế giới. Việc làm
đưa mọi người vào trong thế giới. Chẳng ai mong đợi
bạn phải làm cái gì cả. Bạn không định làm gì, bạn
đơn giản chờ đợi và quan sát, không làm. Không làm
sẽ có tác dụng.
Đừng làm gì cả và đừng cố gắng thay đổi tình
huống này, bởi vì nếu bạn cố gắng thay đổi nó thì bạn
sẽ lại rơi về thế giới quen thuộc đã biết riêng của
mình; bạn sẽ lại níu bám lấy sự đồng nhất cũ của
mình. Bạn đơn giản chờ đợi. Chỉ bằng việc chờ đợi,
và dần dần bạn sẽ trượt vào trong thế giới nội tâm.
Chẳng cần làm cái gì về nó cả, chỉ vô làm mới có tác
dụng.
Điều đó cũng giống như dòng suối bị ngầu bùn.
Bạn làm gì để làm trong lại dòng suối? Bạn đơn giản
ngồi trên bờ; dần dần cát bụi lắng xuống. Dòng suối
lại tuôn chảy trong veo, trong như pha lê. Chỉ chờ đợi
thôi. Ngồi ở giữa hai thế giới này. Tôi biết điều đó rất
bất tiện, rất không thoải mái. Người ta muốn có thực
tại nào đó, và điều đó lại rất không thực. Nhưng chờ
đợi đi.
Đây chính là điều, trên con đường, vẫn được gọi
là khổ hạnh, tapascharya. Đây là điều gian nan, gian
nan thực sự - khi người ta đang làm mất đi cái cũ mà
cái mới còn chưa tới. Bạn đã lấy bước nhảy từ cái cũ
và bạn còn chưa có khả năng tìm ra nơi tiếp đất - vẫn
đang treo ở giữa, trong trạng thái lơ lửng. Điều đó
không thoải mái, nhưng đợi đấy. Mọi sự sẽ tự chúng
lắng đọng.
Trong thế giới bên trong, hành động là không
được cần tới; chỉ vô hành động mới có ích. Vô hành
động chính là hành động của thế giới bên trong. Lão
Tử gọi nó là vô vi - hành động vô hành động, hành
động thụ động. Bạn không làm gì, bạn đơn giản chờ
đợi và mọi sự xảy ra chỉ bởi chờ đợi của bạn.
Điều tốt là bạn cảm thấy được tự do với ý kiến
của người khác. Là không thực còn tốt hơn là thực
một cách giả tạo. Cái phi thực tại của bạn có cái thực
tại trong nó. Khi bạn là thực trong con mắt của người
khác, bạn là thực một cách giả tạo đấy. Bạn chỉ có vẻ là thực thôi,
bạn không phải là thực. Và bây giờ bạn
đã hiểu ra, nhận biết đi - cái bẫy thì lớn và ở mọi phía
xung quanh, và mọi người đều sẵn sàng buộc bạn trở
lại trong bẫy, bởi vì không ai muốn bạn thoát ra ngoài
cái bẫy của họ. Bố muốn bạn làm mọi điều theo cách
ông ấy muốn chúng xảy ra. Mẹ muốn bạn làm mọi
điều như bà ấy muốn chúng được làm. Vợ có ý tưởng
riêng của mình, con bạn, chúng có ý tưởng riêng của
chúng. Và mọi người đều nghĩ rằng mình có manh
mối đúng, và họ tất cả đều cứ làm cho bạn thành lẩm
cẩm.
Tôi đã nghe:
Tấm màn quen thuộc được đặt cẩn thận ở vị trí
xung quanh giường của bệnh nhân, và người y tá đi
vào cầm thước dây. Bệnh nhân vẫn còn im lặng và
không phản đối khi cô y tá đo anh ta từ đầu tới chân
và từ vai nọ sang vai kia, nhưng không thể kìm mình
được lâu hơn khi cô ta đo khoảng cách từ nệm trên
giường tới chiều cao của dạ dầy thay vì chiều rộng.
'Cô làm cái quái quỉ gì thế này, cô y tá?' anh ta hỏi
một cách yếu ớt.
'Tôi đo anh để làm quan tài,' một lời đáp thật bất
ngờ.
'Nhưng tôi đã chết đâu!'
'Anh im đi! Bác sĩ là đồ ngốc sao?'
Bây giờ, bác sĩ nói, mà bác sĩ thì biết rõ hơn liệu
bạn chết hay sống. 'Anh im đi!' cô ta nói. 'Bác sĩ là đồ
ngốc sao?'
Bất kì điều gì bạn làm cũng đều sai, bởi vì bạn sẽ
đi ngược lại ý muốn của ai đó, ý tưởng của ai đó. Rất
khó làm hài lòng tất cả mọi người, và nếu bạn cứ cố
gắng làm hài lòng tất cả, bạn đơn giản sẽ làm phí hoài
cuộc đời mình. Và không ai hài lòng cả, không ai có
thể được hài lòng, không thể nào làm hài lòng cho
mọi người.
Chấm dứt đáp ứng các mong đợi của người khác
đi, bởi vì đó là cách duy nhất bạn có thể tự tử. Bạn
không ở đây để hoàn thành mong đợi của bất kì ai và
không ai khác ở đây để hoàn thành các mong đợi của
bạn. Đừng bao giờ trở thành nạn nhân của mong đợi
của người khác và đừng làm cho bất kì ai thành nạn
nhân của mong đợi của bạn.
Đây là điều tôi gọi là tính cá nhân. Kính trọng
tính cá nhân riêng của bạn và kính trọng tính cá nhân
của người khác. Đừng bao giờ can thiệp vào cuộc
sống của bất kì ai và đừng cho phép bất kì ai can thiệp
vào cuộc sống của bạn. Chỉ thế thì một ngày nào đó
bạn mới có thể trưởng thành trong tính tâm linh.
Bằng không, chín mươi chín phần trăm mọi người
đơn giản tự tử. Toàn thể cuộc sống của họ không là gì
ngoài việc tự tử chậm chạp. Việc hoàn thành mong
đợi này... ngày nào đó đấy là bố, ngày nào đó đấy là
mẹ, ngày nào đó đấy là vợ, chồng, thế rồi đến con cái
- họ cũng mong đợi. Bạn phải hoàn thành các mong
đợi của họ. Thế rồi xã hội, tu sĩ và chính khách, và tất
cả mọi người xung quanh đều mong đợi. Và bạn tội nghiệp ở đó, chỉ một
người tội nghiệp - và toàn thế
giới đang mong đợi bạn làm điều này điều nọ. Và nếu
bạn không hoàn thành những mong đợi của họ... và
bạn không thể nào hoàn thành tất cả mọi mong đợi
của họ, bởi vì chúng mâu thuẫn.
Tôi đã ở trong một gia đình và tôi hỏi một cậu bé,
'Cháu định trở thành cái gì?'
Nó nói, 'Cháu không biết. Cháu nghĩ cháu sẽ phát
điên.'
'Cháu định nói gì?'
Nó nói, 'Bố cháu muốn cháu trở thành kĩ sư, mẹ
cháu muốn cháu trở thành bác sĩ. Bác cháu nói, "Là
nhà kinh doanh đi, chỉ thế thì cháu mới có thể..."
'Một bác khác, bác ấy nói làm thầy giáo bởi vì đó
là nghề đơn giản nhất. Và cháu không biết. Nhưng
điều này thì cháu biết - rằng nếu tất cả mọi mong đợi
đều được hoàn thành thì cháu sẽ phát điên.'
Đó là cách nhiều người đã phát điên. Và khi tôi
nói nhiều người đã phát điên, đừng tạo ra ngoại lệ về
bản thân bạn. Bạn đã phát điên khi hoàn thành mong
đợi của mọi người. Và bạn chẳng hoàn thành mong
đợi của ai cả; chẳng ai hạnh phúc. Đây là cái đẹp đấy.
Bạn bị mất, hoàn toàn bị phá huỷ, và không ai hạnh
phúc cả. Bởi vì những người không hạnh phúc với
bản thân mình thì không thể hạnh phúc theo bất kì
cách nào. Bất kì cái gì bạn làm, họ sẽ tìm cách để bất
hạnh với bạn, bởi vì họ không thể hạnh phúc được.
Hạnh phúc là nghệ thuật mà người ta phải học. Điều
đó chẳng liên quan gì tới việc bạn làm hay không làm.
Câu hỏi thứ tư
Nếu tình yêu trở nên bị phá huỷ trong hôn nhân,
làm sao chúng tôi sống được nếu chúng tôi muốn
chia sẻ tình yêu và ý nghĩ trên cơ sở hàng ngày,
và cũng nêu ra chuyện con cái với cả mẹ và cha?
Tôi chưa bao giờ nói rằng tình yêu bị hôn nhân
phá huỷ. Làm sao hôn nhân có thể phá huỷ được tình
yêu? Vâng, nó bị phá huỷ trong hôn nhân, nhưng nó
bị bạn phá huỷ chứ không phải bởi hôn nhân. Nó bị
các bạn tình cùng phá huỷ. Làm sao hôn nhân có thể
phá huỷ được tình yêu? Chính bạn mới là người phá
huỷ nó, bởi vì bạn không biết tình yêu là gì. Bạn đơn
giản giả vờ biết, bạn đơn giản hi vọng rằng bạn biết,
bạn mơ rằng bạn biết, nhưng bạn không biết tình yêu
là gì. Tình yêu phải được học; nó là kho báu lớn nhất
có đó.
Nếu mọi người nhảy múa và ai đó bảo bạn, 'Lại
đây và nhảy múa đi,' bạn nói, 'Tôi không biết nhảy.'
Bạn không nhảy lên và bắt đầu nhảy múa và để mọi
người nghĩ rằng bạn là một vũ công lớn. Bạn sẽ
không tự chứng tỏ mình là anh hề đâu. Bạn sẽ không
tự chứng minh mình là một vũ công. Điều đó phải được học - duyên dáng
của nó, chuyển động của nó.
Bạn phải huấn luyện thân thể cho việc đó.
Bạn không đi và bắt đầu vẽ chỉ bởi vì bức vải vẽ
đang có sẵn cùng chổi vẽ và hộp mầu. Bạn không bắt
đầu vẽ đâu. Bạn nói, 'Tất cả mọi yêu cầu đều có ở đây
rồi, cho nên tôi có thể vẽ." Bạn có thể vẽ - nhưng bạn
sẽ không là hoạ sĩ theo cách đó đâu.
Bạn gặp một người đàn bà - bức vải vẽ có đó. Bạn
ngay lập tức trở thành người yêu - bạn bắt đầu vẽ. Và
cô ấy bắt đầu vẽ lên bạn. Tất nhiên cả hai bạn có thể
chứng tỏ sự ngu xuẩn - những kẻ ngu được tô vẽ - và
chẳng chóng thì chầy bạn hiểu điều đang xảy ra.
Nhưng bạn không bao giờ nghĩ rằng tình yêu là nghệ
thuật. Bạn được sinh ra mà không có nghệ thuật đó,
nó chẳng liên quan gì tới việc sinh của bạn cả. Bạn
phải học nghệ thuật đó. Nó là nghệ thuật tinh tế nhất.
Bạn được sinh ra với một khả năng. Tất nhiên,
bạn được sinh ra với một thân thể; bạn có thể là vũ
công bởi vì bạn có thân thể. Bạn có thể di chuyển thân
thể mình và bạn có thể là vũ công - nhưng nhảy múa
thì phải học. Phải cần tới nhiều cố gắng để học nhảy
múa. Và nhảy múa không khó lắm bởi vì một mình
bạn tham gia vào việc đó.
Tình yêu còn khó hơn nhiều. Nó là việc nhảy múa
với ai đó khác. Người khác cũng cần được biết nhảy
múa là gì. Khớp với ai đó, đấy là nghệ thuật lớn. Tạo
ra hài hoà giữa hai người... Hai người có nghĩa là hai
thế giới khác nhau. Khi hai thế giới lại gần, va chạm
nhất định có đó nếu bạn không biết cách làm hài hoà.
Tình yêu là hài hoà. Và hạnh phúc, mạnh khoẻ, hài
hoà, tất cả đều xảy ra từ tình yêu. Học yêu đi. Đừng
vội vã vì hôn nhân, học yêu đã. Trước hết trở thành
người yêu lớn lao.
Và yêu cầu là gì? Yêu cầu là ở chỗ người yêu lớn
bao giờ cũng sẵn sàng cho tình yêu và không bận tâm
liệu nó có được đền đáp lại hay không. Nó bao giờ
cũng được đáp lại, nó chính là ở bản chất của mọi sự.
Nó cũng tựa như bạn đi lên núi và bạn hát bài ca, và
thung lũng vọng lại. Bạn có thấy điểm vọng ở trên núi
trên đồi không? Bạn hét lên và thung lũng hét lên, hay
bạn ca lên và thung lũng ca lên. Từng trái tim đều là
thung lũng. Nếu bạn rót tình yêu vào trong nó, nó sẽ
đáp ứng.
Bài học đầu tiên về tình yêu là không hỏi xin tình
yêu, mà cho. Trở thành người cho. Và mọi người lại
đang làm điều đối lập lại. Ngay cả khi họ cho, họ cho
chỉ với ý tưởng rằng tình yêu phải quay lại. Đó là mặc
cả. Họ không chia sẻ, họ không chia sẻ một cách tự
do. Họ chia sẻ có điều kiện. Họ cứ liếc trộm xem liệu
nó có quay lại hay không. Những người rất tội
nghiệp... Họ không biết vận hành tự nhiên của tình
yêu. Bạn đơn giản đổ ra, nó sẽ tới.
Và nếu nó không tới, thì cũng chẳng có gì phải lo
âu cả - bởi vì người yêu biết rằng tình yêu là hạnh
phúc. Nếu nó tới, tốt; thế thì hạnh phúc được nhân
lên. Nhưng cho dù nó không bao giờ quay lại, trong
chính hành động yêu bạn đã trở nên hạnh phúc thế,
cực lạc thế, ai còn bận tâm tới việc nó tới hay không
nữa?
Tình yêu có hạnh phúc cố hữu của riêng nó. Nó
xảy ra khi bạn yêu. Không có nhu cầu chờ đợi kết
quả. Bắt đầu yêu đi. Dần dần bạn sẽ thấy thêm nhiều tình yêu nữa lại
tới với bạn. Người ta yêu và đi tới
biết tình yêu là gì bằng việc yêu. Cũng như người ta
học bơi bằng việc bơi, bằng việc yêu người ta yêu.
Và mọi người đều rất keo kiệt. Họ chờ đợi người
yêu lớn lao nào đó xuất hiện, thế rồi họ sẽ yêu. Họ
vẫn còn đóng, họ vẫn còn rút vào trong. Họ chờ đợi.
Từ đâu đó một Cleopatra sẽ tới và thế rồi họ sẽ mở
tấm lòng mình, nhưng vào lúc đó họ đã hoàn toàn
quên mất cách mở nó ra.
Đừng bỏ lỡ bất kì cơ hội nào của tình yêu. Ngay
cả đi qua trên phố bạn cũng có thể là niềm yêu mến.
Ngay cả với người ăn xin bạn cũng có thể là niềm yêu
mến. Không có nhu cầu rằng bạn phải cho người đó
cái gì đó; ít nhất bạn có thể mỉm cười. Điều đó chẳng
tốn gì - nhưng chính nụ cười của bạn lại mở ra tấm
lòng mình, làm cho trái tim bạn sống động hơn. Cầm
tay ai đó - người bạn hay người lạ. Đừng chờ đợi rằng
bạn sẽ chỉ yêu khi người đúng xuất hiện. Thế thì
người đúng đó sẽ chẳng bao giờ xuất hiện cả. Cứ yêu
đi. Bạn càng yêu nhiều càng có nhiều khả năng cho
người đúng xảy ra, bởi vì tấm lòng bạn bắt đầu nở
hoa. Và trái tim nở hoa hấp dẫn nhiều ong bướm,
nhiều người yêu.
Bạn đã được huấn luyện theo cách rất sai. Thứ
nhất, mọi người đều sống dưới ảo tưởng sai lầm rằng
mọi người đều đã là người yêu. Được sinh ra, bạn cho
rằng bạn là người yêu rồi. Điều đó không dễ dàng thế.
Vâng, có tiềm năng, nhưng tiềm năng phải được huấn
luyện, phải được rèn luyện. Hạt mầm tồn tại, nhưng
nó phải trở thành hoa.
Bạn có thể cứ mang hạt mầm của mình; chẳng
ong bướm nào sẽ tới. Bạn đã bao giờ thấy ong bay tới
hạt mầm chưa? Chúng không biết rằng hạt mầm có
thể trở thành hoa sao? Nhưng chúng tới khi hạt mầm
đã trưởng thành. Trở thành hoa đi, đừng vẫn còn là
hạt mầm.
Hai người, bất hạnh tách biệt, tạo ra nhiều bất
hạnh hơn cho nhau khi họ tới với nhau. Đó là toán
học. Bạn đã bất hạnh, vợ bạn đã bất hạnh và các bạn
cả hai lại hi vọng rằng ở cùng nhau bạn cả hai sẽ trở
nên hạnh phúc sao? Đây là... đây là số học thông
thường thế - giống như hai cộng với hai thành bốn.
Nó là sự đơn giản đó. Nó không phải là một phần của
toán học cao cấp nào; nó rất bình thường, bạn có thể
đếm nó trên đầu ngón tay của mình. Các bạn cả hai sẽ
trở nên bất hạnh.
'Anh không yêu em nữa à?' vợ Mulla Nasruddin
hỏi. 'Anh chẳng bao giờ nói điều gì tình tứ với em như
anh đã nói khi chúng ta tán tỉnh nhau.' Cô ấy chùi
nước mắt bằng góc tạp dề.
'Anh yêu em, anh yêu em,' Mulla Nasruddin nói
lại. 'Bây giờ xin em hãy câm đi và để anh uống bia
trong an bình được chứ?'
Tán tỉnh là một chuyện. Đừng phụ thuộc vào việc
tán tỉnh. Thực tế trước khi bạn lấy nhau, gạt bỏ việc
tán tỉnh ra. Gợi ý của tôi là ở chỗ hôn nhân nên xảy ra
sau tuần trăng mật, đừng bao giờ trước nó. Chỉ nếu
mọi thứ đi đúng, chỉ thế thì hôn nhân mới nên xảy ra.
Tuần trăng mật sau hôn nhân là rất nguy hiểm.
Như tôi biết, chín mươi chín phần trăm hôn nhân kết
thúc vào lúc tuần trăng mật chấm dứt. Nhưng thế thì
bạn bị tóm rồi, thế thì bạn không còn đường thoát
nữa. Thế thì toàn thể xã hội, luật pháp, toà án - mọi
người đều chống lại bạn nếu bạn bỏ vợ, hay vợ bỏ
bạn. Thế thì toàn thể nền đạo đức, tôn giáo, tu sĩ, mọi
người đều chống lại bạn. Thực tế xã hội nên tạo ra đủ
loại rào chắn có thể có đối với hôn nhân và không rào
chắn nào với li dị. Xã hội không nên cho phép mọi
người lấy nhau dễ dàng thế. Toà án nên tạo ra rào
chắn - sống với người đàn bà ít nhất là hai năm, thế
rồi toà án có thể cho phép bạn xây dựng gia đình.
Ngay bây giờ họ đang làm chính điều ngược lại. Nếu
bạn muốn xây dựng gia đình, không ai hỏi liệu bạn đã
sẵn sàng hay liệu đấy chỉ là ý thích nhất thời, chỉ bởi
vì bạn thích cái mũi của người đàn bà. Ngu xuẩn làm
sao! Người ta không thể sống chỉ bởi cái mũi dài. Sau
hai ngày cái mũi sẽ bị quên phắt. Ai nhìn vào mũi của
vợ mình?
Tôi đã nghe:
Một khu vực nào đó đầy các nữ y tá trông cứ như
họ là người lọt vào vòng chung kết thi hoa hậu thế
giới, nhưng mọi lần một trong các bệnh nhân thấy họ,
anh ta đều nhìn một cách có chủ ý và nói, 'Rác rưởi!'
Người nằm giường bên cạnh không thể hiểu được
điều đó chút nào. 'Các y tá lộng lẫy thế này để chăm
sóc anh mà ất cả mọi điều anh có thể nói chỉ là "Rác
rưởi". Sao vậy?'
'Tôi không nghĩ tới y tá đâu,' người kia nói một
cách buồn bã, 'tôi đang nghĩ về vợ tôi đấy.'
Vợ chẳng bao giờ trông đẹp, chồng chẳng bao giờ
trông đẹp cả. Một khi bạn quen rồi, cái đẹp biến mất.
Hai người nên được phép sống cùng nhau đủ lâu
để trở nên quen thuộc, quen biết lẫn nhau. Và cho dù
họ muốn lấy nhau, họ cũng không nên được phép.
Thế thì li dị sẽ biến mất khỏi thế giới này. Li dị tồn tại
bởi vì hôn nhân là sai và bị ép buộc. Li dị tồn tại bởi
vì hôn nhân được thực hiện trong tâm trạng lãng mạn.
Tâm trạng lãng mạn là tốt nếu bạn là nhà thơ - và
người ta biết nhà thơ thì không phải là chồng tốt hay
vợ tốt. Thực tế nhà thơ gần như bao giờ cũng là người
độc thân. Họ lừa xung quanh nhưng họ chưa bao giờ
bị bắt cả, và do đó cái lãng mạn của họ vẫn còn sống
động. Họ cứ viết thơ, những bài thơ hay.
Người ta không nên lấy người đàn bà hay người
đàn ông trong tâm trạng thơ ca. Để tâm trạng văn xuôi
tới, thế rồi lắng đọng. Bởi vì cuộc sống hàng ngày
giống văn xuôi hơn là thơ ca. Người ta phải trở nên đủ
trưởng thành.
Trưởng thành nghĩa là người ta không còn là kẻ
ngốc lãng mạn nữa. Người ta hiểu cuộc sống, người ta
hiểu trách nhiệm về cuộc sống, người ta hiểu những
vấn đề của việc sống cùng với một người. Người ta
chấp nhận tất cả những khó khăn đó vậy mà vẫn quyết định sống cùng
người đó. Người ta không hi vọng
rằng sẽ chỉ có thiên đường, toàn hoa hồng. Người ta
không hi vọng điều vô nghĩa; người ta biết thực tại là
khắc nghiệt. Nó khắc nghiệt đấy. Có hoa hồng, nhưng
lại xa xăm và chỉ có vài bông ở giữa; có nhiều gai.
Khi bạn đã trở nên tỉnh táo với tất cả những vấn
đề này và bạn vẫn quyết định rằng đáng mạo hiểm và
sống cùng với một người còn hơn là ở một mình, thế
thì lấy nhau. Thế thì hôn nhân sẽ không bao giờ giết
chết tình yêu, bởi vì tình yêu này mang tính thực tế.
Hôn nhân chỉ có thể giết chết tình yêu lãng mạn. Và
tình yêu lãng mạn là điều mọi người gọi là 'tình yêu
trẻ con'. Người ta không nên phụ thuộc vào nó. Người
ta không nên nghĩ về nó như thứ nuôi dưỡng. Nó có
thể giống như kem. Thỉnh thoảng bạn có thể ăn nó,
nhưng đừng phụ thuộc vào nó. Cuộc sống phải thực tế
hơn, văn xuôi hơn.
Và hôn nhân bản thân nó không bao giờ phá huỷ
cái gì cả. Hôn nhân đơn giản lôi ra bất kì cái gì bị giấu
kín trong bạn - nó đem cái đó ra. Nếu tình yêu bị giấu
kín đằng sau bạn, bên trong bạn, hôn nhân đem nó ra.
Nếu tình yêu chỉ là giả vờ, chỉ là cái mồi, thế thì
chẳng chóng thì chầy nó phải biến mất. Và thế thì
thực tại của bạn, cá tính xấu xí của bạn ló ra. Hôn
nhân đơn giản là cơ hội, cho nên bất kì cái gì bạn phải
đem ra thì sẽ ló ra.
Tôi không nói rằng tình yêu bị hôn nhân phá huỷ.
Tình yêu bị phá huỷ bởi vì ngay chỗ đầu tiên tình yêu
đã không có rồi. Bạn đã sống trong mơ, thực tại phá
huỷ giấc mơ đó. Bằng không thì tình yêu là cái gì đó
vĩnh hằng, một phần của cái vĩnh hằng. Nếu bạn lớn
lên, nếu bạn biết nghệ thuật này, và bạn chấp nhận
thực tại của cuộc sống-tình yêu, thế thì nó cứ lớn lên
mọi ngày. Hôn nhân trở thành cơ hội vô cùng để lớn
lên trong tình yêu.
Không cái gì có thể phá huỷ được tình yêu. Nếu
nó có đó, nó sẽ lớn lên. Nhưng cảm giác của tôi là, nó
không có đó ngay chỗ đầu tiên. Bạn đã hiểu lầm bản
thân mình; cái gì khác có đó. Có thể dục có đó, hấp
dẫn dục có đó. Thế thì nó sẽ bị phá huỷ, bởi vì một
khi bạn đã yêu người đàn bà, thế thì hấp dẫn dục biến
mất - bởi vì hấp dẫn dục chỉ có với cái không biết.
Một khi bạn đã nếm trải thân thể người đàn bà, thế thì
hấp dẫn dục biến mất. Nếu tình yêu của bạn chỉ là hấp
dẫn dục thế thì nó nhất định biến mất.
Cho nên đừng bao giờ hiểu lầm tình yêu vì cái gì
đó khác. Nếu yêu thực sự là yêu... Tôi ngụ ý gì khi tôi
nói 'thực sự yêu'? Tôi ngụ ý rằng chính hiện hữu trong
sự hiện diện của người khác, bạn bỗng nhiên cảm thấy
hạnh phúc, chỉ ở cùng nhau bạn cảm thấy cực lạc,
chính sự hiện hữu của người khác hoàn thành cái gì
đó sâu trong lòng bạn... cái gì đó bắt đầu hát lên trong
lòng bạn, bạn rơi vào sự hài hoà. Chính sự hiện diện
của người khác giúp cho bạn ở cùng nhau; bạn trở
thành cá nhân hơn, định tâm hơn, bắt đất hơn. Thế thì
đó là tình yêu.
Tình yêu không phải là đam mê, tình yêu không
phải là xúc động. Tình yêu là hiểu biết rất sâu sắc
rằng ai đó bằng cách nào đó làm đầy đủ bạn. Ai đó
làm cho bạn thành vòng tròn đầy đặn. Sự hiện diện
của người khác tôn cao sự hiện diện của bạn. Tình yêu cho tự do được
là chính bản thân bạn; nó không
phải là tính sở hữu.
Cho nên, quan sát đi. Đừng bao giờ coi dục là tình
yêu, bằng không bạn sẽ bị lừa. Tỉnh táo, và khi bạn
bắt đầu cảm thấy với ai đó rằng chỉ sự hiện diện thôi,
sự hiện diện thuần khiết - không cái gì khác, không
cái gì khác được cần tới; bạn không hỏi xin cái gì cả -
chỉ sự hiện diện, chỉ mỗi điều người khác có đó, là đủ
để làm cho bạn hạnh phúc... cái gì đó bắt đầu nở hoa
bên trong bạn, và bông sen nở ra... thế thì bạn đang
trong tình yêu đấy, và thế thì bạn có thể trải qua mọi
khó khăn mà thực tế tạo ra. Nhiều phiền não, nhiều lo
âu - bạn sẽ có khả năng trải qua tất cả chúng, và tình
yêu của bạn sẽ nở hoa ngày một nhiều hơn, bởi vì tất
cả những tình huống đó sẽ trở thành thách thức. Và
tình yêu của bạn, bằng việc vượt qua chúng, sẽ trở
thành ngày một mạnh mẽ hơn.
Tình yêu là vĩnh hằng. Nếu nó có đó, thế thì nó cứ
lớn lên mãi. Tình yêu biết cái bắt đầu nhưng không
biết cái kết thúc.

Chủ Nhật, 22 tháng 7, 2012

Con đường tuyệt diệu nhất


Phật nói:
Tự do khỏi đam mê và được bình thản, đây là con
đường tuyệt diệu nhất.
Những người đã bỏ lại cha mẹ mình, đi ra khỏi
nhà, hiểu tâm trí, đạt tới cội nguồn, và hiểu thấu
cái phi vật chất, được gọi là shramana-Sa môn.
Những người tuân thủ giới luật về đạo đức, người
thuần khiết và không tì vết trong hành vi của họ,
những người cố gắng đạt tới kết quả của quả vị
thánh được gọi là a la hán.
Tiếp đó là bất hoàn (anagamin - a na hàm). Tại
cuối cuộc đời mình, linh hồn của bất hoàn thăng
lên trời và đạt tới quả vị a la hán.
Tiếp đó là nhất hoàn (skridagamin - tu đà hàm).
Nhất hoàn thăng lên trời (sau cái chết của người
đó), quay trở lại thế gian một lần nữa, và đạt tới
quả vị a la hán.
Tiếp đó là dự lưu (srotapanna - tu đà hoàn). Dự
lưu chết đi bẩy lần và được sinh ra bẩy lần, rồi
người đó cuối cùng đạt tới quả vị a la hán.
Bởi việc gián đoạn của đam mê được ngụ ý là
giống như các chi bị cắt rời chúng không bao giờ
có thể được dùng lại nữa.
Phật Gautam giống như đỉnh cao nhất của
Himalayas, giống như đỉnh Gourishankar... một trong
những con người thuần khiết nhất, một trong những
linh hồn trong trắng nhất, một trong những hiện tượng
rất hiếm hoi trên thế gian này. Sự hiếm hoi là ở chỗ
Phật là nhà khoa học của thế giới bên trong - nhà khoa
học của tôn giáo. Đó là việc tổ hợp hiếm hoi. Mang
tính tôn giáo là đơn giản, là nhà khoa học là đơn giản
- nhưng tổ hợp, tổng hợp hai cực này là điều không
thể nào tin được. Điều đó là không thể nào tin được,
nhưng nó đã xảy ra.
Phật là người giầu có nhất đã từng sống; giầu có
nhất theo nghĩa tất cả các chiều hướng của cuộc sống
đều được hoàn thành trong ông ấy. Ông ấy không
phải là người một chiều.
Có ba cách tiếp cận tới chân lí. Một là cách tiếp
cận của sức mạnh, cách tiếp cận khác là của cái đẹp,
và cách tiếp cận thứ ba là của sự vĩ đại.
Cách tiếp cận khoa học là việc tìm kiếm sức
mạnh; đó là lí do tại sao Huân tước Bacon đã nói 'tri
thức là sức mạnh'. Khoa học đã làm cho con người
thành rất mạnh, mạnh tới mức con người có thể phá
huỷ toàn thể hành tinh trái đất này. Lần đầu tiên trong
lịch sử tâm thức con người có khả năng tự tử toàn
cầu, tự tử tập thể. Khoa học đã thả ra sức mạnh khủng
khiếp. Khoa học vẫn tiếp tục tìm kiếm ngày một nhiều
sức mạnh. Điều này nữa cũng là cách tiếp cận hướng
tới chân lí, nhưng là cách tiếp cận bộ phận.
Thế rồi có những nhà thơ, nhà huyền môn, những
người có ý thức thẩm mĩ. Họ nhìn vào chân lí như cái
đẹp - Jalaluddin Rumi và Rabindranath Tagore và
những người khác, người cho rằng cái đẹp là chân lí.
Họ tạo ra nhiều nghệ thuật, họ tạo ra những ngọn
nguồn mới về cái đẹp trên thế giới. Hoạ sĩ, nhà thơ,
vũ công, nhạc sĩ, họ cũng tiếp cận tới chân lí từ một
chiều hướng hoàn toàn khác với sức mạnh.
Nhà thơ không giống như nhà khoa học. Nhà
khoa học làm việc với phân tích, lập luận, quan sát.
Nhà thơ vận hành qua trái tim - phi lí, tình yêu. Người
đó chẳng liên quan gì tới tâm trí và lập luận cả.
Phần lớn hơn của những người tôn giáo thuộc vào
chiều hướng thứ hai. Người Sufi, người Baul - họ tất
cả đều thuộc vào cách tiếp cận thẩm mĩ. Do đó mới có
nhiều nhà thờ Hồi giáo, nhiều nhà thờ, đền chùa đẹp
thế - Ajanta và Ellora - chúng đã được tạo ra bởi
những người tôn giáo. Bất kì khi nào hoạt động tôn
giáo chiếm ưu thế, nghệ thuật được tạo ra, âm nhạc
được tạo ra, những bức hoạ vĩ đại được tạo ra; thế
giới trở thành đẹp hơn lên chút ít. Nó không trở nên
mạnh hơn, nhưng nó trở nên đẹp hơn, đáng yêu hơn,
đáng sống hơn.
Cách tiếp cận thứ ba là cách tiếp cận của sự vĩ
đại. Các nhà sáng lập Kinh Thánh - Moses, Abraham;
nhà sáng lập Hồi giáo Mohammed; Krishna và Ram -
cách tiếp cận của họ là thông qua chiều hướng của sự
vĩ đại... niềm kính nể mà người ta cảm thấy khi nhìn
vào cái bao la của vũ trụ. Upanishad, Veda, chúng tất
cả đều tiếp cận tới thế giới, thế giới của chân lí, thông
qua sự vĩ đại. Chúng tràn đầy điều ngạc nhiên. Không
thể nào tin nổi ở đó, với sự vĩ đại như vậy, mà bạn
đơn giản có thể cúi mình trước nó - không cái gì khác
là có thể. Người ta đơn giản cảm thấy khiêm tốn, bị
qui về cái không.
Đây là ba chiều thông thường sẵn có để tiếp cận
tới chân lí. Chiều thứ nhất tạo ra nhà khoa học; chiều
thứ hai, nghệ sĩ; chiều thứ ba, các nhà tiên tri. Sự
hiếm hoi của Phật nằm ở chỗ này - rằng cách tiếp cận
của ông ấy là việc tổng hợp của tất cả ba, và không
chỉ là sự tổng hợp mà nó còn vượt ra ngoài cả ba.
Ông ấy là người duy lí. Ông ấy không giống như
Jesus và ông ấy không giống như Krishna - ông ấy là
người duy lí tuyệt đối. Einstein, Newton hay Edison
không thể tìm ra bất kì khuyết điểm nào trong lập luận
của ông ấy. Bất kì nhà khoa học nào cũng sẽ bị thuyết
phục về chân lí của ông ấy. Cách tiếp cận của ông ấy
thuần tuý logic, ông ấy thuyết phục tâm trí. Bạn
không thể tìm ra chỗ sơ hở trong ông ấy.
Ai đó đã gửi cho tôi một giai thoại hay về nhà vô
thần nổi tiếng, W. C. Fields. Ông ấy đi tua qua nước
Mĩ. Một hôm người quản lí của ông ấy vào phòng
khách sạn của ông ấy và bị sốc khi thấy ông ấy đọc
cuốn Kinh Thánh của Gideon.
'Bill!' ông ấy nói, 'ông đang làm cái chết tiệt gì
vậy? Tôi cứ tưởng ông là người vô thần.'
Fields đáp, 'Chỉ để tìm sơ hở thôi, chỉ để tìm sơ
hở mà.'
Nhưng bạn không thể tìm được chỗ sơ hở nào
trong Phật. Vâng, bạn có thể tìm chỗ sơ hở trong
Jesus, có nhiều đấy - bởi vì Jesus tin tưởng, tin cậy,
ông ấy có niềm tin. Ông ấy đơn giản giống như đứa
trẻ. Không có biện luận trong ông ấy. Chứng minh
mang tính tồn tại nhưng không có biện luận cho nó.
Toàn thể sự hiện hữu của ông ấy là chứng minh của
ông ấy.
Nhưng điều đó không phải như vậy đối với Phật.
Bạn có thể không trong hài hoà với trái tim ông ấy
chút nào, bạn có thể không tin vào ông ấy chút nào,
bạn có thể không nhìn vào bằng chứng ông ấy đang
hiện hữu, nhưng bạn sẽ phải nghe lí luận của ông ấy.
Ông ấy có cả bằng chứng và lí luận. Bản thân ông ấy
là bằng chứng cho điều ông ấy đang nói, nhưng điều
đó không phải là tất cả. Nếu bạn không sẵn sàng nhìn
vào ông ấy thì ông ấy có thể ép buộc bạn, ông ấy có
thể thuyết phục bạn; ông ấy là người duy lí.
Ngay cả người như Bertrand Russell, một người
vô thần, logic thuần túy, cũng đã nói, 'Trước Phật tôi
cảm thấy do dự. Với Jesus tôi có thể đấu lại được.'
Ông ấy đã viết một cuốn sách Sao tôi không là người
Ki tô giáo - một cuốn sách đầy tranh cãi. Nó vẫn chưa
được người Ki tô giáo đáp lại; luận cứ của ông ấy vẫn
đứng vững. Nhưng trước Phật ông ấy đột nhiên cảm
thấy do dự - bởi vì Phật có thể thuyết phục được ông
ấy trên nền tảng của riêng ông ấy. Phật cũng là nhà
phân tích như Bertrand Russell.
Bạn không cần là người tôn giáo để được Phật
thuyết phục, đó là sự hiếm hoi của ông ấy. Bạn không
cần tin chút nào. Bạn không cần tin vào thượng đế,
bạn không cần tin vào linh hồn, bạn không cần tin vào
cái gì cả - dầu vậy bạn vẫn có thể sống cùng Phật, và
dần dần bạn sẽ đi tới biết về linh hồn và về thượng đế
nữa. Nhưng đó không phải là các giả thuyết.
Không cần niềm tin để du hành cùng Phật. Bạn có
thể tới với tất cả mọi hoài nghi có thể. Ông ấy chấp
nhận, ông ấy đón chào, và ông ấy nói, 'Cứ tới với ta
đi.' Trước hết ông ấy thuyết phục tâm trí bạn, và một
khi tâm trí bạn bị thuyết phục và bạn bắt đầu đi cùng
ông ấy, dần dần bạn bắt đầu cảm thấy rằng ông ấy có
một thông điệp ở bên ngoài tâm trí, ông ấy có một
thông điệp mà không lí do nào có thể hạn chế được.
Nhưng trước hết ông ấy thuyết phục lí trí của bạn.
Tôn giáo của Phật là siêu lí trí, nhưng không
ngược lại lí trí. Điều này phải được hiểu từ ngay chính
ban đầu. Nó có cái gì đó liên quan tới cõi bên kia, siêu
lí trí, nhưng cái siêu lí trí đó không ngược lại lí trí. Nó
là hài hoà với lí trí. Lí trí và siêu lí trí là sự liên tục,
liên tục. Đây là sự hiếm hoi của Phật.
Krishna nói với Arjuna, 'Hãy buông xuôi theo ta.'
Phật không bao giờ nói điều đó. Ông ấy thuyết phục bạn buông xuôi.
Krishna nói, 'Hãy buông xuôi theo ta,
thế thì ông sẽ được thuyết phục. Ông không cần lo
nghĩ về nó, đừng nói về nó chút nào.'
Bởi vì cách tiếp cận lí trí này mà ông ấy không
bao giờ đem ra bất kì khái niệm nào mà không thể
được chứng minh. Ông ấy chưa bao giờ nói về thượng
đế. H. G. Wells đã nói về Phật, 'Ông ấy là người có
tính thượng đế nhất và là người có tính phi thượng đế
nhất trong toàn thể lịch sử con người.' Vâng, sự việc
là vậy đấy - thượng đế nhất và phi thượng đế nhất.
Bạn không thể tìm ra người nào có tính thượng đế
hơn Phật. Mọi cá tính khác đơn giản mờ đi trước ông
ấy. Sáng tỏ của ông ấy là tuyệt vời, con người ông ấy
là vô song, nhưng ông ấy không nói về thượng đế.
Bởi vì ông ấy không bao giờ nói về thượng đế,
nhiều người cứ tưởng rằng ông ấy là người vô thần -
ông ấy không phải vậy. Ông ấy không nói về thượng
đế bởi vì không có cách nào để nói về thượng đế. Mọi
việc nói về thượng đế đều vô nghĩa. Bất kì điều gì bạn
có thể nói về thượng đế cũng đều sẽ giả. Nó là cái gì
đó không thể được nói ra.
Các nhà tiên tri khác nói rằng không cái gì có thể
được nói về thượng đế, nhưng ít nhất họ nói nhiều về
điều này - rằng không cái gì có thể được nói về
thượng đế. Phật mới thực sự là logic, ông ấy thậm chí
sẽ không nói tới điều này, bởi vì ông ấy nói, 'Ngay cả
việc nói rằng không cái gì có thể được nói về thượng
đế, thì ông đã nói cái gì đó rồi. Nếu ông nói, "Thượng
đế không thể được định nghĩa," thì ông đã định nghĩa
ông ấy theo cách phủ định rồi - rằng ông ấy không thể
được định nghĩa. Nếu ông nói, "Không cái gì có thể
được nói," điều đó nữa ông lại đang nói đấy.' Phật là
cực kì logic. Ông ấy sẽ không thốt ra một lời nào đâu.
Ludwig Wittgenstein, một trong những nhà tư
tưởng vĩ đại nhất của thời đại này, đã nói, 'Cái mà
không thể được nói ra thì phải không được nói ra. Cái
mà không thể được nói ra người ta phải im lặng từ
đó.' Bởi vì thốt ra cái gì đó về cái gì đó mà không thể
thốt ra được là báng bổ.
Phật không phải là người vô thần nhưng ông ấy
không bao giờ nói về thượng đế cả. Đó là lí do tại sao
tôi nói ông ấy là hiếm hoi. Ông ấy đưa nhiều người
tới thượng đế - ông ấy đã đưa nhiều người hơn bất kì
ai khác đã làm. Hàng triệu người đã được đưa tới trở
nên mang tính thượng đế trong sự hiện diện của ông
ấy, nhưng ông ấy chưa bao giờ thốt ra lời nào. Không
chỉ về thượng đế, mà còn về linh hồn, cái ta - ông ấy
không có lí thuyết về nó. Ông ấy đơn giản nói, 'Ta có
thể chỉ ra cho ông con đường, cách đi vào trong. Ông
đi và nhìn xem.' Ông ấy nói, 'Chư Phật chỉ có thể chỉ
ra con đường, họ không thể cung cấp cho ông triết lí
được. Ông ở đó, đi vào trong và nhìn đi.'
Một người tới Phật. Người đó là một học giả lớn,
một loại giáo sư, đã viết nhiều sách, nổi tiếng khắp
toàn quốc. Tên ông ấy là Maulingaputta. Ông ấy nói
với Phật, 'Tôi đã tới với hàng chục câu hỏi và thầy
phải trả lời chúng.'
Phật nói, 'Ta sẽ trả lời, nhưng ông sẽ phải hoàn
thành một yêu cầu. Trong một năm ông sẽ phải ở
cùng ta trong im lặng toàn bộ, thế rồi ta sẽ trả lời -
không trước điều đó đâu. Ngay bây giờ ta có thể trả
lời nhưng ông sẽ không nhận được câu trả lời bởi vì ông còn chưa sẵn
sàng, và bất kì điều gì ta nói ông sẽ
diễn giải sai bởi vì ông có quá nhiều diễn giải chen
chúc trong đầu ông. Bất kì điều gì ta nói cũng sẽ
truyền qua tâm trí ông. Trong một năm ông chỉ im
lặng thôi để cho ông có thể vứt bỏ tri thức đi. Khi ông
trống rỗng, bất kì điều gì ông muốn hỏi ta sẽ trả lời, ta
hứa đấy.'
Khi ông ấy đang nói điều này, một đệ tử khác của
Phật, Sariputta, ngồi dưới một gốc cây, bắt đầu cười -
cười ha hả. Maulingaputta phải đã cảm thấy lúng
túng. Ông ấy nói, 'Có chuyện gì vậy? Sao ông cười?'
Ông ấy nói, 'Tôi không cười ông đâu, tôi cười tôi
đấy. Một năm đã trôi qua. Người này cũng đã lừa tôi.
Tôi đã tới với nhiều câu hỏi và ông ấy nói, "Đợi một
năm đã," và tôi đã đợi. Bây giờ tôi cười bởi vì những
câu hỏi đó đã biến mất rồi. Ông ấy cứ đòi, "Bây giờ
đưa các câu hỏi đó ra đi!" nhưng tôi không thể đưa
những câu hỏi đó ra được. Chúng đã biến mất rồi.
Cho nên, Maulingaputta, nếu ông thực sự muốn câu
hỏi của mình được trả lời, hỏi ngay bây giờ đi, đừng
đợi một năm nữa. Người này đang lừa đấy.'
Phật đã đưa nhiều người, hàng triệu người, tới thế
giới bên trong, nhưng theo cách rất lí trí. Điều này là
đơn giản - rằng trước hết bạn phải trở thành người
nhận, trước hết bạn phải đạt tới im lặng, thế thì giao
cảm mới có thể, không trước điều đó.
Phật chưa bao giờ trả lời bất kì câu hỏi siêu hình
nào. Ông ấy bao giờ cũng sẵn sàng trả lời bất kì câu
hỏi nào về phương pháp, nhưng ông ấy không bao giờ
sẵn sàng trả lời bất kì câu hỏi nào về siêu hình. Đây là
cách tiếp cận khoa học của ông ấy. Khoa học tin vào
phương pháp. Khoa học không bao giờ trả lời 'tại sao',
nó bao giờ cũng trả lời 'làm sao'.
Nếu bạn là nhà khoa học, 'Tại sao thế giới lại có
đó?' ông ấy sẽ nói, 'Tôi không biết - nhưng tôi có thể
trả lời làm sao thế giới lại có đó.' Nếu bạn hỏi ông ấy,
'Tại sao lại có nước?' ông ấy không thể trả lời được,
ông ấy sẽ chỉ nhún vai. Nhưng ông ấy có thể nói làm
sao mà nước có đó; bao nhiêu ô xi, bao nhiêu hidro
làm cho nước xảy ra. Ông ấy có thể cho bạn phương
pháp, cái 'làm sao', cơ chế. Ông ấy có thể chỉ cho bạn
cách làm ra nước, nhưng ông ấy không thể chỉ cho
bạn tại sao.
Phật không bao giờ hỏi bất kì câu hỏi 'tại sao' nào,
nhưng điều đó không có nghĩa là ông ấy là người vô
thần. Cách tiếp cận của ông ấy rất khác với những
người vô thần khác. Người hữu thần yêu cầu bạn tin,
phải có niềm tin, phải tin cậy. Phật nói, 'Làm sao
người ta có thể tin được? Ông đang đòi hỏi điều
không thể được.' Nghe lí lẽ của ông ấy.
Ông ấy nói nếu ai đó hoài nghi, làm sao người đó
có thể tin được? Nếu hoài nghi đã phát sinh, làm sao
người đó có thể tin được? Người đó có thể kìm nén
hoài nghi, người đó có thể ép buộc tin tưởng, nhưng
sâu bên dưới giống như con sâu, hoài nghi sẽ cứ ẩn
nấp và gậm nhấm trái tim bạn. Chẳng chóng thì chầy
niềm tin nhất định sụp đổ, bởi vì nó vô căn cứ; không
có nền móng cho nó. Trong nền tảng có hoài nghi, và
trên nền tảng của hoài nghi bạn đã dựng nên toàn thể
cấu trúc cho niềm tin của mình. Bạn có quan sát điều đó không? Bất kì
khi nào bạn tin, sâu bên dưới đều có
hoài nghi. Đây là kiểu tin tưởng gì vậy?
Phật nói nếu không có hoài nghi thế thì không có
vấn đề tin tưởng. Thế thì người ta đơn giản tin. Không
có nhu cầu cho bất kì Krishna nào nói, 'Hãy buông
xuôi, hãy tin tưởng' - không có vấn đề. Nếu Arjuna có
niềm tin, thì anh ta có; nếu anh ta không có, thì không
có cách nào đem lại nó. Thế thì nhiều nhất Arjuna có
thể chơi trò trình diễn, giả vờ rằng mình tin. Nhưng
tin tưởng không thể bị ép buộc.
Với những người có niềm tin tự nhiên, tự phát,
không có vấn đề về niềm tin - họ đơn giản tin. Họ
không biết ngay cả tin tưởng là gì. Trẻ nhỏ, chúng
đơn giản tin. Nhưng một khi hoài nghi đi vào, tin
tưởng trở thành không thể được. Và hoài nghi phải đi
vào; nó là một phần của trưởng thành. Hoài nghi làm
cho người ta trưởng thành.
Bạn vẫn còn trẻ con chừng nào hoài nghi còn
chưa thấm vào linh hồn bạn. Chừng nào ngọn lửa của
hoài nghi còn chưa bắt đầu đốt cháy bạn, bạn vẫn còn
chưa chín chắn, bạn không biết cuộc sống là gì. Bạn
bắt đầu biết cuộc sống chỉ bằng cách hoài nghi, bằng
việc ngần ngại, bằng việc nêu ra câu hỏi.
Phật nói niềm tin tới, nhưng không chống lại hoài
nghi, không như tin tưởng. Niềm tin tới qua việc phá
huỷ hoài nghi bằng lí trí, qua việc phá huỷ hoài nghi
bằng nhiều hoài nghi hơn, bằng việc khử bỏ bản thân
hoài nghi. Chất độc chỉ có thể bị phá huỷ bởi chất độc
- đó là phương pháp của Phật. Ông ấy không nói tin
tưởng. Ông ấy nói đi sâu vào trong hoài nghi của bạn,
đi tới tận cùng, không sợ hãi: Đừng kìm nén. Đi toàn
thể con đường của hoài nghi tới tận cùng.
Và chính cuộc hành trình đó sẽ đem bạn đi ra
ngoài nó. Bởi vì một khoảnh khắc tới khi hoài nghi
bắt đầu hoài nghi bản thân nó. Đó là hoài nghi tối
thượng - khi hoài nghi hoài nghi bản thân hoài nghi.
Điều đó phải tới nếu bạn đi tới tận cùng. Trước hết
bạn hoài nghi việc tin tưởng, bạn hoài nghi cái này cái
nọ. Một ngày nào đó khi mọi thứ đã bị hoài nghi,
bỗng nhiên một cái mới, hoài nghi tối thượng nảy sinh
- bạn bắt đầu hoài nghi sự hoài nghi.
Điều này là cực kì mới trong thế giới tôn giáo. Và
thế thì hoài nghi giết chết hoài nghi, hoài nghi phá
huỷ hoài nghi, và niềm tin được thu lại. Niềm tin này
không chống lại hoài nghi, niềm tin này ở bên ngoài
hoài nghi. Niềm tin này không đối lập với hoài nghi,
niềm tin này là thiếu vắng hoài nghi.
Phật nói bạn sẽ phải trở thành trẻ con lần nữa,
nhưng con đường phải đi qua thế giới này, đi qua
nhiều rừng rậm của hoài nghi, biện luận, lí luận. Và
khi một người trở về nhà, lại đạt tới niềm tin nguyên
thuỷ của mình, điều đó là hoàn toàn khác. Người đó
không chỉ là đứa trẻ, người đó là người già... trưởng
thành, có kinh nghiệm, vậy mà vẫn giống như đứa trẻ.
Kinh này, Kinh Bốn mươi hai chương, chưa bao
giờ tồn tại ở Ấn Độ. Nó chưa bao giờ tồn tại trong
tiếng Phạn hay tiếng Pali. Lời kinh này chỉ tồn tại ở
Trung Quốc.
Một vị vua Minh nào đó của triều đại nhà Hán,
vào năm 67 trước công nguyên, đã mời các bậc thầy
Phật giáo tới Trung Quốc để đem thông điệp của Phật
tới đó. Không ai biết tên của các bậc thầy Phật giáo
đó, nhưng một nhóm đã tới Trung Quốc. Và hoàng đế
muốn có một hợp tuyển nhỏ những lời Phật xem như
phần giới thiệu đầu tiên cho người Trung Quốc.
Kinh Phật thì rất lớn, sách vở Phật giáo bản thân
nó đã là một thế giới rồi - hàng nghìn kinh sách tồn tại
và chúng đi vào rất chi tiết, bởi vì Phật tin vào phân
tích logic. Ông ấy cứ đi tới chính tận cùng của mọi
điều. Phân tích của ông ấy thật là sâu sắc và hoàn hảo,
cho nên ông ấy đi vào chính những chi tiết sâu.
Điều đó là rất khó. Phải dịch cái gì cho một đất
nước hoàn toàn mới, nơi chẳng có gì giống như Phật
đã từng tồn tại? Cho nên các bậc thầy Phật giáo này
đã soạn ra một hợp tuyển nhỏ gồm bốn mươi hai
chương. Họ đã thu thập những lời nói từ đây đó, từ
kinh sách này nọ, từ buổi thuyết giảng này kia.
Cuốn sách này đã được soạn ra theo kiểu cách văn
tuyển nho giáo bởi vì nó sẽ được giới thiệu cho đất
nước của Khổng Tử - những người đã trở nên rất quen
thuộc với cách Khổng Tử nói, với cách kinh sách nho
giáo đã được làm ra và biên soạn ra. Mọi người đều
quen thuộc với Khổng Tử, cho nên đích xác trên cùng
những dòng đó các bậc thầy Phật giáo đã soạn ra kinh
này. Văn tuyển nho giáo bắt đầu mọi câu, mọi đoạn
bằng cụm từ 'Thầy nói...' Lời kinh này bắt đầu theo
cách tương tự - 'Phật nói...' Mọi lời nói đều bắt đầu
bằng 'Phật nói...'
Từ đầu thế kỉ này các học giả đã quen nghĩ rằng
bản gốc phải đã tồn tại trong tiếng Phạn hay Pali, thế
rồi nó thất truyền, bị thất lạc, và lời kinh này trong
tiếng Trung Quốc là bản dịch. Điều đó tuyệt đối sai.
Lời kinh này chưa bao giờ tồn tại ở Ấn Độ cả. Như nó
thế, thì nó chưa bao giờ tồn tại cả. Tất nhiên, từng lời
đều bắt nguồn từ Phật, nhưng toàn thể công trình là
công trình mới, văn tuyển mới. Cho nên bạn phải ghi
nhớ điều đó.
Và đó là lí do tại sao tôi đã chọn nó như phần giới
thiệu đầu tiên cho bạn vào thế giới của Phật. Nó rất
đơn giản. Nó chứa tất cả theo một cách rất đơn giản.
Nó rất trực tiếp. Nó về bản chất là toàn thể thông điệp
này, nhưng rất ngắn, không dài dòng và lê thê như các
kinh Phật khác dài thế.
Phật nói:
Tự do khỏi đam mê và được bình thản, đây là con
đường tuyệt diệu nhất.
Ông ấy bao giờ cũng nói về con đường, không
bao giờ nói về mục đích. Bởi vì ông ấy nói, 'Nói gì về
mục đích đây? Thật vô tích sự mà nói về nó. Nếu ông
biết, thì ông biết. Nếu ông không biết, chẳng có cách
nào để biết về nó trước khi ông đạt tới nó.'
Ông ấy chỉ nói về con đường. Ông ấy thậm chí
không nói một lời về mục đích - thượng đế, Brahma,
chân lí, cái tuyệt đối, vương quốc của thượng đế.
Không, ông ấy chẳng có lời nào về mục đích cả. Mọi
điều ông ấy nói đều là về con đường.
Tự do khỏi đam mê và được bình thản, đây là con
đường tuyệt diệu nhất.
Trong một câu đơn giản này toàn thể giáo huấn
của ông ấy đều hiện diện. Tự do khỏi đam mê và được
bình thản... Đây là hai khía cạnh của một hiện tượng,
hai mặt của một đồng tiền - tự do khỏi đam mê và
được bình thản. Bạn không thể bình thản nếu bạn
không tự do khỏi đam mê, và bạn không thể tự do với
đam mê nếu bạn không bình thản. Chúng cả hai đi
cùng nhau và người ta phải làm việc vì cả hai cùng
nhau.
Sao con người căng thẳng thế? Sao lại có nhiều lo
âu và khổ sở thế? Sao con người không bình thản,
bình tĩnh và định tâm? Biết bao nhiêu đam mê cứ kéo
bạn hết đường nọ tới đường kia, đẩy bạn theo lối này
lối nọ. Bạn bị kéo theo nhiều hướng, do đó bạn trở
thành phân mảnh, bạn trở nên bị phân chia, bạn trở
thành bị chia chẻ. Bạn làm mất trung tâm của mình.
Bạn quên mất hoàn toàn mình là ai.
Quan sát đi. Khi bạn tham tiền, bạn là ai? Bạn chỉ
là sự tham tiền chứ không là gì khác. Khi bạn giận dữ,
bản ngã bạn bị tổn thương, bạn là ai? Bạn chỉ là sự
giận dữ, bản ngã bị tổn thương, không gì khác. Khi
bạn đầy những đam mê dục, bạn là ai? Bạn chỉ là dâm
dục, không gì khác - dục tình. Khi bạn tham vọng và
bạn muốn quyền lực, danh vọng, kính trọng, bạn là
ai? Bạn đơn giản là tham vọng và không gì khác.
Quan sát, và bạn sẽ thấy nhiều đam mê trong
mình, nhưng bạn sẽ không thấy mình là ai cả - tất cả
các đam mê đều kéo bạn ra xa, và từng đam mê đi
theo cách riêng của nó. Nếu bạn muốn tiền, bạn sẽ
phải hi sinh các đam mê khác vì nó. Người điên vì
tiền có thể quên mất tất cả về dục. Rất dễ dàng để kẻ
keo kiệt là người độc thân. Thực tế, độc thân có thể là
một loại tính keo kiệt. Bạn không muốn chia sẻ năng
lượng dục của mình, bạn không muốn chia sẻ năng
lượng dục của mình với bất kì ai. Bạn là kẻ keo kiệt.
Người có tham vọng chính trị có thể trở thành độc
thân rất dễ dàng bởi vì toàn thể đam mê của người đó
lái người đó đi theo một đường. Nhà khoa học quá mê
mải với việc nghiên cứu có thể quên mất tất cả về đàn
bà. Điều đó là dễ dàng. Nếu một đam mê chiếm lĩnh
bạn hoàn toàn thì bạn có thể quên mọi thứ khác.
Một sự kiện ai cũng biết là các nhà khoa học là
người rất đãng trí. Toàn thể tâm trí của họ đi vào theo
một hướng, nhưng thế rồi họ trở thành rất, rất nghèo
nàn nữa. Lĩnh vực của họ, tầm nhìn của họ cứ trở nên
ngày một hẹp dần lại, hẹp nữa. Đó là điều đặc biệt
hoá nghĩa là gì. Người tham lam trở nên hẹp hơn và
hẹp hơn và hẹp hơn nữa. Người đó nghĩ, suy ngẫm,
chỉ về tiền; người đó cứ đếm tiền. Toàn thể tâm trí của
người đó chỉ biết mỗi một âm nhạc và đó là âm nhạc
của tiền; chỉ một tình yêu, và đó là tình yêu tiền.
Theo một cách nào đó, những người bị đam mê
chiếm lĩnh là trên con đường được hoà nhập. Họ
không giầu có, họ không có nhiều chiều cho bản thể
mình, họ chỉ có một mùi vị - nhưng họ có hoà nhập
nào đó. Họ không chia chẻ. Bạn sẽ không tìm thấy
kiểu người này bị điên, bởi vì họ điên theo một chiều,
cho nên họ không bị chia chẻ. Nhưng điều này hiếm khi xảy ra. Bình
thường người ta chạy theo tất cả các
chiều.
Tôi đã nghe:
Một nhà khoa học và một con khỉ đột được phái
ra ngoài không gian cùng nhau. Được đính ngay phía
trước bộ quần áo không gian của con khỉ đột là một
phong bì với những chỉ dẫn đặc biệt trong đó. Quá tò
mò, nhà khoa học đợi cho tới khi con khỉ đột ngủ để
cho ông ta có thể lén xem trộm trong phong bì.
Rất cẩn thận ông ta bóc phong bì ra và thấy lộ ra
một mẩu giấy bên trong. Trên tờ giấy đó có in dòng
sau: Đừng quên cho nhà khoa học ăn.
Nhà khoa học trở thành một điểm; cuộc đời ông ta
là điểm tập trung đó. Người tập trung đạt tới một loại
thống nhất giả tạo. Bình thường mọi người không tập
trung. Thiền còn xa xăm lắm - họ thậm chí còn chưa
tập trung được. Toàn thể cuộc sống của họ là mớ hỗn
độn, đống lộn xộn. Một tay họ đi lên hướng bắc, một
chân họ đi sang hướng nam, một mắt họ quay sang
hướng đông, mắt kia quay sang hướng tây. Họ cứ đi
theo mọi hướng. Việc kéo và đẩy này của nhiều
hướng đem họ đi xa. Họ trở thành phân mảnh, họ mất
đi tính toàn thể. Làm sao bạn có thể im lặng được,
làm sao bạn có thể bình thản được?
Người tập trung cũng không thể bình thản được,
bởi vì cuộc sống của người đó không cân xứng.
Người đó chỉ đi theo một hướng; tất cả các phía khác
của cuộc sống người đó bị bỏ đói. Nhà khoa học
không bao giờ biết tới cái đẹp là gì, tình yêu là gì.
Người đó không biết thơ ca là gì. Người đó quá bị hạn
chế vào thế giới toán học của mình. Người đó trở nên
thiên lệch. Nhiều phần của người đó bị bỏ đói, bị đói.
Người đó không thể bình thản được. Khi bạn bị đói,
làm sao bạn có thể bình thản được?
Người đang đi theo mọi hướng hầu như không có
sự phong phú hơn chuyên gia, nhưng sự phong phú
của người đó có sự phân liệt trong nó; người đó trở
nên chia chẻ. Làm sao bạn có thể im lặng và bình thản
khi biết bao nhiêu người là thầy bạn, cứ kéo bạn đi
theo các hướng khác nhau?
Bình thường đây là hai kiểu người, và cả hai đều
không thoải mái, ở sâu trong rối loạn.
Phật nói:
Tự do khỏi đam mê và được bình thản, đây là con
đường tuyệt diệu nhất.
Con đường của ông ấy là gì?
Những người đã bỏ lại cha mẹ mình, đi ra khỏi
nhà, hiểu tâm trí, đạt tới cội nguồn, và hiểu thấu
cái phi vật chất, được gọi là Sa môn (shramana).
Thế giới này phải được hiểu, đây là điều rất cơ
bản - shramana - Sa môn. Ở Ấn Độ tồn tại hai con
đường. Một con đường, con đường của brahmin (bà la
môn); con đường kia, con đường của shraman (sa
môn). Con đường của brahmin là con đường của ân
huệ. Người brahmin tin rằng bằng nỗ lực riêng của mình bạn không thể
đạt tới được. Nỗ lực của bạn nhỏ
bé thế, bạn tí hon thế. Làm sao bạn có thể quan niệm
được việc biết chân lí chỉ bằng nỗ lực riêng của mình?
Giúp đỡ của Thượng đế sẽ cần phải có chứ, ân huệ sẽ
cần phải có chứ.
Con đường của brahmin là con đường của ân huệ,
cho nên bạn phải cầu nguyện. Chỉ khi thượng đế giúp
đỡ thì bạn mới có thể đi được trên con đường này.
Chừng nào ngài còn chưa sẵn lòng, bạn không thể đạt
tới được. Không có khả năng nào cho bạn đi một
mình cả. Thượng đế là cần thiết, giúp đỡ của ngài là
cần thiết, bàn tay của ngài là cần thiết. Chừng nào
ngài còn chưa đưa bạn lên trên thế giới này, bạn sẽ
còn phải vật lộn vô vọng. Cho nên cầu nguyện là con
đường. Người brahmin tin vào lời cầu nguyện.
Sa môn (shramana) chính là điều đối lập hẳn lại.
Từ 'shramana' bắt nguồn từ gốc 'shram'. Shram nghĩa
là sử dụng bản thân mình, là làm nỗ lực. Shram nghĩa
là nỗ lực. Không có khả năng của ân huệ nào, bởi vì
Phật chưa bao giờ nói về thượng đế cả. Phật nói, bạn
không biết thượng đế - làm sao bạn có thể cầu nguyện
được? Bạn sẽ cầu nguyện ai? Lời cầu nguyện của bạn
sẽ là trong dốt nát sâu sắc. Làm sao bạn có thể cầu
nguyện với một thượng đế mà bạn không biết, bạn
chưa bao giờ nhìn thấy? Cái kiểu trao đổi nào là có
thể được đây? Bạn sẽ chỉ nói với trời, bầu trời trống
rỗng. Bạn có thể chỉ nói với chính mình thôi. Đấy là
điên.
Bạn đã từng thấy người điên lảm nhảm nói với
chính mình chưa - ngồi một mình nói với ai đó? Họ
đang nói với ai đó, nhưng mọi người đều biết rằng
chẳng có ai khác cả. Họ đang nói cho chính họ.
Với cách tiếp cận duy lí của Phật, người cầu
nguyện thượng đế là điên, là gàn dở. Bạn đang làm
gì? Bạn có biết thượng đế tồn tại không? Nếu bạn biết
thế thì không có nhu cầu cầu nguyện. Bạn nói rằng để
biết thượng đế, bạn cầu nguyện. Người brahmin nói,
'Chúng ta có thể biết thượng đế chỉ bằng lời cầu
nguyện, bằng giúp đỡ của ngài, bằng ân huệ của ngài.'
Bây giờ đây là điều ngớ ngấn, ngớ ngẩn về logic.
Bạn đi lòng vòng. Bạn nói, 'Chúng ta có thể biết
thượng đế chỉ bằng lời cầu nguyện.' Thế thì bạn có thể
cầu nguyện thế nào? - bởi vì bạn có biết thượng đế
đâu. Và bạn nói, 'Chỉ bằng lời cầu nguyện chúng ta
mới có khả năng đạt tới ân huệ của ngài.' Đây là cái
vòng luẩn quẩn, đây là phi logic. Thiếu sót là rất rõ
ràng, sơ hở là hiển nhiên.
Đây là vấn đề với người tôn giáo thông thường -
người đó không thể tranh biện được. Người vô thần
có thể phá huỷ toàn thể luận cứ của bạn trong một tích
tắc. Người tôn giáo né tránh biện luận, bởi vì họ biết
họ không có cơ sở nào để mà tranh biện cả.
Bạn nói, 'Chúng ta đang tìm kiếm thượng đế,' và
thế rồi đồng thời bạn nói, 'Chỉ bằng lời cầu nguyện
chúng ta mới có khả năng đạt tới ngài.' Bạn còn chưa
biết cơ mà - lời cầu nguyện là không thể được. Và nếu
bạn biết ngài, lời cầu nguyện là không cần thiết.
Phật nói chỉ bằng nỗ lực riêng của mình, bằng
shrama riêng của bạn, bạn mới đạt tới ông ấy. Không
có vấn đề ân huệ gì cả. Theo một đằng điều đó là rất nghiệt ngã, theo
đằng khác điều đó lại dường như rất,
rất khoa học.
Bạn một mình ở đây, bị lạc trong khu rừng thế
giới này, và ngồi dưới gốc cây bạn đang cầu nguyện,
chẳng biết mình cầu nguyện tới ai, thượng đế ở đâu,
liệu có ngài hay không. Bạn có thể lãng phí thời gian
của mình. Nếu không có thượng đế, thì...? Mọi thời
gian mà bạn phí hoài cho lời cầu nguyện có thể đã
được dùng để tìm kiếm, để phát hiện ra.
Phật nói một khi bạn hiểu rằng bạn bị lạc và bạn
phải tìm cho ra con đường riêng của mình và không
có sự giúp đỡ nào tới cả, bạn mới trở nên có trách
nhiệm. Lời cầu nguyện là mang tính vô trách nhiệm.
Cầu nguyện chỉ để né tránh. Cầu nguyện là để lười
biếng. Cầu nguyện chỉ là trốn chạy.
Phật nói nỗ lực là cần thiết. Và cầu nguyện cũng
là sỉ nhục. Cho nên trong cấu trúc Phật giáo không có
gì như lời cầu nguyện cả, chỉ có thiền. Bạn có thể
thiền, bạn không thể cầu nguyện.
Đây là khác biệt giữa thiền và lời cầu nguyện. Lời
cầu nguyện cần tin tưởng vào thượng đế, thiền không
cần tin tưởng. Thiền mang tính khoa học thuần khiết.
Nó đơn giản nói rằng có những trạng thái của tâm trí
khi suy nghĩ dừng lại. Nó đơn giản nói có những cách
thức dừng suy nghĩ lại, vứt bỏ suy nghĩ và đi tới trạng
thái im lặng của tâm trí... trạng thái bình lặng, thanh
thản của tâm trí. Và trạng thái đó của tâm trí cho bạn
chân lí là gì, cho bạn thoáng nhìn, mở ra cánh cửa -
nhưng nó chỉ là do nỗ lực của riêng bạn thôi.
Người ta phải một mình và phải làm việc cần
mẫn, và nếu bạn bỏ lỡ, chỉ bạn phải chịu trách nhiệm.
Nếu bạn không đạt tới, bạn không thể trách được bất
kì ai bởi vì không có ai để trách cả.
Con đường của Phật là con đường của sa môn -
shramana - người tin vào nỗ lực riêng của mình. Điều
đó có vẻ rất khắc khổ, gian nan. Người ta bắt đầu cảm
thấy sợ. Trong nỗi sợ của mình chúng ta cần tới sự
giúp đỡ của ai đó. Ngay cả tin tưởng rằng ở đâu đó
thượng đế nào đó tồn tại cũng cho chúng ta sự giảm
nhẹ rồi.
Tôi đã nghe:
Một hành khách say sóng nằm bơ phờ trên chiếc
ghế dài ngáng đường đi qua của chiêu đãi viên. Trỏ ra
nơi xa xăm, ông ta nói, 'Xa kia - đất liền đấy phải
không?'
'Dạ thưa ngài không phải ạ,' chiêu đãi viên đáp.
'Đấy là đường chân trời.'
'Không sao,' hành khách thở dài, 'thế còn tốt hơn
là không có gì.'
Nhưng đường chân trời là cái không. Làm sao nó
có thể tốt hơn cái không được? Nó chỉ có vẻ, nó
không có đó. Chẳng cái gì tồn tại giống như đường
chân trời; đường chân trời chỉ là ảo tưởng. Nhưng
điều đó nữa, với hành khách đang say sóng này, vẫn
dường như là tốt. Ít nhất cũng có cái gì đó - tốt hơn là
không có gì.
Tin tưởng, với Phật, cũng giống như đường chân
trời vậy. Các thượng đế của bạn giống như các đường
chân trời, ảo cảnh. Bạn tin vào thượng đế bởi vì bạn
cảm thấy có một mình. Bạn không biết thượng đế có
thực không; bạn tạo ra thượng đế bởi vì bạn cần họ.
Nhưng nhu cầu của bạn không thể là sự đảm bảo cho
chân lí của thượng đế. Nhu cầu của bạn không thể là
sự đảm bảo cho thực tại của thượng đế.
Bạn đang trong đêm tối khi đi qua khu rừng rậm.
Bạn có một mình thôi. Nhu cầu của bạn là có người
bạn đồng hành. Bạn có thể tưởng tượng ra người bạn
đồng hành, bạn có thể bắt đầu nói chuyện với người
bạn đồng hành, bạn thậm chí có thể bắt đầu trả lời cho
người bạn đồng hành. Điều đó sẽ cho bạn ảo tưởng
rằng ai đó đang có đấy. Bạn có thể tin vào người bạn
đồng hành này, bạn có thể hoàn toàn bị thôi miên bởi
điều đó, nhưng điều đó không có nghĩa là bạn có thể
tạo ra người bạn đồng hành.
Mọi người bắt đầu huýt sáo khi họ một mình. Đi
qua trong đêm tối, họ bắt đầu huýt sáo. Điều đó giúp
đỡ, thế còn tốt hơn là không có gì. Bạn nghe tiếng
động riêng của mình và điều đó cho bạn ý tưởng rằng
có ai đó khác. Mọi người cũng bắt đầu hát. Nghe
tiếng nói riêng của mình cho cảm giác rằng có ai đó
khác nữa. Bởi vì bạn bao giờ cũng nghe người khác
nói. Chính âm thanh bạn có thể nghe thấy cho bạn
cảm giác rằng người khác phải có đó.
Nhưng Phật nói rằng chỉ bởi vì bạn cần thôi, thực
tại không có sự cần thiết nào để hoàn thành điều đó.
Thực tại không thay đổi bởi nhu cầu của bạn. Nhu cầu
của bạn là thực - rằng bạn một mình và bạn muốn có
hình ảnh người cha trên trời, thượng đế. Đó là lí do tại
sao người Ki tô giáo lại gọi thượng đế là 'cha'; đó là
hình ảnh người cha.
Các nhà tâm lí sẽ đồng ý với Phật. Các nhà tâm lí
nói rằng thượng đế chỉ là nhu cầu về hình ảnh người
cha mà thôi. Mọi đứa trẻ nhỏ đều có một người cha -
mang tính bảo vệ, cho an ninh. Người ta cảm thấy
tuyệt đối yên tâm bởi vì người cha có đó. Thế rồi bạn
lớn lên, thế rồi bạn trở nên trưởng thành. Thế rồi cha
bạn không còn là sự bảo vệ nữa. Thế rồi bạn biết rằng
cha bạn cũng yếu đuối như bạn thôi. Thế rồi bạn biết
cha bạn cũng bị giới hạn như bạn. Và dần dần bạn
thấy cha mình mỗi ngày trở nên yếu hơn, trở nên già
đi.
Tin cậy của bạn bị mất đi, nhưng nhu cầu thì vẫn
còn. Bạn cần hình ảnh người cha nào đó. Bạn muốn
có chỗ nào đó để đi tới và nói với cha bạn, người
không còn nữa. Bị lạc, bạn tạo ra thượng đế, bạn tạo
ra người cha, hay bạn tạo ra người mẹ - gọi đó là Kali,
Amba... nhưng bạn tạo ra hình ảnh người cha hay
người mẹ. Đó là nhu cầu của bạn, chắc chắn - nhu cầu
tâm lí - nhưng nhu cầu này giữ bạn không trưởng
thành.
Phật là tất cả cho sự trưởng thành. Ông ấy nói vứt
tuốt những hình ảnh này đi, chúng không tồn tại đâu,
và cho dù chúng có tồn tại thì đây cũng không phải là
con đường để tìm họ. Con đường là trở nên bình thản
và yên tĩnh. Con đường là trở thành một mình và chấp
nhận sự một mình của mình tới mức không có nhu
cầu về ân huệ của bất kì ai. Trở nên im lặng và một
mình tới mức bạn được tràn đầy bên trong cái ta riêng của mình, tới
mức bạn là đủ cho chính mình. Thế thì
bạn sẽ bình thản. Thế thì ân huệ sẽ bắt đầu xảy ra cho
bạn, nhưng nó không phải là ân huệ tới từ thượng đế.
Nó là ân huệ lan toả từ trung tâm riêng của bạn hướng
tới ngoại vi riêng của bạn. Bạn sẽ trở thành mang ân
huệ.
Phật ngồi, đứng, đi, chính là ân huệ được nhân vật
hoá. Nhưng ân huệ này không tới từ đâu khác; nó
đang nổi lên từ chiều sâu bên trong nhất của riêng ông
ấy, nó nổi tăm lên từ trung tâm riêng của ông ấy. Nó
giống như hoa đã nở ra trên cây - nó đã bắt nguồn từ
cây. Nó không phải là món quà từ ai đó khác, nó là sự
trưởng thành.
Đây là khác biệt giữa con đường của brahmin và
con đường của sa môn. Trên con đường của brahmin,
chân lí là món quà, món quà của thượng đế. Trên con
đường của sa môn, chân lí là sự trưởng thành xảy ra
cho bạn từ bản thể riêng của mình. Nó là của bạn.
Chân lí không phải là cái gì bên ngoài để mà được
phát hiện ra, nó là cái gì đó bên trong cần được nhận
ra.
Những người đã bỏ lại cha mẹ mình, đi ra khỏi
nhà, hiểu tâm trí, đạt tới cội nguồn, và hiểu thấu
cái phi vật chất, được gọi là sa môn (shramana).
Bây giờ, định nghĩa về sa môn. Ai được gọi là sa
môn? Ai thực sự là người tìm kiếm chân lí? Ai là
người đang nỗ lực thực, nỗ lực đích thực để phát hiện
ra chân lí là gì? Điều thứ nhất - họ bỏ lại cha mẹ
mình.
Bây giờ điều này rất mang tính biểu tượng, đừng
hiểu nó theo từng chữ. Nó rất biểu tượng và rất tâm lí.
Đứa trẻ phải ở trong bụng mẹ chín tháng... được bảo
vệ hoàn toàn, trong bầu không khí ấm áp tươi đẹp đến
mức chưa bao giờ nó sẽ có khả năng tìm lại được sự
thuận tiện như thế nữa. Không lo lắng, không trách
nhiệm gì - ngay cả để thở. Bản thân nó không cần thở,
người mẹ thở cho nó. Nó không có lo lắng rằng nó sẽ
bị đói hay bị bỏ đói; người mẹ cứ nuôi dưỡng nó. Nó
được bảo vệ thế, an toàn thế.
Các nhà tâm lí nói rằng trong việc tìm kiếm tôn
giáo mọi người đều đang tìm kiếm bụng mẹ lần nữa.
Tất cả mọi khái niệm của họ về cõi trời đều không là
gì ngoài bụng mẹ được khuếch đại lên... tuyệt đối
thoải mái. Trong huyền thoại Hindu họ nói rằng trên
trời có cái cây tên là kalpavriksha - cây thoả ước. Bạn
ngồi dưới nó, và khoảnh khắc bất kì ham muốn nào
nảy sinh, thậm chí trước khi bạn đi tới biết rằng nó đã
nảy sinh, thì nó đã được đáp ứng. Bạn nghĩ về thức ăn
và thức ăn sẽ có đó, ngay lập tức. Bạn nghĩ tới giường
bởi vì bạn buồn ngủ - lập tức giường sẽ có đó.
Đây chính là bụng mẹ đấy. Bụng mẹ là kalpataru,
cây thoả ước. Đứa trẻ chưa bao giờ trở nên nhận biết
về bất kì nhu cầu nào. Trước khi nó trở nên nhận biết
điều đó được đáp ứng rồi. Điều đó tuyệt đối tự động.
Nhưng đứa trẻ phải rời khỏi bụng mẹ; điều đó cần cho
sự trưởng thành của nó. Bởi vì một mình thoải mái
không bao giờ có thể giúp cho bạn trưởng thành được,
bởi vì không có thách thức. Đứa trẻ phải rời khỏi
bụng mẹ, và điều đầu tiên đứa trẻ sẽ phải làm sau khi
rời khỏi bụng mẹ là điều cơ sở của mọi sự sống còn - nó sẽ phải thở
theo cách riêng của nó. Nó sẽ phải nỗ
lực theo cách riêng của nó. Nó trở thành một sa môn.
Trong bụng mẹ nó là một brahmin. Mọi thứ đã
xảy ra bởi ân huệ. Mọi thứ đã xảy ra, nó đã chẳng làm
gì gì cả. Nhưng mọi người đều phải ra khỏi bụng mẹ.
Mọi brahmin đều phải trở thành shramana. Phật nói
qua việc là sa môn, trưởng thành là có thể.
Thế rồi đứa trẻ dần dần trưởng thành xa hơn, xa
mãi khỏi người mẹ. Sau việc sinh nó sẽ vẫn phải phụ
thuộc vào vú mẹ. Thế rồi một khoảnh khắc sẽ tới khi
nó không còn phụ thuộc vào vú mẹ nữa, nhưng nó vẫn
phụ thuộc vào người mẹ nuôi nó. Thế rồi nó sẽ đi học.
Nó đi xa hơn khỏi người mẹ, nó trở nên ngày một độc
lập hơn, nó trở nên ngày một là cá nhân hơn. Thế rồi
một ngày nào đó nó rơi vào tình yêu với một người
đàn bà khác và nó bị cắt khỏi người mẹ một cách
hoàn toàn.
Đó là lí do tại sao không người mẹ nào có thể tha
thứ cho người đàn bà đã lấy đi đứa con trai của mình.
Không bao giờ - với người mẹ, không thể nào tha thứ
được cho người đàn bà đã lấy đứa con mình đi... xung
đột sâu sắc. Nhưng người đàn ông thực sự trưởng
thành khi người đó rơi vào tình yêu với người đàn bà,
bởi vì thế thì anh ta đã quay lưng lại với mẹ mình
hoàn toàn. Bây giờ anh ta đã quay một trăm tám mươi
độ.
Phật nói rằng trong thế giới tâm lí vẫn còn nhiều
gốc rễ cần phải chặt bỏ. Bạn phải trở nên ngày một
nhận biết rằng bạn có thể đã đi xa khỏi người mẹ,
nhưng thế rồi bạn tạo ra người mẹ tâm lí. Bạn có thể
đi xa khỏi người bố, nhưng thế rồi bạn tạo ra hình ảnh
người bố trên trời - thượng đế cai quản khắp thế giới,
đấng cai quản tối cao. Và bạn gọi ông ấy là cha. Lần
nữa bạn đang cố gắng trở nên phụ thuộc - cứ dường
như bạn sợ sự độc lập của mình. Tất cả những điều
này đều là gốc rễ; mọi gốc rễ đều phải bị chặt đi.
Jesus nói ở đâu đó... và tôi ngờ rằng ông ấy phải
đã có những ý tưởng đó từ nguồn Phật giáo nào đó,
bởi vì Jesus tới sau Phật năm trăm năm, và trước lúc
Jesus tới, quan điểm Phật giáo đã lan toả khắp Trung
Đông. Chúng đã thấm xa vào giữa Châu Á, chúng đã
vào sâu trong Ai Cập.
Jesus đã được nuôi nấng ở Ai Cập. Ông ấy phải
đã đi tới biết. Và có mọi khả năng rằng ông ấy đã
viếng thăm Ấn Độ trước khi ông ấy đi tới Jerusalem
để thuyết giảng. Có mọi khả năng. Có những nguồn
nói rằng ông ấy đã tới thăm đại học, đại học Phật
giáo, ở Nalanda. Ông ấy phải đã đi tới biết về con
đường của shramana, bởi vì trong giáo huấn của mình
ông ấy nói đôi điều không có nguồn gốc truyền thống
nào trong ý thức hệ Do Thái.
Chẳng hạn ông ấy nói, 'Chừng nào các ông còn
chưa ghét bố và mẹ mình, các ông không thể trở thành
đệ tử của ta.' Người Ki tô giáo bao giờ cũng cảm thấy
bối rối nếu bạn nói điều này. Đây là kiểu giáo huấn gì
thế này? - 'Chừng nào các ông còn chưa ghét bố và
mẹ mình...' Và bạn nói rằng Jesus là tình yêu và ông
ấy đã tới để thuyết giảng về tình yêu cho thế giới sao?
Và bạn nói rằng Thượng đế là tình yêu sao? Và giáo
huấn này dường như đầy những hận thù - 'Ghét bố và
mẹ bạn.' Tất cả các thầy giáo đều nói; 'Kính trọng bố và mẹ bạn,' và
vô nghĩa làm sao - Jesus lại nói ghét
sao? Ông ấy phải đã đọc điều đó từ nguồn nào đó.
Những nguồn đó chỉ có thể là Phật giáo, bởi vì
Phật nói: Những người từ bỏ cha mẹ mình, đi khỏi gia
đình...
Đừng hiểu theo từng chữ một. Cũng đừng hiểu
Jesus theo từng chữ một. Ông ấy không nói 'ghét bố
và mẹ bạn' đâu. Ông ấy đơn giản nói cắt bản thân bạn
hoàn toàn ra khỏi bố và mẹ. Ông ấy đang nói cắt bản
thân bạn ra khỏi an ninh. Trở thành bất an. Cắt bản
thân mình ra khỏi mọi phụ thuộc. Trở thành độc lập.
Trở thành cá nhân. Đó là điều ông ấy nói.
Jesus đang dùng một ngôn ngữ rất thô sơ, Phật
đang dùng một ngôn ngữ rất văn hoá. Jesus không
phải là được giáo dục rất tốt; ông ấy là con người thô
sơ, con ông thợ mộc. Và truyền thống Do Thái cũng
rất thô. Các nhà tiên tri nói theo ngôn ngữ nảy lửa.
Ngôn ngữ của họ có vẻ chính trị hơn là tôn giáo. Phật
là con vua - có giáo dục tốt, có văn hoá cao. Thuật
ngữ của họ đã trở nên khác biệt bởi vì họ là những
người khác biệt, nhưng ý nghĩa thì như nhau.
Người ta phải bỏ lại cha mẹ mình, người ta phải
bỏ lại gia đình, người ta phải bỏ lại quá khứ. Người ta
phải trở thành độc lập hoàn toàn, một mình... run rẩy
trong sự một mình đó - nhưng người ta phải trở thành
một mình.
Người ta phải trở thành tuyệt đối có trách nhiệm
với chính mình, và chỉ thế thì bạn mới có thể hiểu
được tâm trí. Bởi vì nếu bạn cứ phụ thuộc vào người
khác, chính phụ thuộc của bạn sẽ không cho phép bạn
hiểu mình là ai.
Cắt bỏ mọi nguồn, cắt bản thân bạn ra khỏi mọi
mối quan hệ đi. Bạn được bỏ lại một mình, bây giờ
không có ai khác. Bạn phải nhìn vào trong linh hồn
riêng của mình. Bạn phải đương đầu với chính mình.
Đó là cách duy nhất để đương đầu với chính mình.
Thế thì bạn đạt tới chính cội nguồn của bản thể mình,
bằng việc hiểu tâm trí... và hiểu cái phi vật chất.
Xem đấy, Phật không nói hiểu tâm linh. Ông ấy
nói hiểu phi vật chất. Đây là khác biệt. Cách tiếp cận
của ông ấy có lí thế, ông ấy sẽ không khẳng định cái
gì đó mà bạn có thể tìm ra sơ hở. Ông ấy sẽ không nói
'tâm linh'; ông ấy đơn giản nói 'cái phi vật chất'.
Hỏi nhà vật lí, ông ấy sẽ hiểu ngôn ngữ của Phật.
Ông ấy nói, 'Bằng việc phân tích nguyên tử chúng ta
đi tới điện tử.' Điện tử chỉ là các hạt điện, gần như phi
vật chất. Vật chất đã biến mất, chỉ năng lượng có đó.
Bạn không thể gọi nó là vật chất được, bạn chỉ có thể
gọi nó là phi vật chất. Và thế rồi bằng phân tích điện
tử họ đã đi tới gần như cái trống rỗng - cái trống rỗng
phi vật chất. Nhà vật lí sẽ hiểu thuật ngữ của Phật
giáo.
Phật cũng đã đạt tới cùng điểm đó bằng việc phân
tích tâm trí. Bằng việc phân tích tâm trí ông ấy đã đi
tới trạng thái mà không ý nghĩ nào có đó... đơn giản
trống rỗng. Ông ấy gọi nó là phi vật chất. Ý nghĩ là
chất liệu bên trong. Khi bạn làm tản mác ý nghĩ đi và
chỉ không gian còn lại, nó là phi vật chất.
Cùng điều đó đã xảy ra cho vật lí hiện đại. Họ đã
phân tích vật chất trong thế giới bên ngoài và họ đã đi
tới phi vật chất. Phật đã đạt tới phi vật chất trên cuộc
hành trình bên trong của ông ấy, còn khoa học đã đạt
tới phi vật chất trên cuộc hành trình bên ngoài của nó,
nhưng cả hai đều đã đạt tới phi vật chất. Các nhà khoa
học cũng sẽ không nói rằng đây là tâm linh. Các nhà
khoa học chỉ có thể nói thế này thôi - rằng bất kì cái
gì là vật chất thì cũng đều không có đó. Ông ấy không
thể nói cái gì có đó. Chỉ có thể nói được thế này thôi -
rằng bất kì cái gì chúng ta thường nghĩ như vật chất
thì không còn có đó. Tất cả những điều chúng ta có
thể nói đều là phủ định.
Phật nói:
và hiểu thấu cái phi vật chất, được gọi là sa môn
(shramana).
Bây giờ là các loại người:
Những người tuân thủ giới luật về đạo đức, người
thuần khiết và không tì vết trong hành vi của họ,
những người cố gắng đạt tới kết quả của quả vị
thánh được gọi là a la hán.
A la hán là trạng thái cao nhất của vô trí. Từ 'a la
hán' nghĩa là 'người đã chinh phục kẻ thù của mình'.
Ari nghĩa là kẻ thù và a la hán nghĩa là 'người đã
chinh phục kẻ thù'.
Ai là kẻ thù? Chúng không ở bên ngoài bạn. Đam
mê, phân tán, ham muốn, hận thù, ghen tị, sở hữu,
giận dữ, dục tình - đây là kẻ thù.
Theo một cách nào đó tâm trí bạn là kẻ thù, kẻ thù
căn nguyên. Người đã chinh phục được tâm trí được
gọi là a la hán. Đây là trạng thái cao nhất - người đã
lên trên mọi đám mây.
Thỉnh thoảng bạn có quan sát khi bay trên trời
không, khi máy bay bay lên trên các đám mây? Tất cả
các đám mây đều trong bầu trời xanh thuần khiết. Đó
là trạng thái ấy đấy, trạng thái bên trong của a la hán.
Người ta cứ thấm vào tâm trí. Dần dần các đám mây
của đam mê không còn đó nữa, chúng bị bỏ lại xa
đằng sau, và bạn soải cánh bay lên ngày một cao
trong không gian thuần khiết, trong không gian phi
vật chất. Đây là trạng thái của a la hán.
Theo thuật ngữ Phật giáo đó là trạng thái cao
nhất. Điều người Ki tô giáo gọi là Christ, Phật gọi là a
la hán. Điều người Jaina gọi là arihanta; từ đó cũng có
cùng nghĩa. Hay điều người Hindu gọi là avatara -
Rama, Krishna - đó là cùng trạng thái, trạng thái của a
la hán.
Nhưng Phật lại rất khoa học trong điều đó nữa.
Ông ấy không gọi điều đó là avatara, bởi vì avatara
nghĩa là 'thượng đế giáng trần' - bạn phải tin vào
thượng đế. Ông ấy không gọi... theo bất kì cách nào
ông ấy không dùng bất kì thuật ngữ nào có giả định
trước. Ông ấy dùng các thuật ngữ đơn giản mà không
có giả định trước nào.
Tiếp đó là bất hoàn (anagamin - a na hàm).
A la hán là trạng thái cao nhất, tiếp đó là bất hoàn.
Bất hoàn (anagamin - a na hàm) nghĩa là 'người sẽ
không tới nữa', người...
Tại cuối cuộc đời mình, linh hồn của bất hoàn (a
na hàm) thăng lên trời và đạt tới quả vị a la hán.
Điều đó ở ngay dưới trạng thái a la hán.
Bất hoàn (anagamin - a na hàm), từ này nghĩa là
'người sẽ không tới nữa'. Đã đi qua rồi, người đó sẽ
mất hẳn. Đã đi qua rồi, người đó sẽ đi mãi mãi, người
đó sẽ không quay lại. Người đó ở gần với việc là a la
hán, người đó đã đi qua những đám mây. Ở ngay
đường biên, người đó đang đứng trên ngưỡng của
việc là a la hán. Có thể một níu bám nhỏ của người đó
vẫn còn với thân thể. Cho nên khi người đó chết, việc
níu bám đó cũng biến mất. Người đó sẽ không quay
lại.
Tiếp đó là nhất hoàn (skridagamin - tu đà hàm).
Nhất hoàn (skridagamin - tu đà hàm) nghĩa là
'người còn quay lại'.
Nhất hoàn (skridagamin - tu đà hàm) thăng lên
trời (sau cái chết của người đó), quay trở lại thế
gian một lần nữa…
Chỉ một lần thôi... Người đó vẫn còn níu bám nào
đó; rất mờ nhạt - nhưng vẫn còn có vài gốc rễ và
người đó sẽ bị kéo lại vào bụng mẹ khác lần nữa.
Người đó không tuyệt đối vô ham muốn. A la hán là
tuyệt đối vô ham muốn. Nhất hoàn (tu đà hàm) đã
vượt ra ngoài những ham muốn thô, nhưng ham muốn
tinh vẫn còn có đó.
Ham muốn thô là gì? Ham muốn về tiền bạc, về
quyền lực, danh vọng - đây là ham muốn thô. Ham
muốn được tự do, ham muốn được bình thản, ham
muốn đạt tới trạng thái của quả vị a la hán - đây là
những ham muốn tinh, nhưng chúng vẫn là ham muốn
thôi. Người đó sẽ phải quay lại chỉ một lần nữa.
Tiếp đó là dự lưu (srotapanna - tu đà hoàn).
Từ dự lưu (srotapanna - tu đà hoàn) nghĩa là
'người đã đi vào trong dòng chảy’. Srota nghĩa là
dòng chảy (lưu) và apanna nghĩa là 'người đã đi vào'
(dự). Dự lưu nghĩa là 'người đã đi vào dòng chảy'.
Người đó đã bắt đầu cuộc hành trình của mình trên
con đường. Người đó không còn là người trần tục nữa
- người đó đã trở thành một sannyasin, người đó đã đi
vào trong dòng sông. Phía xa là đại dương, nhưng
người đó đã đi vào trong dòng sông, người đó đã bắt
đầu.
Và khi cuộc hành trình được bắt đầu, nó sẽ kết
thúc. Dù xa xôi đến thế nào, nó cũng không phải xa
xăm gì. Vấn đề thực là với những người thậm chí còn
chưa đi vào trong dòng chảy. Họ đang đứng trên bờ.
Đây là những người trần tục, đứng trên bờ. Sannyasin,
khất sĩ, là người đã đi vào dòng sông này - đều biết rõ
rằng đại dương ở xa lắm, nhưng nửa cuộc hành trình
đã qua rồi, chỉ với việc đi vào thôi.
Tiếp đó là dự lưu (srotapanna - tu đà hoàn). Dự
lưu chết đi bẩy lần và được sinh ra bẩy lần, rồi
người đó cuối cùng đạt tới quả vị a la hán.
Đây đều chỉ là biểu tượng, đừng nghĩ chúng theo
từng chữ một... đây chỉ là những điều biểu tượng.
'Bẩy' không ngụ ý chính xác là bẩy. Nó ngụ ý nhiều
lần người đó sẽ chết đi, nhiều lần người đó sẽ được
sinh ra, nhưng khuôn mặt của người đó đã được quay
về phía đại dương. Người đó đã đi vào trong sông
Hằng và cuộc hành trình đã bắt đầu.
Bởi việc gián đoạn của đam mê được ngụ ý là
giống như các chi bị cắt rời chúng không bao giờ
có thể được dùng lại nữa.
Và Phật nói rằng bằng việc vứt bỏ đam mê, ông
ấy ngụ ý rằng điều đó cũng tựa như ai đó cắt rời tay
bạn ra; thế thì bạn không thể dùng được nó. Hay ai đó
lấy mắt bạn ra; thế thì bạn không thể nhìn được qua
chúng. Người thực sự sẵn sàng đi vào trong dòng
chảy là người, theo quyền riêng của mình, tự nguyện
vứt bỏ các đam mê của mình. Người đó nói, 'Mình sẽ
không dùng lại chúng nữa.'
Nhớ lấy, đây không phải là kìm nén theo nghĩa
Freud của thuật ngữ này. Người đó không kìm nén nó,
người đó đơn giản rút năng lượng của mình khỏi nó.
Dục vẫn còn đó - người đó không kìm nén nó, người
đó đơn giản không hợp tác thêm gì nữa.
Khác biệt là mênh mông. Khi dục có đó và bạn
kìm nén nó, bạn tranh đấu với nó, bạn không vượt lên
trên nó, bạn vẫn còn với nó. Nếu bạn tranh đấu với nó
bạn vẫn còn níu bám vào nó, và nếu bạn tranh đấu với
nó bạn sẽ vẫn còn sợ nó.
Phật nói người ta đơn giản không hợp tác với nó.
Một ham muốn, ham muốn dục nảy sinh - bạn sẽ là
gì? Phật nói bạn đơn giản quan sát. Cứ để nó có đó.
Nó sẽ tới và nó sẽ đi. Nó sẽ loé lên trong tâm trí, nó sẽ
thử hấp dẫn bạn; bạn vẫn còn mang tính quan sát, bạn
không cho phép vô ý thức nào, bằng không nó sẽ đi
vào trong bạn. Bạn đơn giản vẫn còn mang tính quan
sát.
Phật nói, 'Con người phải lưu tâm. Thế thì người
này giống như ngôi nhà có chiếc đèn đang thắp sáng,
nơi đèn được thắp sáng - kẻ cắp sợ không dám vào.
Khi đèn không có đó và ngôi nhà tối, thế thì kẻ cắp
vào dễ dàng. Người đã thực sự trở nên lưu tâm cũng
giống như ngôi nhà mà ở cửa có lính gác, thức tỉnh
hoàn toàn, và ngọn đèn được thắp sáng. Kẻ trộm khó
mà vào được, chúng không thể thu được dũng cảm.'
Cùng điều đó xảy ra khi bạn nhận biết - bạn có
lính gác. Khi bạn nhận biết, ngôi nhà của bạn được
thắp sáng bằng ánh sáng. Đam mê không thể đi vào
bạn được. Chúng có thể tới, chúng có thể vẩn vơ xung
quanh, chúng sẽ cố gắng thuyết phục bạn, nhưng nếu
bạn đơn giản quan sát, chúng sẽ biến mất theo cách
riêng của chúng bởi vì chúng sống bằng hợp tác của
bạn. Đừng tranh đấu với chúng và đừng mê say trong
chúng; vẫn còn nhận biết đi. Thế thì dần dần chúng sẽ
rơi rụng đi tựa như cành khô.
Nếu bạn bắt đầu đánh nhau, bạn đang tạo ra vấn
đề khác. Thay vì là người mê đắm bạn sẽ trở thành người kìm nén. Vấn
đề không được giải quyết, chỉ cái
tên được thay đổi.
Tôi đã nghe:
Một bác sĩ chữa cho một người được mang tới bị
say bí tỉ. 'Nếu bệnh nhân lại thấy rắn mầu lục, cho anh
ta một số thuốc này,' ông ta bảo cô y tá.
Lát sau ông ta quay lại thì thấy người này đang
mê sảng - nhưng thuốc vẫn chưa cho anh ta uống. 'Tôi
chẳng bảo cho anh ta uống thuốc này nếu anh ta lại
thấy rắn mầu lục đó sao?' bác sĩ căn vặn.
'Nhưng anh ấy không thấy rắn mầu lục đâu ạ,' cô
y tá đáp.
'Ồ, thế à?'
'Không đâu, anh ta đã thấy ếch tía.'
Bây giờ bất kì khi nào bạn thấy rắn mầu lục hay
bạn thấy ếch mầu tía thì có khác biệt gì đâu - bạn bị
say đấy chứ.
Có những người hợp tác với đam mê của họ và có
những người tranh đấu với đam mê của họ - nhưng cả
hai vẫn còn với đam mê. Người này thân thiết, người
kia đối kháng, nhưng cả hai vẫn còn với đam mê và
cả hai đều là cách thức của sự hợp tác tinh tế. Người
ta phải vứt bỏ mối quan hệ này. Người ta phải trở
thành khán giả, người quan sát.
Một khi bạn bắt đầu quan sát bạn sẽ trở nên nhận
biết về các tầng tầng lớp lớp của đam mê. Có nhiều
tầng. Khi đam mê thô bị bỏ lại, nhiều tầng tinh tế sẽ
được tìm thấy.
Toàn thể cuộc sống chúng ta cũng giống như củ
hành. Bạn bóc nó ra - lại tới tầng khác; bạn bóc tầng
đó - lại tầng khác... tươi hơn, non hơn, sống động hơn.
Nhưng nếu bạn cứ bóc mãi, một khoảnh khắc tới khi
chỉ cái trống rỗng là còn lại trong tay bạn. Đó là điều
Phật gọi là niết bàn - cái trống rỗng. Tất cả các tầng
đều đã mất.
Tôi đã nghe:
Anh chàng chơi ghi ta của nhóm nhạc pop bị mắc
tai nạn xe hơi và bị thương ở đầu. Khi tới bệnh viện
bác sĩ ra lệnh phải cắt hết bộ tóc dài dầy của anh ta để
thấy được khoảng rộng quanh chỗ bị thương. Một cô
y tá được cử làm việc này, và cô ấy bắt đầu làm việc
với chiếc kéo lớn.
Sau mười phút hay đại loại như vậy cô ấy nói với
chàng thanh niên, 'Anh đã học tại trường phổ thông
hỗn hợp vùng bắc Lancaster khi anh còn trẻ hơn, đúng
không?'
'Vâng, tôi đã tới đó,' chàng thanh niên trả lời. 'Cô
cũng ở đó là?'
'Không,' cô y tá nói, 'tôi ở London.'
'Vậy sao cô lại biết trường tôi đã đi học?' chàng
thanh niên hỏi.
'Tôi đã tới đỉnh đầu anh,' cô y tá đáp và cô ấy tiếp
tục cắt.
Tầng nọ tiếp tầng kia... Và bạn càng cắt sâu hơn,
bạn sẽ càng thấy nhiều hơn - nhiều điều đã bị bỏ lỡ
trong nhiều năm, từ lâu; bạn sẽ thấy chóp đỉnh của
mình. Bạn càng đi sâu hơn vào tâm trí mình, bạn sẽ đi
sâu hơn vào thời thơ ấu của mình. Nhiều điều bị quên
đi, bị mất đi - lần nữa chúng có đó. Bởi vì chẳng cái
gì bị mất cả, mọi thứ cứ tích luỹ lại.
Khi bạn đi tới một điểm mà bạn không thể tìm
thấy được cái gì, thế thì bạn đã đi tới bản thể mình.
Bản thể không giống như một tầng; bản thể đơn giản
là không gian, không gian thuần khiết. Bản thể đơn
giản là trống rỗng.
Phật gọi bản thể này là không hiện hữu, ông ấy
gọi nó là vô ngã - anatta. Phật nói nếu bạn thấy bản
thân mình, thế thì phải có tầng nào đó vẫn còn lại. Khi
bỗng nhiên bạn đi tới điểm bạn không thể tìm thấy
bản thân mình - bạn hiện hữu, mà bạn không thể tìm
thấy bản thân mình - thế thì bạn đã về tới nhà. Và điều
này có thể được đạt tới chỉ bằng nỗ lực.
Đây là khuôn khổ của ông ấy. Từ mai chúng ta sẽ
bắt đầu đi vào trong phương pháp luận của ông ấy -
các con đường của thiền, con đường của kỉ luật bên
trong; con đường về cách siêu việt lên trên bản ngã,
con đường về cách siêu việt lên tất cả. Đó là lí do tại
sao tôi lại gọi loạt bài nói này là 'Kỉ luật của siêu việt'.
Nhưng đây là khuôn khổ của ông ấy.
Thông thường bạn đứng trên bờ sông. Thế thì bạn
không thể hi vọng được, thế thì bạn ở trong trạng thái
vô vọng. Nếu bạn trở thành dự lưu, nếu bạn đi vào
dòng chảy, đó là điều tôi gọi là tính chất sannyas. Với
tính chất sannyas bạn trở thành dự lưu - bạn đi vào
dòng chảy, bạn lấy dũng cảm, bạn lấy cú nhảy. Đó là
cú nhảy lượng tử từ bờ vào dòng chảy. Chúng rất gần,
nhưng chúng khác biệt hoàn toàn.
Bờ chẳng bao giờ đi đâu cả. Nó không có sự
trưởng thành, nó không bao giờ chuyển động. Nó tĩnh
tại, tù đọng, cũ rích, chết. Và bên cạnh là luồng chảy
của dòng sông, đang đi tới đâu đó.
Nếu cuộc sống của bạn không đi tới đâu cả, bạn
đang đứng trên bờ. Đi vào dòng chảy và bắt đầu cuộc
hành trình đi. Cuộc sống của bạn bắt đầu thay đổi,
biến đổi. Bạn bắt đầu biến thái, biến hình. Và từng
khoảnh khắc những tầm nhìn mới mở ra cánh cửa của
chúng cho bạn. Một ngày nào đó dòng sông đạt tới đại
dương. Ngày đó bạn trở thành a la hán, bạn tan biến
vào trong đại dương.
Trước hết là dự lưu (tu đà hoàn), thế rồi tới nhất
hoàn (tu đà hàm), thế rồi bất hoàn (a na hàm), thế rồi
a la hán. Đây là các trạng thái. Nó là khuôn khổ rất
khoa học. Từ việc là người trần tục con người trở
thành dự lưu (tu đà hoàn) và thế thì cuộc hành trình
của bạn đã bắt đầu.

Phật nói:
Tự do khỏi đam mê và được bình thản, đây là con
đường tuyệt diệu nhất.
Những người đã bỏ lại cha mẹ mình, đi ra khỏi
nhà, hiểu tâm trí, đạt tới cội nguồn, và hiểu thấu
cái phi vật chất, được gọi là shramana-Sa môn.
Những người tuân thủ giới luật về đạo đức, người
thuần khiết và không tì vết trong hành vi của họ,
những người cố gắng đạt tới kết quả của quả vị
thánh được gọi là a la hán.
Tiếp đó là bất hoàn (anagamin - a na hàm). Tại
cuối cuộc đời mình, linh hồn của bất hoàn thăng
lên trời và đạt tới quả vị a la hán.
Tiếp đó là nhất hoàn (skridagamin - tu đà hàm).
Nhất hoàn thăng lên trời (sau cái chết của người
đó), quay trở lại thế gian một lần nữa, và đạt tới
quả vị a la hán.
Tiếp đó là dự lưu (srotapanna - tu đà hoàn). Dự
lưu chết đi bẩy lần và được sinh ra bẩy lần, rồi
người đó cuối cùng đạt tới quả vị a la hán.
Bởi việc gián đoạn của đam mê được ngụ ý là
giống như các chi bị cắt rời chúng không bao giờ
có thể được dùng lại nữa.
Phật Gautam giống như đỉnh cao nhất của
Himalayas, giống như đỉnh Gourishankar... một trong
những con người thuần khiết nhất, một trong những
linh hồn trong trắng nhất, một trong những hiện tượng
rất hiếm hoi trên thế gian này. Sự hiếm hoi là ở chỗ
Phật là nhà khoa học của thế giới bên trong - nhà khoa
học của tôn giáo. Đó là việc tổ hợp hiếm hoi. Mang
tính tôn giáo là đơn giản, là nhà khoa học là đơn giản
- nhưng tổ hợp, tổng hợp hai cực này là điều không
thể nào tin được. Điều đó là không thể nào tin được,
nhưng nó đã xảy ra.
Phật là người giầu có nhất đã từng sống; giầu có
nhất theo nghĩa tất cả các chiều hướng của cuộc sống
đều được hoàn thành trong ông ấy. Ông ấy không
phải là người một chiều.
Có ba cách tiếp cận tới chân lí. Một là cách tiếp
cận của sức mạnh, cách tiếp cận khác là của cái đẹp,
và cách tiếp cận thứ ba là của sự vĩ đại.
Cách tiếp cận khoa học là việc tìm kiếm sức
mạnh; đó là lí do tại sao Huân tước Bacon đã nói 'tri
thức là sức mạnh'. Khoa học đã làm cho con người
thành rất mạnh, mạnh tới mức con người có thể phá
huỷ toàn thể hành tinh trái đất này. Lần đầu tiên trong
lịch sử tâm thức con người có khả năng tự tử toàn
cầu, tự tử tập thể. Khoa học đã thả ra sức mạnh khủng
khiếp. Khoa học vẫn tiếp tục tìm kiếm ngày một nhiều
sức mạnh. Điều này nữa cũng là cách tiếp cận hướng
tới chân lí, nhưng là cách tiếp cận bộ phận.
Thế rồi có những nhà thơ, nhà huyền môn, những
người có ý thức thẩm mĩ. Họ nhìn vào chân lí như cái
đẹp - Jalaluddin Rumi và Rabindranath Tagore và
những người khác, người cho rằng cái đẹp là chân lí.
Họ tạo ra nhiều nghệ thuật, họ tạo ra những ngọn
nguồn mới về cái đẹp trên thế giới. Hoạ sĩ, nhà thơ,
vũ công, nhạc sĩ, họ cũng tiếp cận tới chân lí từ một
chiều hướng hoàn toàn khác với sức mạnh.
Nhà thơ không giống như nhà khoa học. Nhà
khoa học làm việc với phân tích, lập luận, quan sát.
Nhà thơ vận hành qua trái tim - phi lí, tình yêu. Người
đó chẳng liên quan gì tới tâm trí và lập luận cả.
Phần lớn hơn của những người tôn giáo thuộc vào
chiều hướng thứ hai. Người Sufi, người Baul - họ tất
cả đều thuộc vào cách tiếp cận thẩm mĩ. Do đó mới có
nhiều nhà thờ Hồi giáo, nhiều nhà thờ, đền chùa đẹp
thế - Ajanta và Ellora - chúng đã được tạo ra bởi
những người tôn giáo. Bất kì khi nào hoạt động tôn
giáo chiếm ưu thế, nghệ thuật được tạo ra, âm nhạc
được tạo ra, những bức hoạ vĩ đại được tạo ra; thế
giới trở thành đẹp hơn lên chút ít. Nó không trở nên
mạnh hơn, nhưng nó trở nên đẹp hơn, đáng yêu hơn,
đáng sống hơn.
Cách tiếp cận thứ ba là cách tiếp cận của sự vĩ
đại. Các nhà sáng lập Kinh Thánh - Moses, Abraham;
nhà sáng lập Hồi giáo Mohammed; Krishna và Ram -
cách tiếp cận của họ là thông qua chiều hướng của sự
vĩ đại... niềm kính nể mà người ta cảm thấy khi nhìn
vào cái bao la của vũ trụ. Upanishad, Veda, chúng tất
cả đều tiếp cận tới thế giới, thế giới của chân lí, thông
qua sự vĩ đại. Chúng tràn đầy điều ngạc nhiên. Không
thể nào tin nổi ở đó, với sự vĩ đại như vậy, mà bạn
đơn giản có thể cúi mình trước nó - không cái gì khác
là có thể. Người ta đơn giản cảm thấy khiêm tốn, bị
qui về cái không.
Đây là ba chiều thông thường sẵn có để tiếp cận
tới chân lí. Chiều thứ nhất tạo ra nhà khoa học; chiều
thứ hai, nghệ sĩ; chiều thứ ba, các nhà tiên tri. Sự
hiếm hoi của Phật nằm ở chỗ này - rằng cách tiếp cận
của ông ấy là việc tổng hợp của tất cả ba, và không
chỉ là sự tổng hợp mà nó còn vượt ra ngoài cả ba.
Ông ấy là người duy lí. Ông ấy không giống như
Jesus và ông ấy không giống như Krishna - ông ấy là
người duy lí tuyệt đối. Einstein, Newton hay Edison
không thể tìm ra bất kì khuyết điểm nào trong lập luận
của ông ấy. Bất kì nhà khoa học nào cũng sẽ bị thuyết
phục về chân lí của ông ấy. Cách tiếp cận của ông ấy
thuần tuý logic, ông ấy thuyết phục tâm trí. Bạn
không thể tìm ra chỗ sơ hở trong ông ấy.
Ai đó đã gửi cho tôi một giai thoại hay về nhà vô
thần nổi tiếng, W. C. Fields. Ông ấy đi tua qua nước
Mĩ. Một hôm người quản lí của ông ấy vào phòng
khách sạn của ông ấy và bị sốc khi thấy ông ấy đọc
cuốn Kinh Thánh của Gideon.
'Bill!' ông ấy nói, 'ông đang làm cái chết tiệt gì
vậy? Tôi cứ tưởng ông là người vô thần.'
Fields đáp, 'Chỉ để tìm sơ hở thôi, chỉ để tìm sơ
hở mà.'
Nhưng bạn không thể tìm được chỗ sơ hở nào
trong Phật. Vâng, bạn có thể tìm chỗ sơ hở trong
Jesus, có nhiều đấy - bởi vì Jesus tin tưởng, tin cậy,
ông ấy có niềm tin. Ông ấy đơn giản giống như đứa
trẻ. Không có biện luận trong ông ấy. Chứng minh
mang tính tồn tại nhưng không có biện luận cho nó.
Toàn thể sự hiện hữu của ông ấy là chứng minh của
ông ấy.
Nhưng điều đó không phải như vậy đối với Phật.
Bạn có thể không trong hài hoà với trái tim ông ấy
chút nào, bạn có thể không tin vào ông ấy chút nào,
bạn có thể không nhìn vào bằng chứng ông ấy đang
hiện hữu, nhưng bạn sẽ phải nghe lí luận của ông ấy.
Ông ấy có cả bằng chứng và lí luận. Bản thân ông ấy
là bằng chứng cho điều ông ấy đang nói, nhưng điều
đó không phải là tất cả. Nếu bạn không sẵn sàng nhìn
vào ông ấy thì ông ấy có thể ép buộc bạn, ông ấy có
thể thuyết phục bạn; ông ấy là người duy lí.
Ngay cả người như Bertrand Russell, một người
vô thần, logic thuần túy, cũng đã nói, 'Trước Phật tôi
cảm thấy do dự. Với Jesus tôi có thể đấu lại được.'
Ông ấy đã viết một cuốn sách Sao tôi không là người
Ki tô giáo - một cuốn sách đầy tranh cãi. Nó vẫn chưa
được người Ki tô giáo đáp lại; luận cứ của ông ấy vẫn
đứng vững. Nhưng trước Phật ông ấy đột nhiên cảm
thấy do dự - bởi vì Phật có thể thuyết phục được ông
ấy trên nền tảng của riêng ông ấy. Phật cũng là nhà
phân tích như Bertrand Russell.
Bạn không cần là người tôn giáo để được Phật
thuyết phục, đó là sự hiếm hoi của ông ấy. Bạn không
cần tin chút nào. Bạn không cần tin vào thượng đế,
bạn không cần tin vào linh hồn, bạn không cần tin vào
cái gì cả - dầu vậy bạn vẫn có thể sống cùng Phật, và
dần dần bạn sẽ đi tới biết về linh hồn và về thượng đế
nữa. Nhưng đó không phải là các giả thuyết.
Không cần niềm tin để du hành cùng Phật. Bạn có
thể tới với tất cả mọi hoài nghi có thể. Ông ấy chấp
nhận, ông ấy đón chào, và ông ấy nói, 'Cứ tới với ta
đi.' Trước hết ông ấy thuyết phục tâm trí bạn, và một
khi tâm trí bạn bị thuyết phục và bạn bắt đầu đi cùng
ông ấy, dần dần bạn bắt đầu cảm thấy rằng ông ấy có
một thông điệp ở bên ngoài tâm trí, ông ấy có một
thông điệp mà không lí do nào có thể hạn chế được.
Nhưng trước hết ông ấy thuyết phục lí trí của bạn.
Tôn giáo của Phật là siêu lí trí, nhưng không
ngược lại lí trí. Điều này phải được hiểu từ ngay chính
ban đầu. Nó có cái gì đó liên quan tới cõi bên kia, siêu
lí trí, nhưng cái siêu lí trí đó không ngược lại lí trí. Nó
là hài hoà với lí trí. Lí trí và siêu lí trí là sự liên tục,
liên tục. Đây là sự hiếm hoi của Phật.
Krishna nói với Arjuna, 'Hãy buông xuôi theo ta.'
Phật không bao giờ nói điều đó. Ông ấy thuyết phục bạn buông xuôi.
Krishna nói, 'Hãy buông xuôi theo ta,
thế thì ông sẽ được thuyết phục. Ông không cần lo
nghĩ về nó, đừng nói về nó chút nào.'
Bởi vì cách tiếp cận lí trí này mà ông ấy không
bao giờ đem ra bất kì khái niệm nào mà không thể
được chứng minh. Ông ấy chưa bao giờ nói về thượng
đế. H. G. Wells đã nói về Phật, 'Ông ấy là người có
tính thượng đế nhất và là người có tính phi thượng đế
nhất trong toàn thể lịch sử con người.' Vâng, sự việc
là vậy đấy - thượng đế nhất và phi thượng đế nhất.
Bạn không thể tìm ra người nào có tính thượng đế
hơn Phật. Mọi cá tính khác đơn giản mờ đi trước ông
ấy. Sáng tỏ của ông ấy là tuyệt vời, con người ông ấy
là vô song, nhưng ông ấy không nói về thượng đế.
Bởi vì ông ấy không bao giờ nói về thượng đế,
nhiều người cứ tưởng rằng ông ấy là người vô thần -
ông ấy không phải vậy. Ông ấy không nói về thượng
đế bởi vì không có cách nào để nói về thượng đế. Mọi
việc nói về thượng đế đều vô nghĩa. Bất kì điều gì bạn
có thể nói về thượng đế cũng đều sẽ giả. Nó là cái gì
đó không thể được nói ra.
Các nhà tiên tri khác nói rằng không cái gì có thể
được nói về thượng đế, nhưng ít nhất họ nói nhiều về
điều này - rằng không cái gì có thể được nói về
thượng đế. Phật mới thực sự là logic, ông ấy thậm chí
sẽ không nói tới điều này, bởi vì ông ấy nói, 'Ngay cả
việc nói rằng không cái gì có thể được nói về thượng
đế, thì ông đã nói cái gì đó rồi. Nếu ông nói, "Thượng
đế không thể được định nghĩa," thì ông đã định nghĩa
ông ấy theo cách phủ định rồi - rằng ông ấy không thể
được định nghĩa. Nếu ông nói, "Không cái gì có thể
được nói," điều đó nữa ông lại đang nói đấy.' Phật là
cực kì logic. Ông ấy sẽ không thốt ra một lời nào đâu.
Ludwig Wittgenstein, một trong những nhà tư
tưởng vĩ đại nhất của thời đại này, đã nói, 'Cái mà
không thể được nói ra thì phải không được nói ra. Cái
mà không thể được nói ra người ta phải im lặng từ
đó.' Bởi vì thốt ra cái gì đó về cái gì đó mà không thể
thốt ra được là báng bổ.
Phật không phải là người vô thần nhưng ông ấy
không bao giờ nói về thượng đế cả. Đó là lí do tại sao
tôi nói ông ấy là hiếm hoi. Ông ấy đưa nhiều người
tới thượng đế - ông ấy đã đưa nhiều người hơn bất kì
ai khác đã làm. Hàng triệu người đã được đưa tới trở
nên mang tính thượng đế trong sự hiện diện của ông
ấy, nhưng ông ấy chưa bao giờ thốt ra lời nào. Không
chỉ về thượng đế, mà còn về linh hồn, cái ta - ông ấy
không có lí thuyết về nó. Ông ấy đơn giản nói, 'Ta có
thể chỉ ra cho ông con đường, cách đi vào trong. Ông
đi và nhìn xem.' Ông ấy nói, 'Chư Phật chỉ có thể chỉ
ra con đường, họ không thể cung cấp cho ông triết lí
được. Ông ở đó, đi vào trong và nhìn đi.'
Một người tới Phật. Người đó là một học giả lớn,
một loại giáo sư, đã viết nhiều sách, nổi tiếng khắp
toàn quốc. Tên ông ấy là Maulingaputta. Ông ấy nói
với Phật, 'Tôi đã tới với hàng chục câu hỏi và thầy
phải trả lời chúng.'
Phật nói, 'Ta sẽ trả lời, nhưng ông sẽ phải hoàn
thành một yêu cầu. Trong một năm ông sẽ phải ở
cùng ta trong im lặng toàn bộ, thế rồi ta sẽ trả lời -
không trước điều đó đâu. Ngay bây giờ ta có thể trả
lời nhưng ông sẽ không nhận được câu trả lời bởi vì ông còn chưa sẵn
sàng, và bất kì điều gì ta nói ông sẽ
diễn giải sai bởi vì ông có quá nhiều diễn giải chen
chúc trong đầu ông. Bất kì điều gì ta nói cũng sẽ
truyền qua tâm trí ông. Trong một năm ông chỉ im
lặng thôi để cho ông có thể vứt bỏ tri thức đi. Khi ông
trống rỗng, bất kì điều gì ông muốn hỏi ta sẽ trả lời, ta
hứa đấy.'
Khi ông ấy đang nói điều này, một đệ tử khác của
Phật, Sariputta, ngồi dưới một gốc cây, bắt đầu cười -
cười ha hả. Maulingaputta phải đã cảm thấy lúng
túng. Ông ấy nói, 'Có chuyện gì vậy? Sao ông cười?'
Ông ấy nói, 'Tôi không cười ông đâu, tôi cười tôi
đấy. Một năm đã trôi qua. Người này cũng đã lừa tôi.
Tôi đã tới với nhiều câu hỏi và ông ấy nói, "Đợi một
năm đã," và tôi đã đợi. Bây giờ tôi cười bởi vì những
câu hỏi đó đã biến mất rồi. Ông ấy cứ đòi, "Bây giờ
đưa các câu hỏi đó ra đi!" nhưng tôi không thể đưa
những câu hỏi đó ra được. Chúng đã biến mất rồi.
Cho nên, Maulingaputta, nếu ông thực sự muốn câu
hỏi của mình được trả lời, hỏi ngay bây giờ đi, đừng
đợi một năm nữa. Người này đang lừa đấy.'
Phật đã đưa nhiều người, hàng triệu người, tới thế
giới bên trong, nhưng theo cách rất lí trí. Điều này là
đơn giản - rằng trước hết bạn phải trở thành người
nhận, trước hết bạn phải đạt tới im lặng, thế thì giao
cảm mới có thể, không trước điều đó.
Phật chưa bao giờ trả lời bất kì câu hỏi siêu hình
nào. Ông ấy bao giờ cũng sẵn sàng trả lời bất kì câu
hỏi nào về phương pháp, nhưng ông ấy không bao giờ
sẵn sàng trả lời bất kì câu hỏi nào về siêu hình. Đây là
cách tiếp cận khoa học của ông ấy. Khoa học tin vào
phương pháp. Khoa học không bao giờ trả lời 'tại sao',
nó bao giờ cũng trả lời 'làm sao'.
Nếu bạn là nhà khoa học, 'Tại sao thế giới lại có
đó?' ông ấy sẽ nói, 'Tôi không biết - nhưng tôi có thể
trả lời làm sao thế giới lại có đó.' Nếu bạn hỏi ông ấy,
'Tại sao lại có nước?' ông ấy không thể trả lời được,
ông ấy sẽ chỉ nhún vai. Nhưng ông ấy có thể nói làm
sao mà nước có đó; bao nhiêu ô xi, bao nhiêu hidro
làm cho nước xảy ra. Ông ấy có thể cho bạn phương
pháp, cái 'làm sao', cơ chế. Ông ấy có thể chỉ cho bạn
cách làm ra nước, nhưng ông ấy không thể chỉ cho
bạn tại sao.
Phật không bao giờ hỏi bất kì câu hỏi 'tại sao' nào,
nhưng điều đó không có nghĩa là ông ấy là người vô
thần. Cách tiếp cận của ông ấy rất khác với những
người vô thần khác. Người hữu thần yêu cầu bạn tin,
phải có niềm tin, phải tin cậy. Phật nói, 'Làm sao
người ta có thể tin được? Ông đang đòi hỏi điều
không thể được.' Nghe lí lẽ của ông ấy.
Ông ấy nói nếu ai đó hoài nghi, làm sao người đó
có thể tin được? Nếu hoài nghi đã phát sinh, làm sao
người đó có thể tin được? Người đó có thể kìm nén
hoài nghi, người đó có thể ép buộc tin tưởng, nhưng
sâu bên dưới giống như con sâu, hoài nghi sẽ cứ ẩn
nấp và gậm nhấm trái tim bạn. Chẳng chóng thì chầy
niềm tin nhất định sụp đổ, bởi vì nó vô căn cứ; không
có nền móng cho nó. Trong nền tảng có hoài nghi, và
trên nền tảng của hoài nghi bạn đã dựng nên toàn thể
cấu trúc cho niềm tin của mình. Bạn có quan sát điều đó không? Bất kì
khi nào bạn tin, sâu bên dưới đều có
hoài nghi. Đây là kiểu tin tưởng gì vậy?
Phật nói nếu không có hoài nghi thế thì không có
vấn đề tin tưởng. Thế thì người ta đơn giản tin. Không
có nhu cầu cho bất kì Krishna nào nói, 'Hãy buông
xuôi, hãy tin tưởng' - không có vấn đề. Nếu Arjuna có
niềm tin, thì anh ta có; nếu anh ta không có, thì không
có cách nào đem lại nó. Thế thì nhiều nhất Arjuna có
thể chơi trò trình diễn, giả vờ rằng mình tin. Nhưng
tin tưởng không thể bị ép buộc.
Với những người có niềm tin tự nhiên, tự phát,
không có vấn đề về niềm tin - họ đơn giản tin. Họ
không biết ngay cả tin tưởng là gì. Trẻ nhỏ, chúng
đơn giản tin. Nhưng một khi hoài nghi đi vào, tin
tưởng trở thành không thể được. Và hoài nghi phải đi
vào; nó là một phần của trưởng thành. Hoài nghi làm
cho người ta trưởng thành.
Bạn vẫn còn trẻ con chừng nào hoài nghi còn
chưa thấm vào linh hồn bạn. Chừng nào ngọn lửa của
hoài nghi còn chưa bắt đầu đốt cháy bạn, bạn vẫn còn
chưa chín chắn, bạn không biết cuộc sống là gì. Bạn
bắt đầu biết cuộc sống chỉ bằng cách hoài nghi, bằng
việc ngần ngại, bằng việc nêu ra câu hỏi.
Phật nói niềm tin tới, nhưng không chống lại hoài
nghi, không như tin tưởng. Niềm tin tới qua việc phá
huỷ hoài nghi bằng lí trí, qua việc phá huỷ hoài nghi
bằng nhiều hoài nghi hơn, bằng việc khử bỏ bản thân
hoài nghi. Chất độc chỉ có thể bị phá huỷ bởi chất độc
- đó là phương pháp của Phật. Ông ấy không nói tin
tưởng. Ông ấy nói đi sâu vào trong hoài nghi của bạn,
đi tới tận cùng, không sợ hãi: Đừng kìm nén. Đi toàn
thể con đường của hoài nghi tới tận cùng.
Và chính cuộc hành trình đó sẽ đem bạn đi ra
ngoài nó. Bởi vì một khoảnh khắc tới khi hoài nghi
bắt đầu hoài nghi bản thân nó. Đó là hoài nghi tối
thượng - khi hoài nghi hoài nghi bản thân hoài nghi.
Điều đó phải tới nếu bạn đi tới tận cùng. Trước hết
bạn hoài nghi việc tin tưởng, bạn hoài nghi cái này cái
nọ. Một ngày nào đó khi mọi thứ đã bị hoài nghi,
bỗng nhiên một cái mới, hoài nghi tối thượng nảy sinh
- bạn bắt đầu hoài nghi sự hoài nghi.
Điều này là cực kì mới trong thế giới tôn giáo. Và
thế thì hoài nghi giết chết hoài nghi, hoài nghi phá
huỷ hoài nghi, và niềm tin được thu lại. Niềm tin này
không chống lại hoài nghi, niềm tin này ở bên ngoài
hoài nghi. Niềm tin này không đối lập với hoài nghi,
niềm tin này là thiếu vắng hoài nghi.
Phật nói bạn sẽ phải trở thành trẻ con lần nữa,
nhưng con đường phải đi qua thế giới này, đi qua
nhiều rừng rậm của hoài nghi, biện luận, lí luận. Và
khi một người trở về nhà, lại đạt tới niềm tin nguyên
thuỷ của mình, điều đó là hoàn toàn khác. Người đó
không chỉ là đứa trẻ, người đó là người già... trưởng
thành, có kinh nghiệm, vậy mà vẫn giống như đứa trẻ.
Kinh này, Kinh Bốn mươi hai chương, chưa bao
giờ tồn tại ở Ấn Độ. Nó chưa bao giờ tồn tại trong
tiếng Phạn hay tiếng Pali. Lời kinh này chỉ tồn tại ở
Trung Quốc.
Một vị vua Minh nào đó của triều đại nhà Hán,
vào năm 67 trước công nguyên, đã mời các bậc thầy
Phật giáo tới Trung Quốc để đem thông điệp của Phật
tới đó. Không ai biết tên của các bậc thầy Phật giáo
đó, nhưng một nhóm đã tới Trung Quốc. Và hoàng đế
muốn có một hợp tuyển nhỏ những lời Phật xem như
phần giới thiệu đầu tiên cho người Trung Quốc.
Kinh Phật thì rất lớn, sách vở Phật giáo bản thân
nó đã là một thế giới rồi - hàng nghìn kinh sách tồn tại
và chúng đi vào rất chi tiết, bởi vì Phật tin vào phân
tích logic. Ông ấy cứ đi tới chính tận cùng của mọi
điều. Phân tích của ông ấy thật là sâu sắc và hoàn hảo,
cho nên ông ấy đi vào chính những chi tiết sâu.
Điều đó là rất khó. Phải dịch cái gì cho một đất
nước hoàn toàn mới, nơi chẳng có gì giống như Phật
đã từng tồn tại? Cho nên các bậc thầy Phật giáo này
đã soạn ra một hợp tuyển nhỏ gồm bốn mươi hai
chương. Họ đã thu thập những lời nói từ đây đó, từ
kinh sách này nọ, từ buổi thuyết giảng này kia.
Cuốn sách này đã được soạn ra theo kiểu cách văn
tuyển nho giáo bởi vì nó sẽ được giới thiệu cho đất
nước của Khổng Tử - những người đã trở nên rất quen
thuộc với cách Khổng Tử nói, với cách kinh sách nho
giáo đã được làm ra và biên soạn ra. Mọi người đều
quen thuộc với Khổng Tử, cho nên đích xác trên cùng
những dòng đó các bậc thầy Phật giáo đã soạn ra kinh
này. Văn tuyển nho giáo bắt đầu mọi câu, mọi đoạn
bằng cụm từ 'Thầy nói...' Lời kinh này bắt đầu theo
cách tương tự - 'Phật nói...' Mọi lời nói đều bắt đầu
bằng 'Phật nói...'
Từ đầu thế kỉ này các học giả đã quen nghĩ rằng
bản gốc phải đã tồn tại trong tiếng Phạn hay Pali, thế
rồi nó thất truyền, bị thất lạc, và lời kinh này trong
tiếng Trung Quốc là bản dịch. Điều đó tuyệt đối sai.
Lời kinh này chưa bao giờ tồn tại ở Ấn Độ cả. Như nó
thế, thì nó chưa bao giờ tồn tại cả. Tất nhiên, từng lời
đều bắt nguồn từ Phật, nhưng toàn thể công trình là
công trình mới, văn tuyển mới. Cho nên bạn phải ghi
nhớ điều đó.
Và đó là lí do tại sao tôi đã chọn nó như phần giới
thiệu đầu tiên cho bạn vào thế giới của Phật. Nó rất
đơn giản. Nó chứa tất cả theo một cách rất đơn giản.
Nó rất trực tiếp. Nó về bản chất là toàn thể thông điệp
này, nhưng rất ngắn, không dài dòng và lê thê như các
kinh Phật khác dài thế.
Phật nói:
Tự do khỏi đam mê và được bình thản, đây là con
đường tuyệt diệu nhất.
Ông ấy bao giờ cũng nói về con đường, không
bao giờ nói về mục đích. Bởi vì ông ấy nói, 'Nói gì về
mục đích đây? Thật vô tích sự mà nói về nó. Nếu ông
biết, thì ông biết. Nếu ông không biết, chẳng có cách
nào để biết về nó trước khi ông đạt tới nó.'
Ông ấy chỉ nói về con đường. Ông ấy thậm chí
không nói một lời về mục đích - thượng đế, Brahma,
chân lí, cái tuyệt đối, vương quốc của thượng đế.
Không, ông ấy chẳng có lời nào về mục đích cả. Mọi
điều ông ấy nói đều là về con đường.
Tự do khỏi đam mê và được bình thản, đây là con
đường tuyệt diệu nhất.
Trong một câu đơn giản này toàn thể giáo huấn
của ông ấy đều hiện diện. Tự do khỏi đam mê và được
bình thản... Đây là hai khía cạnh của một hiện tượng,
hai mặt của một đồng tiền - tự do khỏi đam mê và
được bình thản. Bạn không thể bình thản nếu bạn
không tự do khỏi đam mê, và bạn không thể tự do với
đam mê nếu bạn không bình thản. Chúng cả hai đi
cùng nhau và người ta phải làm việc vì cả hai cùng
nhau.
Sao con người căng thẳng thế? Sao lại có nhiều lo
âu và khổ sở thế? Sao con người không bình thản,
bình tĩnh và định tâm? Biết bao nhiêu đam mê cứ kéo
bạn hết đường nọ tới đường kia, đẩy bạn theo lối này
lối nọ. Bạn bị kéo theo nhiều hướng, do đó bạn trở
thành phân mảnh, bạn trở nên bị phân chia, bạn trở
thành bị chia chẻ. Bạn làm mất trung tâm của mình.
Bạn quên mất hoàn toàn mình là ai.
Quan sát đi. Khi bạn tham tiền, bạn là ai? Bạn chỉ
là sự tham tiền chứ không là gì khác. Khi bạn giận dữ,
bản ngã bạn bị tổn thương, bạn là ai? Bạn chỉ là sự
giận dữ, bản ngã bị tổn thương, không gì khác. Khi
bạn đầy những đam mê dục, bạn là ai? Bạn chỉ là dâm
dục, không gì khác - dục tình. Khi bạn tham vọng và
bạn muốn quyền lực, danh vọng, kính trọng, bạn là
ai? Bạn đơn giản là tham vọng và không gì khác.
Quan sát, và bạn sẽ thấy nhiều đam mê trong
mình, nhưng bạn sẽ không thấy mình là ai cả - tất cả
các đam mê đều kéo bạn ra xa, và từng đam mê đi
theo cách riêng của nó. Nếu bạn muốn tiền, bạn sẽ
phải hi sinh các đam mê khác vì nó. Người điên vì
tiền có thể quên mất tất cả về dục. Rất dễ dàng để kẻ
keo kiệt là người độc thân. Thực tế, độc thân có thể là
một loại tính keo kiệt. Bạn không muốn chia sẻ năng
lượng dục của mình, bạn không muốn chia sẻ năng
lượng dục của mình với bất kì ai. Bạn là kẻ keo kiệt.
Người có tham vọng chính trị có thể trở thành độc
thân rất dễ dàng bởi vì toàn thể đam mê của người đó
lái người đó đi theo một đường. Nhà khoa học quá mê
mải với việc nghiên cứu có thể quên mất tất cả về đàn
bà. Điều đó là dễ dàng. Nếu một đam mê chiếm lĩnh
bạn hoàn toàn thì bạn có thể quên mọi thứ khác.
Một sự kiện ai cũng biết là các nhà khoa học là
người rất đãng trí. Toàn thể tâm trí của họ đi vào theo
một hướng, nhưng thế rồi họ trở thành rất, rất nghèo
nàn nữa. Lĩnh vực của họ, tầm nhìn của họ cứ trở nên
ngày một hẹp dần lại, hẹp nữa. Đó là điều đặc biệt
hoá nghĩa là gì. Người tham lam trở nên hẹp hơn và
hẹp hơn và hẹp hơn nữa. Người đó nghĩ, suy ngẫm,
chỉ về tiền; người đó cứ đếm tiền. Toàn thể tâm trí của
người đó chỉ biết mỗi một âm nhạc và đó là âm nhạc
của tiền; chỉ một tình yêu, và đó là tình yêu tiền.
Theo một cách nào đó, những người bị đam mê
chiếm lĩnh là trên con đường được hoà nhập. Họ
không giầu có, họ không có nhiều chiều cho bản thể
mình, họ chỉ có một mùi vị - nhưng họ có hoà nhập
nào đó. Họ không chia chẻ. Bạn sẽ không tìm thấy
kiểu người này bị điên, bởi vì họ điên theo một chiều,
cho nên họ không bị chia chẻ. Nhưng điều này hiếm khi xảy ra. Bình
thường người ta chạy theo tất cả các
chiều.
Tôi đã nghe:
Một nhà khoa học và một con khỉ đột được phái
ra ngoài không gian cùng nhau. Được đính ngay phía
trước bộ quần áo không gian của con khỉ đột là một
phong bì với những chỉ dẫn đặc biệt trong đó. Quá tò
mò, nhà khoa học đợi cho tới khi con khỉ đột ngủ để
cho ông ta có thể lén xem trộm trong phong bì.
Rất cẩn thận ông ta bóc phong bì ra và thấy lộ ra
một mẩu giấy bên trong. Trên tờ giấy đó có in dòng
sau: Đừng quên cho nhà khoa học ăn.
Nhà khoa học trở thành một điểm; cuộc đời ông ta
là điểm tập trung đó. Người tập trung đạt tới một loại
thống nhất giả tạo. Bình thường mọi người không tập
trung. Thiền còn xa xăm lắm - họ thậm chí còn chưa
tập trung được. Toàn thể cuộc sống của họ là mớ hỗn
độn, đống lộn xộn. Một tay họ đi lên hướng bắc, một
chân họ đi sang hướng nam, một mắt họ quay sang
hướng đông, mắt kia quay sang hướng tây. Họ cứ đi
theo mọi hướng. Việc kéo và đẩy này của nhiều
hướng đem họ đi xa. Họ trở thành phân mảnh, họ mất
đi tính toàn thể. Làm sao bạn có thể im lặng được,
làm sao bạn có thể bình thản được?
Người tập trung cũng không thể bình thản được,
bởi vì cuộc sống của người đó không cân xứng.
Người đó chỉ đi theo một hướng; tất cả các phía khác
của cuộc sống người đó bị bỏ đói. Nhà khoa học
không bao giờ biết tới cái đẹp là gì, tình yêu là gì.
Người đó không biết thơ ca là gì. Người đó quá bị hạn
chế vào thế giới toán học của mình. Người đó trở nên
thiên lệch. Nhiều phần của người đó bị bỏ đói, bị đói.
Người đó không thể bình thản được. Khi bạn bị đói,
làm sao bạn có thể bình thản được?
Người đang đi theo mọi hướng hầu như không có
sự phong phú hơn chuyên gia, nhưng sự phong phú
của người đó có sự phân liệt trong nó; người đó trở
nên chia chẻ. Làm sao bạn có thể im lặng và bình thản
khi biết bao nhiêu người là thầy bạn, cứ kéo bạn đi
theo các hướng khác nhau?
Bình thường đây là hai kiểu người, và cả hai đều
không thoải mái, ở sâu trong rối loạn.
Phật nói:
Tự do khỏi đam mê và được bình thản, đây là con
đường tuyệt diệu nhất.
Con đường của ông ấy là gì?
Những người đã bỏ lại cha mẹ mình, đi ra khỏi
nhà, hiểu tâm trí, đạt tới cội nguồn, và hiểu thấu
cái phi vật chất, được gọi là Sa môn (shramana).
Thế giới này phải được hiểu, đây là điều rất cơ
bản - shramana - Sa môn. Ở Ấn Độ tồn tại hai con
đường. Một con đường, con đường của brahmin (bà la
môn); con đường kia, con đường của shraman (sa
môn). Con đường của brahmin là con đường của ân
huệ. Người brahmin tin rằng bằng nỗ lực riêng của mình bạn không thể
đạt tới được. Nỗ lực của bạn nhỏ
bé thế, bạn tí hon thế. Làm sao bạn có thể quan niệm
được việc biết chân lí chỉ bằng nỗ lực riêng của mình?
Giúp đỡ của Thượng đế sẽ cần phải có chứ, ân huệ sẽ
cần phải có chứ.
Con đường của brahmin là con đường của ân huệ,
cho nên bạn phải cầu nguyện. Chỉ khi thượng đế giúp
đỡ thì bạn mới có thể đi được trên con đường này.
Chừng nào ngài còn chưa sẵn lòng, bạn không thể đạt
tới được. Không có khả năng nào cho bạn đi một
mình cả. Thượng đế là cần thiết, giúp đỡ của ngài là
cần thiết, bàn tay của ngài là cần thiết. Chừng nào
ngài còn chưa đưa bạn lên trên thế giới này, bạn sẽ
còn phải vật lộn vô vọng. Cho nên cầu nguyện là con
đường. Người brahmin tin vào lời cầu nguyện.
Sa môn (shramana) chính là điều đối lập hẳn lại.
Từ 'shramana' bắt nguồn từ gốc 'shram'. Shram nghĩa
là sử dụng bản thân mình, là làm nỗ lực. Shram nghĩa
là nỗ lực. Không có khả năng của ân huệ nào, bởi vì
Phật chưa bao giờ nói về thượng đế cả. Phật nói, bạn
không biết thượng đế - làm sao bạn có thể cầu nguyện
được? Bạn sẽ cầu nguyện ai? Lời cầu nguyện của bạn
sẽ là trong dốt nát sâu sắc. Làm sao bạn có thể cầu
nguyện với một thượng đế mà bạn không biết, bạn
chưa bao giờ nhìn thấy? Cái kiểu trao đổi nào là có
thể được đây? Bạn sẽ chỉ nói với trời, bầu trời trống
rỗng. Bạn có thể chỉ nói với chính mình thôi. Đấy là
điên.
Bạn đã từng thấy người điên lảm nhảm nói với
chính mình chưa - ngồi một mình nói với ai đó? Họ
đang nói với ai đó, nhưng mọi người đều biết rằng
chẳng có ai khác cả. Họ đang nói cho chính họ.
Với cách tiếp cận duy lí của Phật, người cầu
nguyện thượng đế là điên, là gàn dở. Bạn đang làm
gì? Bạn có biết thượng đế tồn tại không? Nếu bạn biết
thế thì không có nhu cầu cầu nguyện. Bạn nói rằng để
biết thượng đế, bạn cầu nguyện. Người brahmin nói,
'Chúng ta có thể biết thượng đế chỉ bằng lời cầu
nguyện, bằng giúp đỡ của ngài, bằng ân huệ của ngài.'
Bây giờ đây là điều ngớ ngấn, ngớ ngẩn về logic.
Bạn đi lòng vòng. Bạn nói, 'Chúng ta có thể biết
thượng đế chỉ bằng lời cầu nguyện.' Thế thì bạn có thể
cầu nguyện thế nào? - bởi vì bạn có biết thượng đế
đâu. Và bạn nói, 'Chỉ bằng lời cầu nguyện chúng ta
mới có khả năng đạt tới ân huệ của ngài.' Đây là cái
vòng luẩn quẩn, đây là phi logic. Thiếu sót là rất rõ
ràng, sơ hở là hiển nhiên.
Đây là vấn đề với người tôn giáo thông thường -
người đó không thể tranh biện được. Người vô thần
có thể phá huỷ toàn thể luận cứ của bạn trong một tích
tắc. Người tôn giáo né tránh biện luận, bởi vì họ biết
họ không có cơ sở nào để mà tranh biện cả.
Bạn nói, 'Chúng ta đang tìm kiếm thượng đế,' và
thế rồi đồng thời bạn nói, 'Chỉ bằng lời cầu nguyện
chúng ta mới có khả năng đạt tới ngài.' Bạn còn chưa
biết cơ mà - lời cầu nguyện là không thể được. Và nếu
bạn biết ngài, lời cầu nguyện là không cần thiết.
Phật nói chỉ bằng nỗ lực riêng của mình, bằng
shrama riêng của bạn, bạn mới đạt tới ông ấy. Không
có vấn đề ân huệ gì cả. Theo một đằng điều đó là rất nghiệt ngã, theo
đằng khác điều đó lại dường như rất,
rất khoa học.
Bạn một mình ở đây, bị lạc trong khu rừng thế
giới này, và ngồi dưới gốc cây bạn đang cầu nguyện,
chẳng biết mình cầu nguyện tới ai, thượng đế ở đâu,
liệu có ngài hay không. Bạn có thể lãng phí thời gian
của mình. Nếu không có thượng đế, thì...? Mọi thời
gian mà bạn phí hoài cho lời cầu nguyện có thể đã
được dùng để tìm kiếm, để phát hiện ra.
Phật nói một khi bạn hiểu rằng bạn bị lạc và bạn
phải tìm cho ra con đường riêng của mình và không
có sự giúp đỡ nào tới cả, bạn mới trở nên có trách
nhiệm. Lời cầu nguyện là mang tính vô trách nhiệm.
Cầu nguyện chỉ để né tránh. Cầu nguyện là để lười
biếng. Cầu nguyện chỉ là trốn chạy.
Phật nói nỗ lực là cần thiết. Và cầu nguyện cũng
là sỉ nhục. Cho nên trong cấu trúc Phật giáo không có
gì như lời cầu nguyện cả, chỉ có thiền. Bạn có thể
thiền, bạn không thể cầu nguyện.
Đây là khác biệt giữa thiền và lời cầu nguyện. Lời
cầu nguyện cần tin tưởng vào thượng đế, thiền không
cần tin tưởng. Thiền mang tính khoa học thuần khiết.
Nó đơn giản nói rằng có những trạng thái của tâm trí
khi suy nghĩ dừng lại. Nó đơn giản nói có những cách
thức dừng suy nghĩ lại, vứt bỏ suy nghĩ và đi tới trạng
thái im lặng của tâm trí... trạng thái bình lặng, thanh
thản của tâm trí. Và trạng thái đó của tâm trí cho bạn
chân lí là gì, cho bạn thoáng nhìn, mở ra cánh cửa -
nhưng nó chỉ là do nỗ lực của riêng bạn thôi.
Người ta phải một mình và phải làm việc cần
mẫn, và nếu bạn bỏ lỡ, chỉ bạn phải chịu trách nhiệm.
Nếu bạn không đạt tới, bạn không thể trách được bất
kì ai bởi vì không có ai để trách cả.
Con đường của Phật là con đường của sa môn -
shramana - người tin vào nỗ lực riêng của mình. Điều
đó có vẻ rất khắc khổ, gian nan. Người ta bắt đầu cảm
thấy sợ. Trong nỗi sợ của mình chúng ta cần tới sự
giúp đỡ của ai đó. Ngay cả tin tưởng rằng ở đâu đó
thượng đế nào đó tồn tại cũng cho chúng ta sự giảm
nhẹ rồi.
Tôi đã nghe:
Một hành khách say sóng nằm bơ phờ trên chiếc
ghế dài ngáng đường đi qua của chiêu đãi viên. Trỏ ra
nơi xa xăm, ông ta nói, 'Xa kia - đất liền đấy phải
không?'
'Dạ thưa ngài không phải ạ,' chiêu đãi viên đáp.
'Đấy là đường chân trời.'
'Không sao,' hành khách thở dài, 'thế còn tốt hơn
là không có gì.'
Nhưng đường chân trời là cái không. Làm sao nó
có thể tốt hơn cái không được? Nó chỉ có vẻ, nó
không có đó. Chẳng cái gì tồn tại giống như đường
chân trời; đường chân trời chỉ là ảo tưởng. Nhưng
điều đó nữa, với hành khách đang say sóng này, vẫn
dường như là tốt. Ít nhất cũng có cái gì đó - tốt hơn là
không có gì.
Tin tưởng, với Phật, cũng giống như đường chân
trời vậy. Các thượng đế của bạn giống như các đường
chân trời, ảo cảnh. Bạn tin vào thượng đế bởi vì bạn
cảm thấy có một mình. Bạn không biết thượng đế có
thực không; bạn tạo ra thượng đế bởi vì bạn cần họ.
Nhưng nhu cầu của bạn không thể là sự đảm bảo cho
chân lí của thượng đế. Nhu cầu của bạn không thể là
sự đảm bảo cho thực tại của thượng đế.
Bạn đang trong đêm tối khi đi qua khu rừng rậm.
Bạn có một mình thôi. Nhu cầu của bạn là có người
bạn đồng hành. Bạn có thể tưởng tượng ra người bạn
đồng hành, bạn có thể bắt đầu nói chuyện với người
bạn đồng hành, bạn thậm chí có thể bắt đầu trả lời cho
người bạn đồng hành. Điều đó sẽ cho bạn ảo tưởng
rằng ai đó đang có đấy. Bạn có thể tin vào người bạn
đồng hành này, bạn có thể hoàn toàn bị thôi miên bởi
điều đó, nhưng điều đó không có nghĩa là bạn có thể
tạo ra người bạn đồng hành.
Mọi người bắt đầu huýt sáo khi họ một mình. Đi
qua trong đêm tối, họ bắt đầu huýt sáo. Điều đó giúp
đỡ, thế còn tốt hơn là không có gì. Bạn nghe tiếng
động riêng của mình và điều đó cho bạn ý tưởng rằng
có ai đó khác. Mọi người cũng bắt đầu hát. Nghe
tiếng nói riêng của mình cho cảm giác rằng có ai đó
khác nữa. Bởi vì bạn bao giờ cũng nghe người khác
nói. Chính âm thanh bạn có thể nghe thấy cho bạn
cảm giác rằng người khác phải có đó.
Nhưng Phật nói rằng chỉ bởi vì bạn cần thôi, thực
tại không có sự cần thiết nào để hoàn thành điều đó.
Thực tại không thay đổi bởi nhu cầu của bạn. Nhu cầu
của bạn là thực - rằng bạn một mình và bạn muốn có
hình ảnh người cha trên trời, thượng đế. Đó là lí do tại
sao người Ki tô giáo lại gọi thượng đế là 'cha'; đó là
hình ảnh người cha.
Các nhà tâm lí sẽ đồng ý với Phật. Các nhà tâm lí
nói rằng thượng đế chỉ là nhu cầu về hình ảnh người
cha mà thôi. Mọi đứa trẻ nhỏ đều có một người cha -
mang tính bảo vệ, cho an ninh. Người ta cảm thấy
tuyệt đối yên tâm bởi vì người cha có đó. Thế rồi bạn
lớn lên, thế rồi bạn trở nên trưởng thành. Thế rồi cha
bạn không còn là sự bảo vệ nữa. Thế rồi bạn biết rằng
cha bạn cũng yếu đuối như bạn thôi. Thế rồi bạn biết
cha bạn cũng bị giới hạn như bạn. Và dần dần bạn
thấy cha mình mỗi ngày trở nên yếu hơn, trở nên già
đi.
Tin cậy của bạn bị mất đi, nhưng nhu cầu thì vẫn
còn. Bạn cần hình ảnh người cha nào đó. Bạn muốn
có chỗ nào đó để đi tới và nói với cha bạn, người
không còn nữa. Bị lạc, bạn tạo ra thượng đế, bạn tạo
ra người cha, hay bạn tạo ra người mẹ - gọi đó là Kali,
Amba... nhưng bạn tạo ra hình ảnh người cha hay
người mẹ. Đó là nhu cầu của bạn, chắc chắn - nhu cầu
tâm lí - nhưng nhu cầu này giữ bạn không trưởng
thành.
Phật là tất cả cho sự trưởng thành. Ông ấy nói vứt
tuốt những hình ảnh này đi, chúng không tồn tại đâu,
và cho dù chúng có tồn tại thì đây cũng không phải là
con đường để tìm họ. Con đường là trở nên bình thản
và yên tĩnh. Con đường là trở thành một mình và chấp
nhận sự một mình của mình tới mức không có nhu
cầu về ân huệ của bất kì ai. Trở nên im lặng và một
mình tới mức bạn được tràn đầy bên trong cái ta riêng của mình, tới
mức bạn là đủ cho chính mình. Thế thì
bạn sẽ bình thản. Thế thì ân huệ sẽ bắt đầu xảy ra cho
bạn, nhưng nó không phải là ân huệ tới từ thượng đế.
Nó là ân huệ lan toả từ trung tâm riêng của bạn hướng
tới ngoại vi riêng của bạn. Bạn sẽ trở thành mang ân
huệ.
Phật ngồi, đứng, đi, chính là ân huệ được nhân vật
hoá. Nhưng ân huệ này không tới từ đâu khác; nó
đang nổi lên từ chiều sâu bên trong nhất của riêng ông
ấy, nó nổi tăm lên từ trung tâm riêng của ông ấy. Nó
giống như hoa đã nở ra trên cây - nó đã bắt nguồn từ
cây. Nó không phải là món quà từ ai đó khác, nó là sự
trưởng thành.
Đây là khác biệt giữa con đường của brahmin và
con đường của sa môn. Trên con đường của brahmin,
chân lí là món quà, món quà của thượng đế. Trên con
đường của sa môn, chân lí là sự trưởng thành xảy ra
cho bạn từ bản thể riêng của mình. Nó là của bạn.
Chân lí không phải là cái gì bên ngoài để mà được
phát hiện ra, nó là cái gì đó bên trong cần được nhận
ra.
Những người đã bỏ lại cha mẹ mình, đi ra khỏi
nhà, hiểu tâm trí, đạt tới cội nguồn, và hiểu thấu
cái phi vật chất, được gọi là sa môn (shramana).
Bây giờ, định nghĩa về sa môn. Ai được gọi là sa
môn? Ai thực sự là người tìm kiếm chân lí? Ai là
người đang nỗ lực thực, nỗ lực đích thực để phát hiện
ra chân lí là gì? Điều thứ nhất - họ bỏ lại cha mẹ
mình.
Bây giờ điều này rất mang tính biểu tượng, đừng
hiểu nó theo từng chữ. Nó rất biểu tượng và rất tâm lí.
Đứa trẻ phải ở trong bụng mẹ chín tháng... được bảo
vệ hoàn toàn, trong bầu không khí ấm áp tươi đẹp đến
mức chưa bao giờ nó sẽ có khả năng tìm lại được sự
thuận tiện như thế nữa. Không lo lắng, không trách
nhiệm gì - ngay cả để thở. Bản thân nó không cần thở,
người mẹ thở cho nó. Nó không có lo lắng rằng nó sẽ
bị đói hay bị bỏ đói; người mẹ cứ nuôi dưỡng nó. Nó
được bảo vệ thế, an toàn thế.
Các nhà tâm lí nói rằng trong việc tìm kiếm tôn
giáo mọi người đều đang tìm kiếm bụng mẹ lần nữa.
Tất cả mọi khái niệm của họ về cõi trời đều không là
gì ngoài bụng mẹ được khuếch đại lên... tuyệt đối
thoải mái. Trong huyền thoại Hindu họ nói rằng trên
trời có cái cây tên là kalpavriksha - cây thoả ước. Bạn
ngồi dưới nó, và khoảnh khắc bất kì ham muốn nào
nảy sinh, thậm chí trước khi bạn đi tới biết rằng nó đã
nảy sinh, thì nó đã được đáp ứng. Bạn nghĩ về thức ăn
và thức ăn sẽ có đó, ngay lập tức. Bạn nghĩ tới giường
bởi vì bạn buồn ngủ - lập tức giường sẽ có đó.
Đây chính là bụng mẹ đấy. Bụng mẹ là kalpataru,
cây thoả ước. Đứa trẻ chưa bao giờ trở nên nhận biết
về bất kì nhu cầu nào. Trước khi nó trở nên nhận biết
điều đó được đáp ứng rồi. Điều đó tuyệt đối tự động.
Nhưng đứa trẻ phải rời khỏi bụng mẹ; điều đó cần cho
sự trưởng thành của nó. Bởi vì một mình thoải mái
không bao giờ có thể giúp cho bạn trưởng thành được,
bởi vì không có thách thức. Đứa trẻ phải rời khỏi
bụng mẹ, và điều đầu tiên đứa trẻ sẽ phải làm sau khi
rời khỏi bụng mẹ là điều cơ sở của mọi sự sống còn - nó sẽ phải thở
theo cách riêng của nó. Nó sẽ phải nỗ
lực theo cách riêng của nó. Nó trở thành một sa môn.
Trong bụng mẹ nó là một brahmin. Mọi thứ đã
xảy ra bởi ân huệ. Mọi thứ đã xảy ra, nó đã chẳng làm
gì gì cả. Nhưng mọi người đều phải ra khỏi bụng mẹ.
Mọi brahmin đều phải trở thành shramana. Phật nói
qua việc là sa môn, trưởng thành là có thể.
Thế rồi đứa trẻ dần dần trưởng thành xa hơn, xa
mãi khỏi người mẹ. Sau việc sinh nó sẽ vẫn phải phụ
thuộc vào vú mẹ. Thế rồi một khoảnh khắc sẽ tới khi
nó không còn phụ thuộc vào vú mẹ nữa, nhưng nó vẫn
phụ thuộc vào người mẹ nuôi nó. Thế rồi nó sẽ đi học.
Nó đi xa hơn khỏi người mẹ, nó trở nên ngày một độc
lập hơn, nó trở nên ngày một là cá nhân hơn. Thế rồi
một ngày nào đó nó rơi vào tình yêu với một người
đàn bà khác và nó bị cắt khỏi người mẹ một cách
hoàn toàn.
Đó là lí do tại sao không người mẹ nào có thể tha
thứ cho người đàn bà đã lấy đi đứa con trai của mình.
Không bao giờ - với người mẹ, không thể nào tha thứ
được cho người đàn bà đã lấy đứa con mình đi... xung
đột sâu sắc. Nhưng người đàn ông thực sự trưởng
thành khi người đó rơi vào tình yêu với người đàn bà,
bởi vì thế thì anh ta đã quay lưng lại với mẹ mình
hoàn toàn. Bây giờ anh ta đã quay một trăm tám mươi
độ.
Phật nói rằng trong thế giới tâm lí vẫn còn nhiều
gốc rễ cần phải chặt bỏ. Bạn phải trở nên ngày một
nhận biết rằng bạn có thể đã đi xa khỏi người mẹ,
nhưng thế rồi bạn tạo ra người mẹ tâm lí. Bạn có thể
đi xa khỏi người bố, nhưng thế rồi bạn tạo ra hình ảnh
người bố trên trời - thượng đế cai quản khắp thế giới,
đấng cai quản tối cao. Và bạn gọi ông ấy là cha. Lần
nữa bạn đang cố gắng trở nên phụ thuộc - cứ dường
như bạn sợ sự độc lập của mình. Tất cả những điều
này đều là gốc rễ; mọi gốc rễ đều phải bị chặt đi.
Jesus nói ở đâu đó... và tôi ngờ rằng ông ấy phải
đã có những ý tưởng đó từ nguồn Phật giáo nào đó,
bởi vì Jesus tới sau Phật năm trăm năm, và trước lúc
Jesus tới, quan điểm Phật giáo đã lan toả khắp Trung
Đông. Chúng đã thấm xa vào giữa Châu Á, chúng đã
vào sâu trong Ai Cập.
Jesus đã được nuôi nấng ở Ai Cập. Ông ấy phải
đã đi tới biết. Và có mọi khả năng rằng ông ấy đã
viếng thăm Ấn Độ trước khi ông ấy đi tới Jerusalem
để thuyết giảng. Có mọi khả năng. Có những nguồn
nói rằng ông ấy đã tới thăm đại học, đại học Phật
giáo, ở Nalanda. Ông ấy phải đã đi tới biết về con
đường của shramana, bởi vì trong giáo huấn của mình
ông ấy nói đôi điều không có nguồn gốc truyền thống
nào trong ý thức hệ Do Thái.
Chẳng hạn ông ấy nói, 'Chừng nào các ông còn
chưa ghét bố và mẹ mình, các ông không thể trở thành
đệ tử của ta.' Người Ki tô giáo bao giờ cũng cảm thấy
bối rối nếu bạn nói điều này. Đây là kiểu giáo huấn gì
thế này? - 'Chừng nào các ông còn chưa ghét bố và
mẹ mình...' Và bạn nói rằng Jesus là tình yêu và ông
ấy đã tới để thuyết giảng về tình yêu cho thế giới sao?
Và bạn nói rằng Thượng đế là tình yêu sao? Và giáo
huấn này dường như đầy những hận thù - 'Ghét bố và
mẹ bạn.' Tất cả các thầy giáo đều nói; 'Kính trọng bố và mẹ bạn,' và
vô nghĩa làm sao - Jesus lại nói ghét
sao? Ông ấy phải đã đọc điều đó từ nguồn nào đó.
Những nguồn đó chỉ có thể là Phật giáo, bởi vì
Phật nói: Những người từ bỏ cha mẹ mình, đi khỏi gia
đình...
Đừng hiểu theo từng chữ một. Cũng đừng hiểu
Jesus theo từng chữ một. Ông ấy không nói 'ghét bố
và mẹ bạn' đâu. Ông ấy đơn giản nói cắt bản thân bạn
hoàn toàn ra khỏi bố và mẹ. Ông ấy đang nói cắt bản
thân bạn ra khỏi an ninh. Trở thành bất an. Cắt bản
thân mình ra khỏi mọi phụ thuộc. Trở thành độc lập.
Trở thành cá nhân. Đó là điều ông ấy nói.
Jesus đang dùng một ngôn ngữ rất thô sơ, Phật
đang dùng một ngôn ngữ rất văn hoá. Jesus không
phải là được giáo dục rất tốt; ông ấy là con người thô
sơ, con ông thợ mộc. Và truyền thống Do Thái cũng
rất thô. Các nhà tiên tri nói theo ngôn ngữ nảy lửa.
Ngôn ngữ của họ có vẻ chính trị hơn là tôn giáo. Phật
là con vua - có giáo dục tốt, có văn hoá cao. Thuật
ngữ của họ đã trở nên khác biệt bởi vì họ là những
người khác biệt, nhưng ý nghĩa thì như nhau.
Người ta phải bỏ lại cha mẹ mình, người ta phải
bỏ lại gia đình, người ta phải bỏ lại quá khứ. Người ta
phải trở thành độc lập hoàn toàn, một mình... run rẩy
trong sự một mình đó - nhưng người ta phải trở thành
một mình.
Người ta phải trở thành tuyệt đối có trách nhiệm
với chính mình, và chỉ thế thì bạn mới có thể hiểu
được tâm trí. Bởi vì nếu bạn cứ phụ thuộc vào người
khác, chính phụ thuộc của bạn sẽ không cho phép bạn
hiểu mình là ai.
Cắt bỏ mọi nguồn, cắt bản thân bạn ra khỏi mọi
mối quan hệ đi. Bạn được bỏ lại một mình, bây giờ
không có ai khác. Bạn phải nhìn vào trong linh hồn
riêng của mình. Bạn phải đương đầu với chính mình.
Đó là cách duy nhất để đương đầu với chính mình.
Thế thì bạn đạt tới chính cội nguồn của bản thể mình,
bằng việc hiểu tâm trí... và hiểu cái phi vật chất.
Xem đấy, Phật không nói hiểu tâm linh. Ông ấy
nói hiểu phi vật chất. Đây là khác biệt. Cách tiếp cận
của ông ấy có lí thế, ông ấy sẽ không khẳng định cái
gì đó mà bạn có thể tìm ra sơ hở. Ông ấy sẽ không nói
'tâm linh'; ông ấy đơn giản nói 'cái phi vật chất'.
Hỏi nhà vật lí, ông ấy sẽ hiểu ngôn ngữ của Phật.
Ông ấy nói, 'Bằng việc phân tích nguyên tử chúng ta
đi tới điện tử.' Điện tử chỉ là các hạt điện, gần như phi
vật chất. Vật chất đã biến mất, chỉ năng lượng có đó.
Bạn không thể gọi nó là vật chất được, bạn chỉ có thể
gọi nó là phi vật chất. Và thế rồi bằng phân tích điện
tử họ đã đi tới gần như cái trống rỗng - cái trống rỗng
phi vật chất. Nhà vật lí sẽ hiểu thuật ngữ của Phật
giáo.
Phật cũng đã đạt tới cùng điểm đó bằng việc phân
tích tâm trí. Bằng việc phân tích tâm trí ông ấy đã đi
tới trạng thái mà không ý nghĩ nào có đó... đơn giản
trống rỗng. Ông ấy gọi nó là phi vật chất. Ý nghĩ là
chất liệu bên trong. Khi bạn làm tản mác ý nghĩ đi và
chỉ không gian còn lại, nó là phi vật chất.
Cùng điều đó đã xảy ra cho vật lí hiện đại. Họ đã
phân tích vật chất trong thế giới bên ngoài và họ đã đi
tới phi vật chất. Phật đã đạt tới phi vật chất trên cuộc
hành trình bên trong của ông ấy, còn khoa học đã đạt
tới phi vật chất trên cuộc hành trình bên ngoài của nó,
nhưng cả hai đều đã đạt tới phi vật chất. Các nhà khoa
học cũng sẽ không nói rằng đây là tâm linh. Các nhà
khoa học chỉ có thể nói thế này thôi - rằng bất kì cái
gì là vật chất thì cũng đều không có đó. Ông ấy không
thể nói cái gì có đó. Chỉ có thể nói được thế này thôi -
rằng bất kì cái gì chúng ta thường nghĩ như vật chất
thì không còn có đó. Tất cả những điều chúng ta có
thể nói đều là phủ định.
Phật nói:
và hiểu thấu cái phi vật chất, được gọi là sa môn
(shramana).
Bây giờ là các loại người:
Những người tuân thủ giới luật về đạo đức, người
thuần khiết và không tì vết trong hành vi của họ,
những người cố gắng đạt tới kết quả của quả vị
thánh được gọi là a la hán.
A la hán là trạng thái cao nhất của vô trí. Từ 'a la
hán' nghĩa là 'người đã chinh phục kẻ thù của mình'.
Ari nghĩa là kẻ thù và a la hán nghĩa là 'người đã
chinh phục kẻ thù'.
Ai là kẻ thù? Chúng không ở bên ngoài bạn. Đam
mê, phân tán, ham muốn, hận thù, ghen tị, sở hữu,
giận dữ, dục tình - đây là kẻ thù.
Theo một cách nào đó tâm trí bạn là kẻ thù, kẻ thù
căn nguyên. Người đã chinh phục được tâm trí được
gọi là a la hán. Đây là trạng thái cao nhất - người đã
lên trên mọi đám mây.
Thỉnh thoảng bạn có quan sát khi bay trên trời
không, khi máy bay bay lên trên các đám mây? Tất cả
các đám mây đều trong bầu trời xanh thuần khiết. Đó
là trạng thái ấy đấy, trạng thái bên trong của a la hán.
Người ta cứ thấm vào tâm trí. Dần dần các đám mây
của đam mê không còn đó nữa, chúng bị bỏ lại xa
đằng sau, và bạn soải cánh bay lên ngày một cao
trong không gian thuần khiết, trong không gian phi
vật chất. Đây là trạng thái của a la hán.
Theo thuật ngữ Phật giáo đó là trạng thái cao
nhất. Điều người Ki tô giáo gọi là Christ, Phật gọi là a
la hán. Điều người Jaina gọi là arihanta; từ đó cũng có
cùng nghĩa. Hay điều người Hindu gọi là avatara -
Rama, Krishna - đó là cùng trạng thái, trạng thái của a
la hán.
Nhưng Phật lại rất khoa học trong điều đó nữa.
Ông ấy không gọi điều đó là avatara, bởi vì avatara
nghĩa là 'thượng đế giáng trần' - bạn phải tin vào
thượng đế. Ông ấy không gọi... theo bất kì cách nào
ông ấy không dùng bất kì thuật ngữ nào có giả định
trước. Ông ấy dùng các thuật ngữ đơn giản mà không
có giả định trước nào.
Tiếp đó là bất hoàn (anagamin - a na hàm).
A la hán là trạng thái cao nhất, tiếp đó là bất hoàn.
Bất hoàn (anagamin - a na hàm) nghĩa là 'người sẽ
không tới nữa', người...
Tại cuối cuộc đời mình, linh hồn của bất hoàn (a
na hàm) thăng lên trời và đạt tới quả vị a la hán.
Điều đó ở ngay dưới trạng thái a la hán.
Bất hoàn (anagamin - a na hàm), từ này nghĩa là
'người sẽ không tới nữa'. Đã đi qua rồi, người đó sẽ
mất hẳn. Đã đi qua rồi, người đó sẽ đi mãi mãi, người
đó sẽ không quay lại. Người đó ở gần với việc là a la
hán, người đó đã đi qua những đám mây. Ở ngay
đường biên, người đó đang đứng trên ngưỡng của
việc là a la hán. Có thể một níu bám nhỏ của người đó
vẫn còn với thân thể. Cho nên khi người đó chết, việc
níu bám đó cũng biến mất. Người đó sẽ không quay
lại.
Tiếp đó là nhất hoàn (skridagamin - tu đà hàm).
Nhất hoàn (skridagamin - tu đà hàm) nghĩa là
'người còn quay lại'.
Nhất hoàn (skridagamin - tu đà hàm) thăng lên
trời (sau cái chết của người đó), quay trở lại thế
gian một lần nữa…
Chỉ một lần thôi... Người đó vẫn còn níu bám nào
đó; rất mờ nhạt - nhưng vẫn còn có vài gốc rễ và
người đó sẽ bị kéo lại vào bụng mẹ khác lần nữa.
Người đó không tuyệt đối vô ham muốn. A la hán là
tuyệt đối vô ham muốn. Nhất hoàn (tu đà hàm) đã
vượt ra ngoài những ham muốn thô, nhưng ham muốn
tinh vẫn còn có đó.
Ham muốn thô là gì? Ham muốn về tiền bạc, về
quyền lực, danh vọng - đây là ham muốn thô. Ham
muốn được tự do, ham muốn được bình thản, ham
muốn đạt tới trạng thái của quả vị a la hán - đây là
những ham muốn tinh, nhưng chúng vẫn là ham muốn
thôi. Người đó sẽ phải quay lại chỉ một lần nữa.
Tiếp đó là dự lưu (srotapanna - tu đà hoàn).
Từ dự lưu (srotapanna - tu đà hoàn) nghĩa là
'người đã đi vào trong dòng chảy’. Srota nghĩa là
dòng chảy (lưu) và apanna nghĩa là 'người đã đi vào'
(dự). Dự lưu nghĩa là 'người đã đi vào dòng chảy'.
Người đó đã bắt đầu cuộc hành trình của mình trên
con đường. Người đó không còn là người trần tục nữa
- người đó đã trở thành một sannyasin, người đó đã đi
vào trong dòng sông. Phía xa là đại dương, nhưng
người đó đã đi vào trong dòng sông, người đó đã bắt
đầu.
Và khi cuộc hành trình được bắt đầu, nó sẽ kết
thúc. Dù xa xôi đến thế nào, nó cũng không phải xa
xăm gì. Vấn đề thực là với những người thậm chí còn
chưa đi vào trong dòng chảy. Họ đang đứng trên bờ.
Đây là những người trần tục, đứng trên bờ. Sannyasin,
khất sĩ, là người đã đi vào dòng sông này - đều biết rõ
rằng đại dương ở xa lắm, nhưng nửa cuộc hành trình
đã qua rồi, chỉ với việc đi vào thôi.
Tiếp đó là dự lưu (srotapanna - tu đà hoàn). Dự
lưu chết đi bẩy lần và được sinh ra bẩy lần, rồi
người đó cuối cùng đạt tới quả vị a la hán.
Đây đều chỉ là biểu tượng, đừng nghĩ chúng theo
từng chữ một... đây chỉ là những điều biểu tượng.
'Bẩy' không ngụ ý chính xác là bẩy. Nó ngụ ý nhiều
lần người đó sẽ chết đi, nhiều lần người đó sẽ được
sinh ra, nhưng khuôn mặt của người đó đã được quay
về phía đại dương. Người đó đã đi vào trong sông
Hằng và cuộc hành trình đã bắt đầu.
Bởi việc gián đoạn của đam mê được ngụ ý là
giống như các chi bị cắt rời chúng không bao giờ
có thể được dùng lại nữa.
Và Phật nói rằng bằng việc vứt bỏ đam mê, ông
ấy ngụ ý rằng điều đó cũng tựa như ai đó cắt rời tay
bạn ra; thế thì bạn không thể dùng được nó. Hay ai đó
lấy mắt bạn ra; thế thì bạn không thể nhìn được qua
chúng. Người thực sự sẵn sàng đi vào trong dòng
chảy là người, theo quyền riêng của mình, tự nguyện
vứt bỏ các đam mê của mình. Người đó nói, 'Mình sẽ
không dùng lại chúng nữa.'
Nhớ lấy, đây không phải là kìm nén theo nghĩa
Freud của thuật ngữ này. Người đó không kìm nén nó,
người đó đơn giản rút năng lượng của mình khỏi nó.
Dục vẫn còn đó - người đó không kìm nén nó, người
đó đơn giản không hợp tác thêm gì nữa.
Khác biệt là mênh mông. Khi dục có đó và bạn
kìm nén nó, bạn tranh đấu với nó, bạn không vượt lên
trên nó, bạn vẫn còn với nó. Nếu bạn tranh đấu với nó
bạn vẫn còn níu bám vào nó, và nếu bạn tranh đấu với
nó bạn sẽ vẫn còn sợ nó.
Phật nói người ta đơn giản không hợp tác với nó.
Một ham muốn, ham muốn dục nảy sinh - bạn sẽ là
gì? Phật nói bạn đơn giản quan sát. Cứ để nó có đó.
Nó sẽ tới và nó sẽ đi. Nó sẽ loé lên trong tâm trí, nó sẽ
thử hấp dẫn bạn; bạn vẫn còn mang tính quan sát, bạn
không cho phép vô ý thức nào, bằng không nó sẽ đi
vào trong bạn. Bạn đơn giản vẫn còn mang tính quan
sát.
Phật nói, 'Con người phải lưu tâm. Thế thì người
này giống như ngôi nhà có chiếc đèn đang thắp sáng,
nơi đèn được thắp sáng - kẻ cắp sợ không dám vào.
Khi đèn không có đó và ngôi nhà tối, thế thì kẻ cắp
vào dễ dàng. Người đã thực sự trở nên lưu tâm cũng
giống như ngôi nhà mà ở cửa có lính gác, thức tỉnh
hoàn toàn, và ngọn đèn được thắp sáng. Kẻ trộm khó
mà vào được, chúng không thể thu được dũng cảm.'
Cùng điều đó xảy ra khi bạn nhận biết - bạn có
lính gác. Khi bạn nhận biết, ngôi nhà của bạn được
thắp sáng bằng ánh sáng. Đam mê không thể đi vào
bạn được. Chúng có thể tới, chúng có thể vẩn vơ xung
quanh, chúng sẽ cố gắng thuyết phục bạn, nhưng nếu
bạn đơn giản quan sát, chúng sẽ biến mất theo cách
riêng của chúng bởi vì chúng sống bằng hợp tác của
bạn. Đừng tranh đấu với chúng và đừng mê say trong
chúng; vẫn còn nhận biết đi. Thế thì dần dần chúng sẽ
rơi rụng đi tựa như cành khô.
Nếu bạn bắt đầu đánh nhau, bạn đang tạo ra vấn
đề khác. Thay vì là người mê đắm bạn sẽ trở thành người kìm nén. Vấn
đề không được giải quyết, chỉ cái
tên được thay đổi.
Tôi đã nghe:
Một bác sĩ chữa cho một người được mang tới bị
say bí tỉ. 'Nếu bệnh nhân lại thấy rắn mầu lục, cho anh
ta một số thuốc này,' ông ta bảo cô y tá.
Lát sau ông ta quay lại thì thấy người này đang
mê sảng - nhưng thuốc vẫn chưa cho anh ta uống. 'Tôi
chẳng bảo cho anh ta uống thuốc này nếu anh ta lại
thấy rắn mầu lục đó sao?' bác sĩ căn vặn.
'Nhưng anh ấy không thấy rắn mầu lục đâu ạ,' cô
y tá đáp.
'Ồ, thế à?'
'Không đâu, anh ta đã thấy ếch tía.'
Bây giờ bất kì khi nào bạn thấy rắn mầu lục hay
bạn thấy ếch mầu tía thì có khác biệt gì đâu - bạn bị
say đấy chứ.
Có những người hợp tác với đam mê của họ và có
những người tranh đấu với đam mê của họ - nhưng cả
hai vẫn còn với đam mê. Người này thân thiết, người
kia đối kháng, nhưng cả hai vẫn còn với đam mê và
cả hai đều là cách thức của sự hợp tác tinh tế. Người
ta phải vứt bỏ mối quan hệ này. Người ta phải trở
thành khán giả, người quan sát.
Một khi bạn bắt đầu quan sát bạn sẽ trở nên nhận
biết về các tầng tầng lớp lớp của đam mê. Có nhiều
tầng. Khi đam mê thô bị bỏ lại, nhiều tầng tinh tế sẽ
được tìm thấy.
Toàn thể cuộc sống chúng ta cũng giống như củ
hành. Bạn bóc nó ra - lại tới tầng khác; bạn bóc tầng
đó - lại tầng khác... tươi hơn, non hơn, sống động hơn.
Nhưng nếu bạn cứ bóc mãi, một khoảnh khắc tới khi
chỉ cái trống rỗng là còn lại trong tay bạn. Đó là điều
Phật gọi là niết bàn - cái trống rỗng. Tất cả các tầng
đều đã mất.
Tôi đã nghe:
Anh chàng chơi ghi ta của nhóm nhạc pop bị mắc
tai nạn xe hơi và bị thương ở đầu. Khi tới bệnh viện
bác sĩ ra lệnh phải cắt hết bộ tóc dài dầy của anh ta để
thấy được khoảng rộng quanh chỗ bị thương. Một cô
y tá được cử làm việc này, và cô ấy bắt đầu làm việc
với chiếc kéo lớn.
Sau mười phút hay đại loại như vậy cô ấy nói với
chàng thanh niên, 'Anh đã học tại trường phổ thông
hỗn hợp vùng bắc Lancaster khi anh còn trẻ hơn, đúng
không?'
'Vâng, tôi đã tới đó,' chàng thanh niên trả lời. 'Cô
cũng ở đó là?'
'Không,' cô y tá nói, 'tôi ở London.'
'Vậy sao cô lại biết trường tôi đã đi học?' chàng
thanh niên hỏi.
'Tôi đã tới đỉnh đầu anh,' cô y tá đáp và cô ấy tiếp
tục cắt.
Tầng nọ tiếp tầng kia... Và bạn càng cắt sâu hơn,
bạn sẽ càng thấy nhiều hơn - nhiều điều đã bị bỏ lỡ
trong nhiều năm, từ lâu; bạn sẽ thấy chóp đỉnh của
mình. Bạn càng đi sâu hơn vào tâm trí mình, bạn sẽ đi
sâu hơn vào thời thơ ấu của mình. Nhiều điều bị quên
đi, bị mất đi - lần nữa chúng có đó. Bởi vì chẳng cái
gì bị mất cả, mọi thứ cứ tích luỹ lại.
Khi bạn đi tới một điểm mà bạn không thể tìm
thấy được cái gì, thế thì bạn đã đi tới bản thể mình.
Bản thể không giống như một tầng; bản thể đơn giản
là không gian, không gian thuần khiết. Bản thể đơn
giản là trống rỗng.
Phật gọi bản thể này là không hiện hữu, ông ấy
gọi nó là vô ngã - anatta. Phật nói nếu bạn thấy bản
thân mình, thế thì phải có tầng nào đó vẫn còn lại. Khi
bỗng nhiên bạn đi tới điểm bạn không thể tìm thấy
bản thân mình - bạn hiện hữu, mà bạn không thể tìm
thấy bản thân mình - thế thì bạn đã về tới nhà. Và điều
này có thể được đạt tới chỉ bằng nỗ lực.
Đây là khuôn khổ của ông ấy. Từ mai chúng ta sẽ
bắt đầu đi vào trong phương pháp luận của ông ấy -
các con đường của thiền, con đường của kỉ luật bên
trong; con đường về cách siêu việt lên trên bản ngã,
con đường về cách siêu việt lên tất cả. Đó là lí do tại
sao tôi lại gọi loạt bài nói này là 'Kỉ luật của siêu việt'.
Nhưng đây là khuôn khổ của ông ấy.
Thông thường bạn đứng trên bờ sông. Thế thì bạn
không thể hi vọng được, thế thì bạn ở trong trạng thái
vô vọng. Nếu bạn trở thành dự lưu, nếu bạn đi vào
dòng chảy, đó là điều tôi gọi là tính chất sannyas. Với
tính chất sannyas bạn trở thành dự lưu - bạn đi vào
dòng chảy, bạn lấy dũng cảm, bạn lấy cú nhảy. Đó là
cú nhảy lượng tử từ bờ vào dòng chảy. Chúng rất gần,
nhưng chúng khác biệt hoàn toàn.
Bờ chẳng bao giờ đi đâu cả. Nó không có sự
trưởng thành, nó không bao giờ chuyển động. Nó tĩnh
tại, tù đọng, cũ rích, chết. Và bên cạnh là luồng chảy
của dòng sông, đang đi tới đâu đó.
Nếu cuộc sống của bạn không đi tới đâu cả, bạn
đang đứng trên bờ. Đi vào dòng chảy và bắt đầu cuộc
hành trình đi. Cuộc sống của bạn bắt đầu thay đổi,
biến đổi. Bạn bắt đầu biến thái, biến hình. Và từng
khoảnh khắc những tầm nhìn mới mở ra cánh cửa của
chúng cho bạn. Một ngày nào đó dòng sông đạt tới đại
dương. Ngày đó bạn trở thành a la hán, bạn tan biến
vào trong đại dương.
Trước hết là dự lưu (tu đà hoàn), thế rồi tới nhất
hoàn (tu đà hàm), thế rồi bất hoàn (a na hàm), thế rồi
a la hán. Đây là các trạng thái. Nó là khuôn khổ rất
khoa học. Từ việc là người trần tục con người trở
thành dự lưu (tu đà hoàn) và thế thì cuộc hành trình
của bạn đã bắt đầu.

HÃY TÌM LẠI CHÍNH MÌNH BẰNG SỰ THỨC TÌNH MỤC ĐÍCH SỐNG

Nhân loại đã thực sự sẵn sàng cho một quá trình chuyển biến nhận thức , một quá trình nở hoa sâu sắc và triệt để của tâm thức đến độ , so với quá trình này thì việc cây cỏ nở hoa 114 triệu năm trước đây , dù cho đẹp đến mấy thì đấy cũng chỉ là sự phản ánh nhạt nhòa ? Liệu con người có thể từ bỏ tầng tầng lớp lớp những cách nghĩ bị bó buộc cũ và trở nên giống như những tinh thể pha lê trong suốt để ánh sang nhận thức xuyên qua dễ dàng ?

Liệu con người có thể thoát ra khỏi trường hấp dẫn của chủ nghĩa vật chất , thoát ra khỏi tình trạng tự đồng nhất mình với hình tướng ?

Khả năng chuyển hóa này cũng là thông điệp chính của những giáo lý sâu sắc để khai thị cho con người .Những người phát đi thông điệp này – như Đức Phật , chúa Jesus và nhiều người khác – là những bông hoa đầu tiên của nhân loại . Họ là những vị Thầy tiên phong , rất hiếm hoi và quý giá vô cùng . Tuy vậy , một sự chuyển hóa rộng khắp chưa thể xảy ra vào thời điểm đó được , nên thông điệp của họ bị bóp méo đi rất nhiều . Ngoại trừ ở một số ít người , tâm thức của con người thời ấy nói chung chưa được chuyển hóa nhiều

Bây giờ thì nhân loại đã sẵn sàng để chuyển hóa chưa ? tại sao lúc này mới thật là thời cơ ? Ban có thể làm gì để thúc đẩy quá trình chuyển hóa nội tại này ? Đặc điểm của nhận thức cũ đầy tính bản ngã là gì và đâu là dấu hiệu của một tâm thức mới đang trổi dậy ?

Những câu hỏi này và một số câu hỏi khác sẽ được đề cập trong cuốn sách này . Quan trọng hơn , quyển sách cũng chính là một công cụ có tính chuyển hóa , xuất phát từ một nhận thức mới đầy tính nổi dậy . Những ý tưởng và khái niệm ở đây tuy quan trọng , nhưng đó cũng là thứ yếu . Chính những tấm bảng chỉ đường giúp bảng chỉ đường giúp bạn đi đến trạng thái thức tỉnh . Trong lúc đọc quyển sách này , một sự chuyển hóa sẽ xảy ra trong bạn

Mục đích chính của quyển sách không phải là để cung cấp thêm thông tin hay những niềm tin mù quáng cho trí năng của bạn , hay cố thuyết phục bạn về một điều gì đó , mà nó mang đến cho bạn một sự chuyển hóa trong nhận thức , tức là thức tỉnh bạn ra khỏi những dòng suy nghĩ miên man ở trong đầu

Nếu được như vậy thì bạn sẽ không chỉ thấy cuốn sách này là “thú vị” . Vì “thú vị” có nghĩa là bạn còn đứng ở bên ngoài , tìm vui với những ý nghĩ , và khái niệm ở trong đầu bạn để tu duy rằng mình đồng ý hay không đồng ý với cuốn sách .

Vì cuốn sách này được viết cho bạn , do đó cuốn sách hoặc rất vô nghĩa đối với bạn , hoặc nó làm cho nhận thức của bạn có sự thay đổi lớn . Tuy nhiên cuốn sách này chỉ có thể thức tỉnh những người đã sẵn sang để tỉnh thức

Tuy nhiên khi có một người vừa tỉnh thức thì biến cố này sẽ tạo nên một quán tính trong tâm thức của tập thể , giúp cho sự tỉnh thức xảy ra dễ dàng hơn ở những người khác . Nếu trong lúc này bạn chưa rõ tỉnh thức nghĩa là gì , thì bạn cũng không cần bận tâm nhiều vể nghĩa của từ ấy , hãy cứ tiếp tục đọc và trong bạn có sự tỉnh thức , thì bạn sẽ hiểu “ tỉnh thức “ có nghĩa là gì

Quá trình tỉnh thức một khi đã bắt đầu ở trong bạn rồi thì không thể đảo ngược lại ; và để cho quá trình này được bắt đầu ,bạn chỉ cần trải qua trạng thái thức tỉnh – dù chỉ tong môt thoáng chốc

Đối với một số người thì một thoáng chốc của trạng thái thức tỉnh đó sẽ xảy đến khi họ đọc cuốn sách này . Còn đối với những người khác thì cuốn sách sẽ giúp họ nhận ra rằng quá trình tỉnh thức đã xảy ra ở trong họ rồi , nhưng bây giờ họ mới nhận ra .

Ở một số người thì quá trình tỉnh thức chỉ xảy ra khi họ gặp phải những mất mát hay khổ đau lớn

Trong khi ở những người khác , là khi họ tiếp xúc với những bậc Thầy hay những giáo lý về tâm linh , hay do đọc cuốn “ Sức mạnh của Hiện tại “ hay những cuốn sách có giá trị tâm linh sống động khác . Hoặc có thể là sự tổng hợp của tất cả những điều ấy . Tuy nhiên , một khi sự thức tỉnh đã bắt đầu ở trong bạn thì cuốn sách này sẽ giúp cho bạn đẩy nhanh và gia tăng cường độ tỉnh thức

Điều căn bản nhất của quá trình thức tỉnh là :

Nhận ra sự mê mờ đang tồn tại trong bạn

Nhận diện bản ngã của bạn khi nó đang nói , đang nghĩ , đang làm một việc nào đó

Nhận ra thói quen suy nghĩ đầy tính băng hoại trong tâm thức của tập thể đang thẩm thấu vào mọi khía cạnh của đời sống , kéo dài thêm tình trạng chưa thức tỉnh

Đó là lý do tôi viết quyển sách này : để nêu lên những khía cạnh chính của bản ngã và cách bản ngã hoạt động trong bạn cũng như trong tâm thức tập thể . Điều này có ý nghĩa quan trọng , vì hai lý do chính .

Trước hết , nếu bạn không nhận ra được những cơ cấu hoạt động của bản ngã , bạn sẽ không nhận diện được nó , và sẽ nhầm lẫn mà liên tục tự đồng hóa mình với bản ngã , tức là vô tình bạn để cho bản ngã chứ ngự lấy bạn , mạo danh là bạn

Thứ hai , tự than việc nhận diện bản ngã ở trong bạn chính là một trong những phương cách giúp cho sự tỉnh thức ở trong bạn được diễn ra . Khi bạn nhận ra sự mê lầm của mình , thì cái làm cho sự nhận biết ấy có thể diễn ra chính là thứ nhận thức mới đang trỗi dậy , đó cũng chính là tỉnh thức .

như ta không thể đấu tranh lại bong tối , hay chống đối lại sự mê mờ . Điều mà ta cần làm là mang ánh sáng của nhận thức vào những nơi tối tăm này

Và bạn chính là Ánh sang đó

Bài đăng phổ biến

Lưu trữ Blog