Thông điệp yêu thương từ MẶT TRỜI TÂM THỨC

CÁC BẬC THẦY CHỨNG NGỘ CỦA THẾ KỶ 20 -21

XỨ SỞ GIÂY PHÚT HIỆN TẠI

XỨ SỞ GIÂY PHÚT HIỆN TẠI

Quảng cáo online

Chữ chạy

Chào mừng bạn đến với blog MẶT TRỜI TÂM THỨC Email : mattroitamthuc@yahoo.com - Phone 0903070348

Quảng cáo thay đổi

Truyện cười

CHÀO MỪNG CÁC BẠN ĐANG ĐẾN VỚI PHÚT GIÂY HIỆN TẠI

Giây phút hiện tại

Sống trong giây phút hiện tại là một phép lạ. Phép lạ không phải là để đi trên mặt nước.
Phép lạ là đi trên trên hành tinh xanh xinh đẹp này trong trong giây phút hiện tại, biết trân quý sự bình an và vẻ đẹp có sẵn ngay bây giờ.

Thứ Hai, 28 tháng 11, 2011

Tâm linh là gì?

Hỏi: Thưa Osho, tâm linh là gì?

Đáp: Khái niệm cũ đã từng là thế này, tâm linh là cái gì đó chống lại duy vật. Từ bỏ những hoan lạc của vật chất, của thân thể, của tâm trí, đã được định nghĩa là tâm linh. Với tôi điều đó là vô nghĩa.
Tâm linh là không bị đồng nhất với mọi thứ mà bạn có thể thấy, cái có thể là một đối thể với bạn - sao cho chung cuộc bạn chỉ còn là chủ thể. Tính chủ quan thuần khiết là tâm linh. Nó chẳng liên quan gì tới việc từ bỏ cái gì. Thực ra, người tâm linh sẽ có khả năng tận hưởng mọi thứ một cách mãnh liệt hơn, toàn bộ hơn là người duy vật. Người duy vật rất nghèo nàn. Mọi tôn giáo đều lên án người duy vật nghèo nàn. Người đó chẳng có gì đáng kết án cả. Cuộc sống của người đó nông cạn.

Tâm linh là cuộc sống theo chiều sâu, trong chiều sâu tối thượng. Bạn định tâm tại chính bản thể mình. Nhưng bạn có thể sống ở chu vi, tự do đi mọi nơi - vẫn còn ở tại trung tâm. Đồng nhất của bạn là tại trung tâm. Bạn biết mình là ai. Thế thì không có vấn đề gì, dù là bạn hưởng thú thức ăn, bạn tận hưởng quần áo, bạn tận hưởng ngôi nhà đẹp, bạn tận hưởng âm nhạc, hội hoạ. Không có vấn đề gì. Không cần phải từ bỏ nó.
Tâm linh cũ đã giết chết biết bao nhiêu tính sáng tạo trong con người, đến mức một ngày nào đó nếu con người trở nên nhận biết về điều tâm linh cũ đã làm, mọi vị thánh của bạn sẽ bị kết án là những kẻ tội phạm lớn nhất - bởi một lí do đơn giản vì họ đã ngăn cản mọi sáng tạo. Họ đã kết án nó là chủ nghĩa duy vật.
Họ đã cố gắng sống một cuộc sống nhạt nhẽo, và họ ép buộc người khác cũng sống theo cùng cách đó. Tâm linh là cái gì đó giống như sống trong cái xác.

Với tôi tâm linh là sống một cách toàn bộ, mãnh liệt, đốt cháy ngọn đuốc của bạn từ cả hai đầu. Vẫn còn nhận biết về trung tâm của bạn, không bao giờ để mất nhận biết về bạn là ai dù một khoảnh khắc. Thế thì chẳng thành vấn đề bạn ở đâu.

Nếu bạn nhớ mình là ai, chẳng thành vấn đề bạn ở đâu. Bạn sẽ tuyệt đối phúc lạc.
Hỏi: Thưa Osho, tâm linh là gì?

Đáp: Khái niệm cũ đã từng là thế này, tâm linh là cái gì đó chống lại duy vật. Từ bỏ những hoan lạc của vật chất, của thân thể, của tâm trí, đã được định nghĩa là tâm linh. Với tôi điều đó là vô nghĩa.
Tâm linh là không bị đồng nhất với mọi thứ mà bạn có thể thấy, cái có thể là một đối thể với bạn - sao cho chung cuộc bạn chỉ còn là chủ thể. Tính chủ quan thuần khiết là tâm linh. Nó chẳng liên quan gì tới việc từ bỏ cái gì. Thực ra, người tâm linh sẽ có khả năng tận hưởng mọi thứ một cách mãnh liệt hơn, toàn bộ hơn là người duy vật. Người duy vật rất nghèo nàn. Mọi tôn giáo đều lên án người duy vật nghèo nàn. Người đó chẳng có gì đáng kết án cả. Cuộc sống của người đó nông cạn.

Tâm linh là cuộc sống theo chiều sâu, trong chiều sâu tối thượng. Bạn định tâm tại chính bản thể mình. Nhưng bạn có thể sống ở chu vi, tự do đi mọi nơi - vẫn còn ở tại trung tâm. Đồng nhất của bạn là tại trung tâm. Bạn biết mình là ai. Thế thì không có vấn đề gì, dù là bạn hưởng thú thức ăn, bạn tận hưởng quần áo, bạn tận hưởng ngôi nhà đẹp, bạn tận hưởng âm nhạc, hội hoạ. Không có vấn đề gì. Không cần phải từ bỏ nó.
Tâm linh cũ đã giết chết biết bao nhiêu tính sáng tạo trong con người, đến mức một ngày nào đó nếu con người trở nên nhận biết về điều tâm linh cũ đã làm, mọi vị thánh của bạn sẽ bị kết án là những kẻ tội phạm lớn nhất - bởi một lí do đơn giản vì họ đã ngăn cản mọi sáng tạo. Họ đã kết án nó là chủ nghĩa duy vật.
Họ đã cố gắng sống một cuộc sống nhạt nhẽo, và họ ép buộc người khác cũng sống theo cùng cách đó. Tâm linh là cái gì đó giống như sống trong cái xác.

Với tôi tâm linh là sống một cách toàn bộ, mãnh liệt, đốt cháy ngọn đuốc của bạn từ cả hai đầu. Vẫn còn nhận biết về trung tâm của bạn, không bao giờ để mất nhận biết về bạn là ai dù một khoảnh khắc. Thế thì chẳng thành vấn đề bạn ở đâu.

Nếu bạn nhớ mình là ai, chẳng thành vấn đề bạn ở đâu. Bạn sẽ tuyệt đối phúc lạc.

Ba giai đoạn của tôn giáo

Có ba giai đoạn của tôn giáo. Cũng giống như có thời thơ ấu, thanh niên và tuổi già trong cuộc sống của đàn ông hay đàn bà, vậy có ba giai đoạn trong cuộc sống của tôn giáo. Khi tôn giáo được sinh ra - thời thơ ấu của tôn giáo, khi Thầy còn sống, tươi tắn, và năng lượng còn tuôn chảy từ cội nguồn và hương thơm thoảng tới, khi Phật còn sống hay Lão Tử còn sống hay Jesus còn sống - thế thì tôn giáo có trạng thái hồn nhiên, trong trắng, đầu tiên của nó: thời thơ ấu. Nó tươi tắn như giọt sương buổi ban mai, tươi như hoa hồng, tươi như ngôi sao; nó không biết tới kỉ luật, nó chỉ biết tính tự phát.
Thế rồi, gần Thầy mọi người bắt đầu tụ tập lại. Điều đó nhất định xảy ra - nan châm có đó, mọi người bắt đầu tụ tập. Giai đoạn thứ hai tới: giai đoạn của tôn giáo có tính hữu cơ. Giai đoạn thứ nhất là có tính cá nhân, nổi dậy, tự phát; không có vấn đề nỗ lực nào, kỉ luật nào, kinh sách nào; Thượng đế là ở trong sự trần trụi, chân lí là như nó vậy không nguỵ trang, không trang hoàng. Thế rồi mọi người bắt đầu tụ tập. Giai đoạn thứ hai không mang tính nổi dậy thế vì những người này, và bởi vì những người này, dần dần kỉ luật nảy sinh. Thầy cứ nói về tự phát, nhưng tín đồ không thể hiểu được tính tự phát; họ dịch nó dưới dạng tạo kỉ luật cho chính họ. Thầy nói 'Cứ hiện hữu', họ hỏi 'Làm sao hiện hữu?' Câu hỏi của họ về 'làm sao; dần dần đem tới kỉ luật; họ tạo ra kỉ luật. Để tôi nói điều đó theo cách này: Thầy đem tới tự phát, đệ tử đem tới kỉ luật.
Từ 'disciple - đệ tử' và 'discipline - kỉ luật' bắt nguồn từ cùng một gốc. Khi đệ tử đã tụ tập quanh Thầy, họ bắt đầu phiên dịch điều thầy nói, điều thầy ngụ ý. Họ bắt đầu diễn giải, và tất nhiên họ diễn giải tương ứng theo tâm trí họ - không có cách khác. Nếu bạn diễn giải tất cả, bạn sẽ diễn giải sai.
Đệ tử thực là người không diễn giải, người không phiên dịch, người lắng nghe thụ động, người không hỏi 'làm sao', người không vội vã có được kết quả nào đó, người không hướng đích, người không tham. Đệ tử tham lập tức tạo ra kỉ luật. Đây là giai đoạn thứ hai - vẫn còn sống; tôi gọi giai đoạn này là giai đoạn tính hữu cơ của tôn giáo. Thầy vẫn còn đó, đệ tử đã tới, có đơn vị hữu cơ nhưng....
Ở giai đoạn thứ nhất chỉ có trung tâm, bây giờ có chu vi; và chu vi sẽ cứ trở nên ngày một lớn hơn và lớn hơn, và nó càng lớn hơn nó sẽ càng kém chân thực hơn. Chu vi càng đi xa khỏi trung tâm, nó càng đi xa khỏi chân lí, hồn nhiên. Nó trở thành tri thức, nó trở thành kỉ luật, giáo điều, nhưng dầu vậy một chút ít ánh sáng vẫn tới qua tất cả những màn ảnh này.
Thế rồi, ở giai đoạn thứ ba khi Thầy qua rồi, tôn giáo trở thành tôn giáo được tổ chức. Nó không còn tính hữu cơ bây giờ bởi vì trung tâm đã biến mất. Bây giờ chu vi cố gắng tồn tại mà không có trung tâm - nó trở thành nhà thờ, tín điều, thượng đế học. Bây giờ tôn giáo rất già; và một ngày nào đó, tôn giáo chết nhưng nhà thờ tiếp tục.
Có ba giai đoạn của tôn giáo. Cũng giống như có thời thơ ấu, thanh niên và tuổi già trong cuộc sống của đàn ông hay đàn bà, vậy có ba giai đoạn trong cuộc sống của tôn giáo. Khi tôn giáo được sinh ra - thời thơ ấu của tôn giáo, khi Thầy còn sống, tươi tắn, và năng lượng còn tuôn chảy từ cội nguồn và hương thơm thoảng tới, khi Phật còn sống hay Lão Tử còn sống hay Jesus còn sống - thế thì tôn giáo có trạng thái hồn nhiên, trong trắng, đầu tiên của nó: thời thơ ấu. Nó tươi tắn như giọt sương buổi ban mai, tươi như hoa hồng, tươi như ngôi sao; nó không biết tới kỉ luật, nó chỉ biết tính tự phát.
Thế rồi, gần Thầy mọi người bắt đầu tụ tập lại. Điều đó nhất định xảy ra - nan châm có đó, mọi người bắt đầu tụ tập. Giai đoạn thứ hai tới: giai đoạn của tôn giáo có tính hữu cơ. Giai đoạn thứ nhất là có tính cá nhân, nổi dậy, tự phát; không có vấn đề nỗ lực nào, kỉ luật nào, kinh sách nào; Thượng đế là ở trong sự trần trụi, chân lí là như nó vậy không nguỵ trang, không trang hoàng. Thế rồi mọi người bắt đầu tụ tập. Giai đoạn thứ hai không mang tính nổi dậy thế vì những người này, và bởi vì những người này, dần dần kỉ luật nảy sinh. Thầy cứ nói về tự phát, nhưng tín đồ không thể hiểu được tính tự phát; họ dịch nó dưới dạng tạo kỉ luật cho chính họ. Thầy nói 'Cứ hiện hữu', họ hỏi 'Làm sao hiện hữu?' Câu hỏi của họ về 'làm sao; dần dần đem tới kỉ luật; họ tạo ra kỉ luật. Để tôi nói điều đó theo cách này: Thầy đem tới tự phát, đệ tử đem tới kỉ luật.
Từ 'disciple - đệ tử' và 'discipline - kỉ luật' bắt nguồn từ cùng một gốc. Khi đệ tử đã tụ tập quanh Thầy, họ bắt đầu phiên dịch điều thầy nói, điều thầy ngụ ý. Họ bắt đầu diễn giải, và tất nhiên họ diễn giải tương ứng theo tâm trí họ - không có cách khác. Nếu bạn diễn giải tất cả, bạn sẽ diễn giải sai.
Đệ tử thực là người không diễn giải, người không phiên dịch, người lắng nghe thụ động, người không hỏi 'làm sao', người không vội vã có được kết quả nào đó, người không hướng đích, người không tham. Đệ tử tham lập tức tạo ra kỉ luật. Đây là giai đoạn thứ hai - vẫn còn sống; tôi gọi giai đoạn này là giai đoạn tính hữu cơ của tôn giáo. Thầy vẫn còn đó, đệ tử đã tới, có đơn vị hữu cơ nhưng....
Ở giai đoạn thứ nhất chỉ có trung tâm, bây giờ có chu vi; và chu vi sẽ cứ trở nên ngày một lớn hơn và lớn hơn, và nó càng lớn hơn nó sẽ càng kém chân thực hơn. Chu vi càng đi xa khỏi trung tâm, nó càng đi xa khỏi chân lí, hồn nhiên. Nó trở thành tri thức, nó trở thành kỉ luật, giáo điều, nhưng dầu vậy một chút ít ánh sáng vẫn tới qua tất cả những màn ảnh này.
Thế rồi, ở giai đoạn thứ ba khi Thầy qua rồi, tôn giáo trở thành tôn giáo được tổ chức. Nó không còn tính hữu cơ bây giờ bởi vì trung tâm đã biến mất. Bây giờ chu vi cố gắng tồn tại mà không có trung tâm - nó trở thành nhà thờ, tín điều, thượng đế học. Bây giờ tôn giáo rất già; và một ngày nào đó, tôn giáo chết nhưng nhà thờ tiếp tục.

Địa ngục, cõi trời, thế giới, niết bàn

Địa ngục và cõi trời không có tính địa lí đâu, nhớ điều đó. Nó chỉ là biểu dụ để giải thích cái gì đó về tâm lí. Địa ngục là trạng thái của tâm trí đang trong khổ sâu sắc - tất nhiên, được tạo ra do việc làm riêng của bạn thôi. Mọi cát bụi bạn ném ra ngược chiều gió đều sẽ rơi vào bản thân bạn, đó là địa ngục - mọi điều sai bạn đã làm cho mọi người sẽ quay lại bạn. Bạn phải thu hoạch lấy mùa màng bởi vì bạn đã gieo hạt mầm. Nếu bạn gieo mầm chất độc thì bạn sẽ phải gặt lấy chất độc. Điều đó đơn giản thế: aes dhammo sanantano - đây là luật vĩnh hằng.

Không ai có thể được miễn trừ khỏi nó, không có người nào có thể là ngoại lệ - mặc dầu mọi người đều nghĩ, "Mình có thể là ngoại lệ, mình có thể tìm ra cách nào đó thoát khỏi nó." Chắc chắn bạn có thể tìm ra cách để thoát khỏi luật pháp con người, bạn có thể tìm ra cách để thoát khỏi bất kì luật pháp nào, bởi vì luật pháp nhân tạo là luật pháp nhân tạo; chúng có thể bị phá vỡ. Và bạn có thể tìm ra những người thông minh có thể chỉ cho bạn cách bỏ qua chúng. Nhưng luật vĩnh hằng, luật tự nhiên, không thể bị phá vỡ; nếu bạn phá chúng bạn nhất định khổ. Khổ đó là địa ngục.

Bất kì khi nào bạn đi ngược lại luật của cuộc sống bạn đều trong địa ngục, và bất kì khi nào bạn đi hài hoà với luật bạn đều trong cõi trời. Cõi trời nghĩa là trạng thái vui vẻ. Và bất kì khi nào bạn đang lơ lửng, không chỗ này chẳng chỗ nọ, không chống đối không ủng hộ, trong trạng thái lờ phờ, trong trạng thái không quyết định, chỉ treo ở giữa, thế thì bạn đang trong thế giới này. Trong kinh sách Phật giáo thế giới này được gọi là madhyalok - trạng thái ở giữa cõi trời và địa ngục.

Có ba loại người trên thế giới: vài người ở cõi trời, nhiều người ở giữa, và nhiều người hơn đang ở trong địa ngục. Và thực ra đây không phải là ba loại người bởi vì từng người đều trải qua tất cả ba trạng thái này mọi ngày. Buổi sáng bạn có thể ở cõi trời, buổi trưa bạn ở trong tình trạng lấp lửng, đến tối, về nhà, bạn ở trong địa ngục. Bạn cứ thay đổi, dịch chuyển. Đây là những trạng thái tâm lí.
Việc vượt ra ngoài tất cả ba loại này được gọi là niết bàn, được gọi là phật tính, được gọi là moksha. Nếu bạn có thể vượt ra ngoài tất cả ba điều này - điều đó có nghĩa là nếu bạn có thể vượt ra ngoài mọi tâm trí - thế thì bạn không chỉ hài hoà với luật... Nếu bạn trong hài hoà với luật thì bạn ở thiên đường, nếu bạn chống lại luật thì bạn ở trong địa ngục. Nếu bạn không quyết định, nửa nọ nửa kia, năm mươi năm mươi, bạn ở thế giới giữa, thế giới này. Nhưng nếu bạn trở thành một với luật, bạn không còn tách rời - thậm chí không trong hài hoà, bởi vì trong hài hoà bạn vẫn tách rời. Nếu bạn trở thành một với luật: nếu bạn vứt bỏ bản ngã và tâm trí của mình một cách toàn bộ; nếu bạn trở nên được hội nhập vào trong luật vĩnh hằng; nếu bạn trở thành đại dương, giọt sương của bạn biến mất trong đại dương và trở thành nó, thế thì bạn không được sinh ra thêm nữa. Thế thì không sinh không tử. Thế thì toàn thể bánh xe của sinh và tử dừng lại. Thế thì bạn là một với vũ trụ, thế thì bạn là Thượng đế.

Đây là điều tối thượng phải được đạt tới, đây là điều tối thượng mà con người có khả năng đạt tới, nhưng cũng có khả năng bỏ lỡ. Chừng nào nỗ lực lớn lao còn chưa được thực hiện với tài năng và thông minh, bạn sẽ không thể nào đạt tới nó được.
Địa ngục và cõi trời không có tính địa lí đâu, nhớ điều đó. Nó chỉ là biểu dụ để giải thích cái gì đó về tâm lí. Địa ngục là trạng thái của tâm trí đang trong khổ sâu sắc - tất nhiên, được tạo ra do việc làm riêng của bạn thôi. Mọi cát bụi bạn ném ra ngược chiều gió đều sẽ rơi vào bản thân bạn, đó là địa ngục - mọi điều sai bạn đã làm cho mọi người sẽ quay lại bạn. Bạn phải thu hoạch lấy mùa màng bởi vì bạn đã gieo hạt mầm. Nếu bạn gieo mầm chất độc thì bạn sẽ phải gặt lấy chất độc. Điều đó đơn giản thế: aes dhammo sanantano - đây là luật vĩnh hằng.

Không ai có thể được miễn trừ khỏi nó, không có người nào có thể là ngoại lệ - mặc dầu mọi người đều nghĩ, "Mình có thể là ngoại lệ, mình có thể tìm ra cách nào đó thoát khỏi nó." Chắc chắn bạn có thể tìm ra cách để thoát khỏi luật pháp con người, bạn có thể tìm ra cách để thoát khỏi bất kì luật pháp nào, bởi vì luật pháp nhân tạo là luật pháp nhân tạo; chúng có thể bị phá vỡ. Và bạn có thể tìm ra những người thông minh có thể chỉ cho bạn cách bỏ qua chúng. Nhưng luật vĩnh hằng, luật tự nhiên, không thể bị phá vỡ; nếu bạn phá chúng bạn nhất định khổ. Khổ đó là địa ngục.

Bất kì khi nào bạn đi ngược lại luật của cuộc sống bạn đều trong địa ngục, và bất kì khi nào bạn đi hài hoà với luật bạn đều trong cõi trời. Cõi trời nghĩa là trạng thái vui vẻ. Và bất kì khi nào bạn đang lơ lửng, không chỗ này chẳng chỗ nọ, không chống đối không ủng hộ, trong trạng thái lờ phờ, trong trạng thái không quyết định, chỉ treo ở giữa, thế thì bạn đang trong thế giới này. Trong kinh sách Phật giáo thế giới này được gọi là madhyalok - trạng thái ở giữa cõi trời và địa ngục.

Có ba loại người trên thế giới: vài người ở cõi trời, nhiều người ở giữa, và nhiều người hơn đang ở trong địa ngục. Và thực ra đây không phải là ba loại người bởi vì từng người đều trải qua tất cả ba trạng thái này mọi ngày. Buổi sáng bạn có thể ở cõi trời, buổi trưa bạn ở trong tình trạng lấp lửng, đến tối, về nhà, bạn ở trong địa ngục. Bạn cứ thay đổi, dịch chuyển. Đây là những trạng thái tâm lí.
Việc vượt ra ngoài tất cả ba loại này được gọi là niết bàn, được gọi là phật tính, được gọi là moksha. Nếu bạn có thể vượt ra ngoài tất cả ba điều này - điều đó có nghĩa là nếu bạn có thể vượt ra ngoài mọi tâm trí - thế thì bạn không chỉ hài hoà với luật... Nếu bạn trong hài hoà với luật thì bạn ở thiên đường, nếu bạn chống lại luật thì bạn ở trong địa ngục. Nếu bạn không quyết định, nửa nọ nửa kia, năm mươi năm mươi, bạn ở thế giới giữa, thế giới này. Nhưng nếu bạn trở thành một với luật, bạn không còn tách rời - thậm chí không trong hài hoà, bởi vì trong hài hoà bạn vẫn tách rời. Nếu bạn trở thành một với luật: nếu bạn vứt bỏ bản ngã và tâm trí của mình một cách toàn bộ; nếu bạn trở nên được hội nhập vào trong luật vĩnh hằng; nếu bạn trở thành đại dương, giọt sương của bạn biến mất trong đại dương và trở thành nó, thế thì bạn không được sinh ra thêm nữa. Thế thì không sinh không tử. Thế thì toàn thể bánh xe của sinh và tử dừng lại. Thế thì bạn là một với vũ trụ, thế thì bạn là Thượng đế.

Đây là điều tối thượng phải được đạt tới, đây là điều tối thượng mà con người có khả năng đạt tới, nhưng cũng có khả năng bỏ lỡ. Chừng nào nỗ lực lớn lao còn chưa được thực hiện với tài năng và thông minh, bạn sẽ không thể nào đạt tới nó được.

Thiền và lời cầu nguyện

Thưa Thầy kính yêu,

Sao thầy nói rằng thiền là đúng còn cầu nguyện là sai? Theo ý kiến tôi, thiền đem lại bình thản bên trong sâu sắc cho người ta vì riêng người ta, nhưng cầu nguyện sâu sắc và bình thản cho người ta kết nối trực tiếp và mãnh liệt với Thượng đế, và thánh thần linh thiêng giáng xuống người ta.


Rosemary, tôi đã không nói điều bạn đã nghe. Bạn phải nghe qua tầng dầy của Ki tô giáo, tầng dầy rác rưởi.

Ngay chỗ đầu tiên bạn nói, "Sao thầy nói rằng thiền là đúng còn cầu nguyện là sai?" ... Bởi vì thiền là lời cầu nguyện duy nhất có đó, và lời cầu nguyện là có thể chỉ trong thiền; bất kì lời cầu nguyện nào khác cũng đều là giả, rởm. Nếu bạn chưa ở trong thiền sâu, làm sao bạn biết rằng có Thượng đế? Thế thì ý tưởng về Thượng đế chỉ là ước định người khác trao cho bạn.

Nghĩ mà xem, Rosemary, nếu bạn được sinh ra ở nước Nga Xô viết, thế thì bạn sẽ không nói về Thượng đế chút nào. Bạn sẽ không nói về Kinh Thánh; bạn sẽ nói về Cương lĩnh cộng sản hay Das Kapital - Tư bản luận. Bạn sẽ không nói về tam thể linh thiêng gồm Thượng đế Cha và Con và Thánh thần linh thiêng; bạn sẽ nói về tam thể không linh thiêng Karl Marx, Friedrich Engels và V.I. Lenin, bởi vì bạn đã được bảo và được ước định bởi giáo dục cộng sản.

Nếu bạn được sinh ra trong gia đình Jaina bạn sẽ chẳng bao giờ nghĩ tới lời cầu nguyện, không bao giờ - bởi vì không có Thượng đế, cho nên cầu nguyện ai? Nếu bạn được sinh ra trong gia đình Phật tử, mọi sự đã hoàn toàn khác bởi vì bạn sẽ bị ước định theo cách khác. Đó không phải là bạn, Rosemary, người đang đang hỏi câu hỏi này; đó là ước định của bạn. Và mọi ước định đều sai.

Thiền nghĩa là trạng thái của tâm trí không bị ước định. Thiền là quá trình hoàn tác lại cái hại mà mọi xã hội gây cho mọi cá nhân - cộng sản hay Cơ đốc giáo, Jaina hay Do Thái, không thành vấn đề. Tôi không nói về bất kì ước định đặc biệt nào là sai; tôi nói ước định như nó là sai.

Ước định không là gì ngoài quá trình thôi miên mọi người: lặp lại từ thời thơ ấu, trong nhà thờ, trong trường chủ nhật.... Bạn đã được nói cho về Thượng đế và lời cầu nguyện và bạn đã được nói cho từ cha mẹ bạn và các thầy giáo và các tu sĩ và mọi người có thẩm quyền. Và đứa trẻ nhỏ đã học cách bắt chước những người đang có quyền. Bây giờ bạn đã hoàn toàn quên hết sự bắt đầu của ước định.

Không đứa trẻ nào được sinh ra là người Ki tô giáo hay Hindu giáo. Không đứa trẻ nào được sinh ra cùng ý tưởng về sự tồn tại của Thượng đế - liệu Thượng đế tồn tại hay không tồn tại, liệu có một địa ngục hay bẩy địa ngục hay bẩy mươi hay bẩy trăm. Không đứa trẻ nào được sinh ra với bất kì thượng đế học nào.

Thiền nghĩa là quá trình loại bỏ đi tất cả những cái đã bị ép buộc lên bạn để cho bạn có thể lại trở thành đứa trẻ. Đó là điều Jesus nói. Ông ấy nói: Chừng nào ông còn chưa giống như đứa trẻ ông sẽ không vào được vương quốc của Thượng đế của ta. Ông ấy đang nói về giải ước định, giải thôi miên đấy. Ông ấy không dùng những từ này 'giải ước định', 'giải thôi miên', bởi vì những từ này đã không tồn tại vào thời ông ấy, nhưng đó là điều thực tế ông ấy đang nói. Ông ấy nói: Chừng nào ông còn chưa trở thành đứa trẻ lần nữa.... Lặp đi lặp lại ông ấy nói: Chừng nào ông chưa được sinh ra lần nữa... bởi vì việc sinh này đã từng bị mọi người làm bẩn; họ đã đầu độc tâm trí bạn. Bạn cần một sinh thành tâm linh mới. Và nó là có thể chỉ qua thiền; không có cách khác.

Lời cầu nguyện nghĩa là bạn sẽ tiếp tục ước định này. Nếu bạn là người Ki tô giáo, lời cầu nguyện của bạn sẽ là của người Ki tô giáo. Chính câu hỏi của bạn nói... nó bốc mùi Ki tô giáo! Người Hindu sẽ không nói điều này, người đó sẽ không dùng các từ như vậy: "Và thánh thần linh thiêng giáng xuống người ta." Người Jaina sẽ không bao giờ dùng thuật ngữ như vậy - không thể được, bởi vì với người Jaina, chẳng cái gì xuống cả, mọi thứ đều đi lên! Người đó tin vào trưởng thành lên thành thượng đế. Thượng đế không phải là ai đó có đó trên cao, người đi xuống bạn; không có Thượng đế. Bạn có hạt mầm của tính thiêng liêng; nó trưởng thành lên. Thánh thần linh thiêng giáng xuống bạn đơn giản là cái gì đó đã được dạy cho bạn.

Bạn nói, "Theo ý kiến tôi...."

Ý kiến chẳng nghĩa lí gì! Nếu bạn có kinh nghiệm nào đó, thế thì nó là quan trọng. Ý kiến chỉ là ý kiến. Ý kiến nghĩa là cái gì đó của tâm trí. Bạn đã không kinh nghiệm cái gì cả; nó chỉ là một ý nghĩ. Mọi người có đủ loại ý kiến.

Tôi đã nghe:

Hai con lạc đà đi qua sa mạc. Cả hai trông đều rất mệt mỏi và cả hai đều muốn nói điều gì đó cho nhau, nhưng bằng cách nào đó chúng vẫn giữ kiểm soát.

Chung cuộc một con bùng ra và nó nói, "Bất kì điều gì mọi người nói, bất kì ý kiến nào của họ, tôi muốn nói rằng tôi khát!"

Khát không phải là ý kiến, nó là kinh nghiệm của bạn? Nếu nó là kinh nghiệm của bạn, câu hỏi này không thể nảy sinh, bởi vì thế thì bạn đã hiểu đích xác điều tôi nói.

Thiền là quá trình lau sạch bạn, và khi bạn hoàn toàn sạch sẽ, hương thơm nảy sinh trong bạn. Đó là lời cầu nguyện. Lời cầu nguyện là hệ quả của thiền. Tôi không chống lại lời cầu nguyện; tôi chống lại lời cầu nguyện của bạn, nhưng không chống lại bản thân lời cầu nguyện. Lời cầu nguyện của bạn là giả. Lời cầu nguyện của bạn chỉ là một phần của ước định của bạn. Người Hindu cầu nguyện theo cách Hindu và người Mô ha mét giáo cầu nguyện theo cách Mô hat mét giáo, nhưng lời cầu nguyện thực thì không Hindu giáo không Mô ha mét giáo. Nó tới từ bản thể không ước định. Làm sao nó có thể có tính Hindu hay tính Mô ha mét giáo được?

Lời cầu nguyện thực đơn giản là lời cầu nguyện. Nó không có lời; nó là im lặng thuần khiết. Nó là buông xuôi trong im lặng sâu sắc. Thực tế nó không gửi tới bất kì Thượng đế nào; nó là việc cúi mình trước toàn thể sự tồn tại. Nó không có địa chỉ. Thượng đế ở mọi nơi, tất cả đều là Thượng đế, cho nên bạn đơn giản cúi mình trong lòng biết ơn vô cùng, trong cực lạc, trong vui vẻ, trong tình yêu. Nhưng đầu tiên tình yêu của bạn, cực lạc của bạn, vui vẻ của bạn phải được toả ra. Bạn chỉ là hạt mầm, và nói về hương thơm sẽ chỉ là ý kiến nghe được từ người khác, thứ vay mượn. Và bất kì cái gì vay mượn cũng đều xấu. Bất kì cái gì vay mượn đều sẽ chỉ là lời nói.

Và đó là điều đã xảy ra: khi bạn nghe tôi bạn chỉ hiểu nghĩa đen của lời. Bạn bỏ lỡ ý nghĩa.

Một người bạn tốt... một người bạn Ki tô giáo đã tán tỉnh Giáo sĩ Berkowitz tới tham dự tại nhà thờ Thánh Joseph trong thành phố, điều đã làm cho Schlitz nổi tiếng. Ông giáo sĩ già, trong một thời gian dài đã về hưu, cuối cùng đồng ý khi được giải thích rằng một chức sắc thỉnh giảng sẽ nói về ảnh hưởng Do Thái lên sự hình thành nhà thờ này.

Ở ngay hàng đầu, mắt giáo sĩ Berkowitz mở to khi vị diễn giả thỉnh giảng này công bố chủ đề của mình: "Tên tôi là Joseph, Cha của Jesus."

Vào lúc kết thúc bài nói, khi họ đã được giới thiệu, giáo sĩ này nói một cách khô khan, "Ông bạn ơi, ông đã có kinh nghiệm bất thường nhất!"

Ông ấy đã hiểu lầm toàn thể sự việc. Ông ấy lấy tiêu đề của bài nói theo nghĩa từng từ: Tên tôi là Joseph, Cha của Jesus. Đó chỉ là chủ đề. Người này không nói rằng mình là Joseph, là cha của Jesus. Ông giáo sĩ nói, "Ông bạn ơi, ông đã có kinh nghiệm bất thường nhất" - là bố của Jesus, sau hai nghìn năm. Và Jesus đã là con của người đàn bà đồng trinh; điều đó chắc chắn là kinh nghiệm bất thường cho người bố!

Điều đó đã xảy ra cho bạn, Rosemary. Tôi đã không nói gì chống lại lời cầu nguyện, nhưng tôi đã nói rằng thiền chuẩn bị con đường. Nó lau sạch bạn - nó lau sạch bạn khỏi mọi ý nghĩ được người khác trao cho. Nó tạo ra không gian trong đó lời cầu nguyện có thể nở hoa. Thiền đem tới mùa xuân - và không có cách khác. Nếu bạn cầu nguyện mà không thiền, thế thì hoa của bạn sẽ là hoa nhựa. Hoa thực của lời cầu nguyện chỉ phát triển trong thiền. Và thế thì lời cầu nguyện không được gửi tới Thượng đế; thực tế, thế thì không có Thượng đế.

Toàn thể ý tưởng về Thượng đế Cha là trẻ con, và Sigmund Freud là đúng rằng đó là phóng chiếu của ham muốn sâu sắc của chúng ta để níu bám lấy bố mẹ. Nó là phóng chiếu của ý tưởng riêng của bạn về người bố, bởi vì bố bạn không thể ở cùng với bạn mãi mãi được. Một ngày nào đó ông ấy chết và bạn mất bảo vệ, an ninh, an toàn. Và bạn phóng chiếu người bố trên cõi trời, người có mãi mãi và mãi mãi, người sẽ không bao giờ chết và bao giờ cũng chăm sóc bạn. Và bạn quì trên đầu gối cầu nguyện với người bố trên cõi trời. Ý tưởng này là bịa đặt của bạn, lời cầu nguyện là bịa đặt của bạn. Và bạn làm điều ngu xuẩn này trong cả đời mình, nghĩ rằng bạn đang làm cái gì đó tôn giáo lắm.

Và đôi khi điều có thể xảy ra là một số lời cầu nguyện của bạn có thể được hoàn thành. Điều đó chỉ là trùng hợp ngẫu nhiên. Nếu bạn cứ cầu nguyện về cả nghìn thứ, thỉnh thoảng điều đó nhất định xảy ra.

Một người tới tôi và người đó nói, "Tôi chưa bao giờ tin vào Thượng đế, nhưng bây giờ tôi tin."

Tôi nói, "Chuyện gì xảy ra?"

Người đó nói, "Tôi đã trao tối hậu thư cho Thượng đế rằng nếu trong vòng mười lăm ngày con trai tôi không kiếm được việc, tôi sẽ trở thành người vô thần chắc chắn mãi mãi. Và việc đe doạ đó có tác dụng: trong vòng mười lăm ngày con trai tôi đã có việc làm. Bây giờ tôi là người tin vững chắc."

Tôi nói, "Điều đó hoàn toàn tốt, nhưng đừng bao giờ đưa ra tối hậu thư nữa bởi vì không phải bao giờ nó cũng có tác dụng. Nó chỉ là trùng hợp ngẫu nhiên thôi."

Nhưng người đó đã không nghe tôi. Sau hai năm ông ấy gặp tôi và ông ấy nói, "Thầy đúng. Tôi lại đã đưa ra tối hậu thư. Vợ tôi rất ốm và tôi bảo ngài rằng phải phải cứu bà ấy, bằng không tôi sẽ trở thành kẻ vô thần." Ông ấy cứ tưởng rằng có lần thủ đoạn đó đã có tác dụng; bây giờ ông ấy biết cách buộc Thượng đế phục vụ ông ấy.

Đó là điều mọi người đang cầu nguyện đều làm; họ cố gắng dùng Thượng đế. Họ cố gắng dùng Thượng đế như phương tiện vì mục đích nào đó.
Và người vợ chết. Chắc chắn ông ấy trở thành kẻ vô thần.

Lời cầu nguyện đôi khi sẽ được hoàn thành - không phải là có ai đó ở đó nghe lời cầu nguyện của bạn và hoàn thành chúng - và đôi khi chúng sẽ không được hoàn thành. Và các tu sĩ đều rất láu cá. Họ sẽ nói, "Bất kì khi nào lời cầu nguyện của ông được hoàn thành ông đã cầu nguyện sâu sắc, chân thực, chân thành." Và bất kì khi nào lời cầu nguyện của bạn không được hoàn thành họ nói, "Lời cầu nguyện của ông hời hợt." Và luận cứ này có nhiều hấp dẫn bởi vì, thực tế, tất cả những lời cầu nguyện của bạn đều hời hợt cho nên bạn biết hoàn toàn rõ rằng lời cầu nguyện của bạn là hời hợt. Tu sĩ bao giờ cũng có thể nói rằng bạn đã cầu nguyện đấy, nhưng sâu bên dưới có hoài nghi.

Bao giờ cũng có hoài nghi bởi niềm tin của bạn vào Thượng đế không thể phá huỷ được hoài nghi; nó chỉ có thể kìm nén hoài nghi. Và hoài nghi bị kìm nén bao giờ cũng sôi lên bên trong bạn, sẵn sàng bùng nổ.
Cho nên đừng bị lừa nếu đôi khi sự trùng hợp ngẫu nhiên xảy ra. Đó là cách nhiều điều liên tục trên thế giới, nhiều thứ có thể tiếp tục trên thế giới. Tất cả đều là trò bịp bợm!

Chẳng hạn, có nhiều "liệu pháp" thế trên thế giới: vi lượng đồng cân liệu pháp, thiên nhiên liệu pháp, châm cứu liệu pháp, và nhiều liệu pháp khác thế. Họ tất cả đều công bố chữa lành - và lời công bố của họ không sai; họ chữa được cho nhiều người. Bạn thử mà xem. Cứ cho mọi người thuốc đường và bạn sẽ ngạc nhiên; nhiều người được chữa khỏi, cho nên bạn đã phát minh ra liệu pháp mới. Bẩy mươi phần trăm mọi người đều chỉ ốm giả, họ không ốm thật. Bẩy mươi phần trăm bệnh tật đều là bệnh tâm lí, cho nên mọi điều cần là ai đó thuyết phục họ rằng "Điều này sẽ có ích." Và mọi người cứ đi tới vi lượng đồng cân liệu pháp và tới các thuốc bí truyền khi chẳng cái gì khác giúp họ.

Rắc rối với liệu pháp là ở chỗ nó chỉ có thể có ích nếu bệnh tật của bạn là thực. Nếu bệnh tật của bạn mà không thật, thế thì thuốc thật sẽ gây hại thay vì giúp bạn. Cho nên bạn phải tìm loại lang băm nào đó, ai đó có thể cho bạn thuốc giả để chữa bệnh giả của bạn.

Lời cầu nguyện của bạn là giả, bệnh của bạn là giả. Đôi khi chúng có ích, và khi chúng giúp ích, bạn trở nên càng được thuyết phục hơn. Và trong thất vọng, trong bất lực sâu sắc, bạn không biết chỗ nào khác để đi. Khi tất cả nỗ lực con người đều thất bại bạn bắt đầu nhìn lên trời. Điều đó bao giờ cũng là vậy; chẳng có gì mấy đã thay đổi.

Trong Vedas có nói: Khi có sét trong mây, đó là Thượng đế giận dữ; đó là cơn giận của ngài. Hãy cầu nguyện Thượng đế. Bây giờ chúng ta biết đấy không phải là Thượng đế hay cơn giận của ngài; bây giờ chúng ta biết đấy là điện, điện tự nhiên. Bây giờ chúng ta đang dùng cơn giận của Thượng đế trong việc cho chạy quạt và máy móc. Bây giờ không ai cầu nguyện. Ở Ấn Độ, dầu vậy, khi bạn bật đèn lên buổi tối, những người Hindu chính thống sẽ lập tức cúi đầu khoanh tay - với bóng điện! Chỉ là ước định cũ.
Thượng đế đã làm nhiều điều; bây giờ khoa học đang làm tất cả những điều đó. Thượng đế cứ bị tước dần quyền mọi ngày! Thực tế, chẳng mấy chốc ngài sẽ thất nghiệp thôi; bạn sẽ thấy ngài xếp hàng đứng trước văn phòng việc làm nào đó! Thượng đế của bạn là bịa đặt của bạn. Friedrich Nietzsche là đúng về Thượng đế của bạn - rằng Thượng đế đó chết rồi. Cho nên đừng quá ngạc nhiên hay bị thuyết phục khi sự trùng hợp ngẫu nhiên nào đó xảy ra. Trùng hợp ngẫu nhiên bao giờ cũng xảy ra.

Trên khoang chuyến bay phản lực của hãng El-Al tới Israel, một bà mẹ trẻ và hai đứa con vừa ổn định chỗ thì đứa nhỏ hơn bắt đầu la hét rằng chúng phải đi "nhà xí." Hai tu sĩ đang đi hành hương tới Đất Thánh, ngồi ngay trước nhóm gia đình nhỏ này, mỉm cười thích thú trong khi người mẹ bối rối nhanh chóng đem lũ trẻ vào phòng vệ sinh trên máy bay. Sau khi ngần ngại một chốc, cô ta đẩy đứa nhỏ vào trong khoang đánh dấu "Quí ông," trong khi cô ta vào phòng dành cho quí bà cùng cô con gái nhỏ.
Đứa con trai nhanh chóng chui ra và một trong hai tu sĩ bước vào, quên mất không khoá cửa. Vài giây sau, người mẹ hiện ra từ phòng vệ sinh cho đàn bà và mở hé cánh cửa kia, cứ tưởng cậu con trai vẫn còn đó. "Đừng quên kéo phec mơ tuya quần đấy."

Khi tu sĩ trở về chỗ mình ông ta hết lời ca ngợi hãng hàng không. "Các ông phải trao nó cho các cô phục vụ viên Do Thái này," ông ta nói với tu sĩ bạn đồng hành. "Họ nghĩ chu đáo đủ mọi thứ!"

Cẩn thận về sự trùng hợp ngẫu nhiên!

Bạn nói, Rosemary này, "Sao thầy nói rằng thiền là đúng còn cầu nguyện là sai?"

Cầu nguyện không đúng; ở trong lời cầu nguyện mới đúng. Cầu nguyện nghĩa là bạn sẽ nói điều gì đó với Thượng đế. Thượng đế của bạn là bịa đặt của bạn, lời cầu nguyện của bạn là bịa đặt của bạn. Và bạn sẽ nói gì? Toàn thứ tầm thường: Làm cái này, làm cái kia, không làm cái kia. Hay: Ngài vĩ đại. Ngài đã nghe điều đó từ lâu rồi, ngài phải phát ngán! Ngài phải dùng nút tai để tránh cái gọi là những người tôn giáo này! Cả triệu người cầu nguyện và nói đủ mọi thứ với Thượng đế. Ngài phải phát mệt, hoàn toàn mệt mỏi.

Nhưng ở trong lời cầu nguyện là hiện tượng hoàn toàn khác. Cầu nguyện là một điều; điều đó ấu trĩ, bắt nguồn từ tâm trí bị ước định. Nhưng ở trong lời cầu nguyện nghĩa là ở trong tình yêu với sự tồn tại, ở trong điệu vũ với sự tồn tại, nhảy múa với các vì sao, hát với chim chóc, tuôn chảy theo dòng sông. Đó là lời cầu nguyện. Nhưng lời cầu nguyện đó nảy sinh chỉ khi thiền đã tạo ra không gian đúng cho nó. Do đó nhấn mạnh của tôi là vào thiền và tôi không nói nhiều về lời cầu nguyện, bởi vì khi thiền đầy đủ, lời cầu nguyện tới theo cách riêng của nó. Không cần nói về nó - bởi vì nếu tôi nói về lời cầu nguyện có mọi nguy hiểm bạn sẽ hiểu lầm, bởi vì lời cầu nguyện là dễ còn thiền là khó.

Lời cầu nguyện là dễ dàng, rất rẻ. Bạn có thể tới nhà thờ, quì dưới đầu gối, khoanh tay lại, nói với Thượng đế. Điều đó chẳng tốn kém gì. Hay mọi đêm trước khi bạn đi ngủ bạn cầu nguyện Thượng đế....

Tôi đã nghe về một người rất, rất thông minh, người đã để dán lời cầu nguyện của mình lên tường ngay cạnh giường nằm. Và trước khi người đó đi ngủ người đó sẽ nói với Thượng đế, "Ngài đọc nó đi."

Phỏng có ích gì mà nói cùng điều mọi ngày? Và người ta hi vọng rằng Thượng đế ít nhất cũng phải có khả năng đọc nó! Điều đó dường như còn rõ ràng hơn, thông minh hơn nhiều. Sao cứ lặp lại nó như con vẹt mọi ngày vậy?

Tôi không nói bạn cầu nguyện bởi vì tôi biết rằng bất kì cái gì bạn làm ngay bây giờ cũng sẽ sai. Tôi dạy thiền - và lời cầu nguyện tất yếu tới; điều đó không thể tránh khỏi, nhưng là loại lời cầu nguyện khác toàn bộ, với hương thơm khác, đường viền khác cho nó. Nó chỉ là vui vẻ, vui đùa, lòng biết ơn. Bạn cảm thấy được hoàn thành, được phúc lạc tới mức toàn thể trái tim bạn nói cám ơn - không trong nhiều lời thế - toàn thể trái tim bạn nói có. Toàn thể trái tim bạn trở thành có. Bạn được buông xuôi. Cuộc sống của bạn là lời cầu nguyện. Thế thì bạn không cần tới nhà thờ hay đền chùa hay đền thờ hồi giáo. Bạn sống lời cầu nguyện của mình. Bạn thở, bạn uống, bạn đi... và tất cả đó là lời cầu nguyện.

Bạn nói, "Theo ý kiến tôi, thiền đem lại bình thản bên trong sâu sắc cho người ta vì riêng người ta...." Rosemary, bạn đã bao giờ thiền chưa? Ý kiến đơn thuần không có giá trị - và nó là ý kiến đơn thuần. Bạn có thể đã đọc, bạn có thể đã nghe nói về nó, nhưng đừng cho các ý kiến tầm quan trọng nhiều.

Bạn nói, "Thiền đem lại bình thản bên trong sâu sắc cho người ta vì riêng người ta...." Bạn không có kinh nghiệm nào, hương vị nào của thiền. Trong thiền, cái ta biến mất, bản ngã biến mất. Không có vấn đề về "vì riêng người ta." Con người không còn là hòn đảo; con người trở thành một phần của lục địa sự tồn tại bao la. Thiền nghĩa là bạn biến mất, bay hơi. Bạn không còn đó nữa, chỉ cái không thuần khiết. Làm sao nó có thể vì riêng người ta được? Không cái ta nào còn lại. Trong thiền, không cái ta nào đã bao giờ được tìm thấy cho nên làm sao nó có thể là ích kỉ được?

Mọi người tới tôi và họ hỏi tôi - đặc biệt các nhà truyền giáo Ki tô giáo - họ viết thư cho tôi: "Ông đang dạy mọi người thiền; điều đó là một loại ích kỉ." Họ không biết họ đang nói về gì.

Thiền là cách duy nhất để gạt bỏ cái ngã. Thiền là khả năng duy nhất để tạo ra cái không ngã trong thế giới này. Mọi thứ khác đều ích kỉ. Nhà truyền giáo Ki tô giáo phục vụ người nghèo, người què - đây tất cả đều ích kỉ. Mẹ Teresa ở Calcutta và tất cả mọi việc của bà ấy đều tuyệt đối ích kỉ.

Tại sao tôi gọi những công việc này là ích kỉ? Họ đang làm phục vụ lớn lao cho nhân loại, nhưng họ đang làm việc phục vụ nhân loại như phương tiện để lên cõi trời. Họ đang dùng người nghèo và người mù và người què và người hủi làm chiếc thang để lên trời.

Cứ nghĩ về một thế giới không ai nghèo, không ai què, không ai hủi, không ai mù. Thế thì Mẹ Teresa sẽ làm gì? Bạn sẽ vẫn cho bà ấy giải thưởng Nobel chứ? Để làm gì? Yêu cầu căn bản là ở chỗ người mù phải có đó, người nghèo phải có đó, người hủi phải có đó, goá phụ phải có đó, trẻ mồ côi phải có đó. Hàng nghìn trẻ mồ côi được cần cho một người đàn bà trở thành người phục vụ vĩ đại cho nhân loại.

Một trong các tu sĩ Hindu, ông đạo trưởng của các tu sĩ Hindu, Karpatri, đã viết một cuốn sách, Chống chủ nghĩa xã hội. Ông ấy đưa ra nhiều lí do chống lại chủ nghĩa xã hội, nhưng lí do nực cười nhất mà ông ấy đưa ra là ở chỗ trong kinh sách Hindu có nói: Chừng nào ông còn chưa cúng dường cho người nghèo ông sẽ không bao giờ vào được cõi trời. Và chủ nghĩa xã hội đang cố gắng phá huỷ giai cấp cho nên sẽ không có người nghèo, người giầu. Một khi không ai giầu và không ai nghèo, ai sẽ cúng dường cho ai? Và điều gì sẽ xảy ra cho cõi trời? Rất logic! Và những người này đều là những người phục vụ lớn lao cho nhân loại đấy! Những người ngu xuẩn này được coi là thánh nhân!

Trong thiền, bạn biến mất; trong lời cầu nguyện, bạn có rất nhiều ở đó. Bạn phải ở đó để cầu nguyện; bằng không ai sẽ cầu nguyện và cầu với ai?
Martin Buber đã viết một trong những cuốn sách vĩ đại nhất của thời nay, Ta và người. Ông ấy nói rằng lời cầu nguyện là mối quan hệ giữa ta và người; cả hai đều được cần tới. "Ta" được cần tới - người sẽ cầu nguyện - và "người," một khái niệm về Thượng đế. Thế thì lời cầu nguyện là có thể. Lời cầu nguyện là đối thoại giữa ta và người. Lời cầu nguyện về căn bản là ích kỉ, lấy cái ta làm trung tâm.

Nhưng thiền không phải là đối thoại chút nào. Không cần ta cũng chẳng cần người. Không ta, không người. Toàn thể ý tưởng về ta-và-người biến mất. Im lặng bao trùm, im lặng trinh nguyên, không bị quấy nhiễu bởi bất kì đối thoại nào. Nó không vì cái ta riêng nào cả. Người ta biến mất; chỉ thế thì thiền mới xảy ra.

Thiền giống như việc mở bông hoa ra, và lời cầu nguyện là hương thơm của hoa được toả ra theo gió. Tôi không nói về hương thơm, tôi chỉ dạy cách vun trồng hoa, Rosemary, nhớ lấy!

Trích từ "Dhammapada: Con đường của Phật - Tập 10"
Thưa Thầy kính yêu,

Sao thầy nói rằng thiền là đúng còn cầu nguyện là sai? Theo ý kiến tôi, thiền đem lại bình thản bên trong sâu sắc cho người ta vì riêng người ta, nhưng cầu nguyện sâu sắc và bình thản cho người ta kết nối trực tiếp và mãnh liệt với Thượng đế, và thánh thần linh thiêng giáng xuống người ta.


Rosemary, tôi đã không nói điều bạn đã nghe. Bạn phải nghe qua tầng dầy của Ki tô giáo, tầng dầy rác rưởi.

Ngay chỗ đầu tiên bạn nói, "Sao thầy nói rằng thiền là đúng còn cầu nguyện là sai?" ... Bởi vì thiền là lời cầu nguyện duy nhất có đó, và lời cầu nguyện là có thể chỉ trong thiền; bất kì lời cầu nguyện nào khác cũng đều là giả, rởm. Nếu bạn chưa ở trong thiền sâu, làm sao bạn biết rằng có Thượng đế? Thế thì ý tưởng về Thượng đế chỉ là ước định người khác trao cho bạn.

Nghĩ mà xem, Rosemary, nếu bạn được sinh ra ở nước Nga Xô viết, thế thì bạn sẽ không nói về Thượng đế chút nào. Bạn sẽ không nói về Kinh Thánh; bạn sẽ nói về Cương lĩnh cộng sản hay Das Kapital - Tư bản luận. Bạn sẽ không nói về tam thể linh thiêng gồm Thượng đế Cha và Con và Thánh thần linh thiêng; bạn sẽ nói về tam thể không linh thiêng Karl Marx, Friedrich Engels và V.I. Lenin, bởi vì bạn đã được bảo và được ước định bởi giáo dục cộng sản.

Nếu bạn được sinh ra trong gia đình Jaina bạn sẽ chẳng bao giờ nghĩ tới lời cầu nguyện, không bao giờ - bởi vì không có Thượng đế, cho nên cầu nguyện ai? Nếu bạn được sinh ra trong gia đình Phật tử, mọi sự đã hoàn toàn khác bởi vì bạn sẽ bị ước định theo cách khác. Đó không phải là bạn, Rosemary, người đang đang hỏi câu hỏi này; đó là ước định của bạn. Và mọi ước định đều sai.

Thiền nghĩa là trạng thái của tâm trí không bị ước định. Thiền là quá trình hoàn tác lại cái hại mà mọi xã hội gây cho mọi cá nhân - cộng sản hay Cơ đốc giáo, Jaina hay Do Thái, không thành vấn đề. Tôi không nói về bất kì ước định đặc biệt nào là sai; tôi nói ước định như nó là sai.

Ước định không là gì ngoài quá trình thôi miên mọi người: lặp lại từ thời thơ ấu, trong nhà thờ, trong trường chủ nhật.... Bạn đã được nói cho về Thượng đế và lời cầu nguyện và bạn đã được nói cho từ cha mẹ bạn và các thầy giáo và các tu sĩ và mọi người có thẩm quyền. Và đứa trẻ nhỏ đã học cách bắt chước những người đang có quyền. Bây giờ bạn đã hoàn toàn quên hết sự bắt đầu của ước định.

Không đứa trẻ nào được sinh ra là người Ki tô giáo hay Hindu giáo. Không đứa trẻ nào được sinh ra cùng ý tưởng về sự tồn tại của Thượng đế - liệu Thượng đế tồn tại hay không tồn tại, liệu có một địa ngục hay bẩy địa ngục hay bẩy mươi hay bẩy trăm. Không đứa trẻ nào được sinh ra với bất kì thượng đế học nào.

Thiền nghĩa là quá trình loại bỏ đi tất cả những cái đã bị ép buộc lên bạn để cho bạn có thể lại trở thành đứa trẻ. Đó là điều Jesus nói. Ông ấy nói: Chừng nào ông còn chưa giống như đứa trẻ ông sẽ không vào được vương quốc của Thượng đế của ta. Ông ấy đang nói về giải ước định, giải thôi miên đấy. Ông ấy không dùng những từ này 'giải ước định', 'giải thôi miên', bởi vì những từ này đã không tồn tại vào thời ông ấy, nhưng đó là điều thực tế ông ấy đang nói. Ông ấy nói: Chừng nào ông còn chưa trở thành đứa trẻ lần nữa.... Lặp đi lặp lại ông ấy nói: Chừng nào ông chưa được sinh ra lần nữa... bởi vì việc sinh này đã từng bị mọi người làm bẩn; họ đã đầu độc tâm trí bạn. Bạn cần một sinh thành tâm linh mới. Và nó là có thể chỉ qua thiền; không có cách khác.

Lời cầu nguyện nghĩa là bạn sẽ tiếp tục ước định này. Nếu bạn là người Ki tô giáo, lời cầu nguyện của bạn sẽ là của người Ki tô giáo. Chính câu hỏi của bạn nói... nó bốc mùi Ki tô giáo! Người Hindu sẽ không nói điều này, người đó sẽ không dùng các từ như vậy: "Và thánh thần linh thiêng giáng xuống người ta." Người Jaina sẽ không bao giờ dùng thuật ngữ như vậy - không thể được, bởi vì với người Jaina, chẳng cái gì xuống cả, mọi thứ đều đi lên! Người đó tin vào trưởng thành lên thành thượng đế. Thượng đế không phải là ai đó có đó trên cao, người đi xuống bạn; không có Thượng đế. Bạn có hạt mầm của tính thiêng liêng; nó trưởng thành lên. Thánh thần linh thiêng giáng xuống bạn đơn giản là cái gì đó đã được dạy cho bạn.

Bạn nói, "Theo ý kiến tôi...."

Ý kiến chẳng nghĩa lí gì! Nếu bạn có kinh nghiệm nào đó, thế thì nó là quan trọng. Ý kiến chỉ là ý kiến. Ý kiến nghĩa là cái gì đó của tâm trí. Bạn đã không kinh nghiệm cái gì cả; nó chỉ là một ý nghĩ. Mọi người có đủ loại ý kiến.

Tôi đã nghe:

Hai con lạc đà đi qua sa mạc. Cả hai trông đều rất mệt mỏi và cả hai đều muốn nói điều gì đó cho nhau, nhưng bằng cách nào đó chúng vẫn giữ kiểm soát.

Chung cuộc một con bùng ra và nó nói, "Bất kì điều gì mọi người nói, bất kì ý kiến nào của họ, tôi muốn nói rằng tôi khát!"

Khát không phải là ý kiến, nó là kinh nghiệm của bạn? Nếu nó là kinh nghiệm của bạn, câu hỏi này không thể nảy sinh, bởi vì thế thì bạn đã hiểu đích xác điều tôi nói.

Thiền là quá trình lau sạch bạn, và khi bạn hoàn toàn sạch sẽ, hương thơm nảy sinh trong bạn. Đó là lời cầu nguyện. Lời cầu nguyện là hệ quả của thiền. Tôi không chống lại lời cầu nguyện; tôi chống lại lời cầu nguyện của bạn, nhưng không chống lại bản thân lời cầu nguyện. Lời cầu nguyện của bạn là giả. Lời cầu nguyện của bạn chỉ là một phần của ước định của bạn. Người Hindu cầu nguyện theo cách Hindu và người Mô ha mét giáo cầu nguyện theo cách Mô hat mét giáo, nhưng lời cầu nguyện thực thì không Hindu giáo không Mô ha mét giáo. Nó tới từ bản thể không ước định. Làm sao nó có thể có tính Hindu hay tính Mô ha mét giáo được?

Lời cầu nguyện thực đơn giản là lời cầu nguyện. Nó không có lời; nó là im lặng thuần khiết. Nó là buông xuôi trong im lặng sâu sắc. Thực tế nó không gửi tới bất kì Thượng đế nào; nó là việc cúi mình trước toàn thể sự tồn tại. Nó không có địa chỉ. Thượng đế ở mọi nơi, tất cả đều là Thượng đế, cho nên bạn đơn giản cúi mình trong lòng biết ơn vô cùng, trong cực lạc, trong vui vẻ, trong tình yêu. Nhưng đầu tiên tình yêu của bạn, cực lạc của bạn, vui vẻ của bạn phải được toả ra. Bạn chỉ là hạt mầm, và nói về hương thơm sẽ chỉ là ý kiến nghe được từ người khác, thứ vay mượn. Và bất kì cái gì vay mượn cũng đều xấu. Bất kì cái gì vay mượn đều sẽ chỉ là lời nói.

Và đó là điều đã xảy ra: khi bạn nghe tôi bạn chỉ hiểu nghĩa đen của lời. Bạn bỏ lỡ ý nghĩa.

Một người bạn tốt... một người bạn Ki tô giáo đã tán tỉnh Giáo sĩ Berkowitz tới tham dự tại nhà thờ Thánh Joseph trong thành phố, điều đã làm cho Schlitz nổi tiếng. Ông giáo sĩ già, trong một thời gian dài đã về hưu, cuối cùng đồng ý khi được giải thích rằng một chức sắc thỉnh giảng sẽ nói về ảnh hưởng Do Thái lên sự hình thành nhà thờ này.

Ở ngay hàng đầu, mắt giáo sĩ Berkowitz mở to khi vị diễn giả thỉnh giảng này công bố chủ đề của mình: "Tên tôi là Joseph, Cha của Jesus."

Vào lúc kết thúc bài nói, khi họ đã được giới thiệu, giáo sĩ này nói một cách khô khan, "Ông bạn ơi, ông đã có kinh nghiệm bất thường nhất!"

Ông ấy đã hiểu lầm toàn thể sự việc. Ông ấy lấy tiêu đề của bài nói theo nghĩa từng từ: Tên tôi là Joseph, Cha của Jesus. Đó chỉ là chủ đề. Người này không nói rằng mình là Joseph, là cha của Jesus. Ông giáo sĩ nói, "Ông bạn ơi, ông đã có kinh nghiệm bất thường nhất" - là bố của Jesus, sau hai nghìn năm. Và Jesus đã là con của người đàn bà đồng trinh; điều đó chắc chắn là kinh nghiệm bất thường cho người bố!

Điều đó đã xảy ra cho bạn, Rosemary. Tôi đã không nói gì chống lại lời cầu nguyện, nhưng tôi đã nói rằng thiền chuẩn bị con đường. Nó lau sạch bạn - nó lau sạch bạn khỏi mọi ý nghĩ được người khác trao cho. Nó tạo ra không gian trong đó lời cầu nguyện có thể nở hoa. Thiền đem tới mùa xuân - và không có cách khác. Nếu bạn cầu nguyện mà không thiền, thế thì hoa của bạn sẽ là hoa nhựa. Hoa thực của lời cầu nguyện chỉ phát triển trong thiền. Và thế thì lời cầu nguyện không được gửi tới Thượng đế; thực tế, thế thì không có Thượng đế.

Toàn thể ý tưởng về Thượng đế Cha là trẻ con, và Sigmund Freud là đúng rằng đó là phóng chiếu của ham muốn sâu sắc của chúng ta để níu bám lấy bố mẹ. Nó là phóng chiếu của ý tưởng riêng của bạn về người bố, bởi vì bố bạn không thể ở cùng với bạn mãi mãi được. Một ngày nào đó ông ấy chết và bạn mất bảo vệ, an ninh, an toàn. Và bạn phóng chiếu người bố trên cõi trời, người có mãi mãi và mãi mãi, người sẽ không bao giờ chết và bao giờ cũng chăm sóc bạn. Và bạn quì trên đầu gối cầu nguyện với người bố trên cõi trời. Ý tưởng này là bịa đặt của bạn, lời cầu nguyện là bịa đặt của bạn. Và bạn làm điều ngu xuẩn này trong cả đời mình, nghĩ rằng bạn đang làm cái gì đó tôn giáo lắm.

Và đôi khi điều có thể xảy ra là một số lời cầu nguyện của bạn có thể được hoàn thành. Điều đó chỉ là trùng hợp ngẫu nhiên. Nếu bạn cứ cầu nguyện về cả nghìn thứ, thỉnh thoảng điều đó nhất định xảy ra.

Một người tới tôi và người đó nói, "Tôi chưa bao giờ tin vào Thượng đế, nhưng bây giờ tôi tin."

Tôi nói, "Chuyện gì xảy ra?"

Người đó nói, "Tôi đã trao tối hậu thư cho Thượng đế rằng nếu trong vòng mười lăm ngày con trai tôi không kiếm được việc, tôi sẽ trở thành người vô thần chắc chắn mãi mãi. Và việc đe doạ đó có tác dụng: trong vòng mười lăm ngày con trai tôi đã có việc làm. Bây giờ tôi là người tin vững chắc."

Tôi nói, "Điều đó hoàn toàn tốt, nhưng đừng bao giờ đưa ra tối hậu thư nữa bởi vì không phải bao giờ nó cũng có tác dụng. Nó chỉ là trùng hợp ngẫu nhiên thôi."

Nhưng người đó đã không nghe tôi. Sau hai năm ông ấy gặp tôi và ông ấy nói, "Thầy đúng. Tôi lại đã đưa ra tối hậu thư. Vợ tôi rất ốm và tôi bảo ngài rằng phải phải cứu bà ấy, bằng không tôi sẽ trở thành kẻ vô thần." Ông ấy cứ tưởng rằng có lần thủ đoạn đó đã có tác dụng; bây giờ ông ấy biết cách buộc Thượng đế phục vụ ông ấy.

Đó là điều mọi người đang cầu nguyện đều làm; họ cố gắng dùng Thượng đế. Họ cố gắng dùng Thượng đế như phương tiện vì mục đích nào đó.
Và người vợ chết. Chắc chắn ông ấy trở thành kẻ vô thần.

Lời cầu nguyện đôi khi sẽ được hoàn thành - không phải là có ai đó ở đó nghe lời cầu nguyện của bạn và hoàn thành chúng - và đôi khi chúng sẽ không được hoàn thành. Và các tu sĩ đều rất láu cá. Họ sẽ nói, "Bất kì khi nào lời cầu nguyện của ông được hoàn thành ông đã cầu nguyện sâu sắc, chân thực, chân thành." Và bất kì khi nào lời cầu nguyện của bạn không được hoàn thành họ nói, "Lời cầu nguyện của ông hời hợt." Và luận cứ này có nhiều hấp dẫn bởi vì, thực tế, tất cả những lời cầu nguyện của bạn đều hời hợt cho nên bạn biết hoàn toàn rõ rằng lời cầu nguyện của bạn là hời hợt. Tu sĩ bao giờ cũng có thể nói rằng bạn đã cầu nguyện đấy, nhưng sâu bên dưới có hoài nghi.

Bao giờ cũng có hoài nghi bởi niềm tin của bạn vào Thượng đế không thể phá huỷ được hoài nghi; nó chỉ có thể kìm nén hoài nghi. Và hoài nghi bị kìm nén bao giờ cũng sôi lên bên trong bạn, sẵn sàng bùng nổ.
Cho nên đừng bị lừa nếu đôi khi sự trùng hợp ngẫu nhiên xảy ra. Đó là cách nhiều điều liên tục trên thế giới, nhiều thứ có thể tiếp tục trên thế giới. Tất cả đều là trò bịp bợm!

Chẳng hạn, có nhiều "liệu pháp" thế trên thế giới: vi lượng đồng cân liệu pháp, thiên nhiên liệu pháp, châm cứu liệu pháp, và nhiều liệu pháp khác thế. Họ tất cả đều công bố chữa lành - và lời công bố của họ không sai; họ chữa được cho nhiều người. Bạn thử mà xem. Cứ cho mọi người thuốc đường và bạn sẽ ngạc nhiên; nhiều người được chữa khỏi, cho nên bạn đã phát minh ra liệu pháp mới. Bẩy mươi phần trăm mọi người đều chỉ ốm giả, họ không ốm thật. Bẩy mươi phần trăm bệnh tật đều là bệnh tâm lí, cho nên mọi điều cần là ai đó thuyết phục họ rằng "Điều này sẽ có ích." Và mọi người cứ đi tới vi lượng đồng cân liệu pháp và tới các thuốc bí truyền khi chẳng cái gì khác giúp họ.

Rắc rối với liệu pháp là ở chỗ nó chỉ có thể có ích nếu bệnh tật của bạn là thực. Nếu bệnh tật của bạn mà không thật, thế thì thuốc thật sẽ gây hại thay vì giúp bạn. Cho nên bạn phải tìm loại lang băm nào đó, ai đó có thể cho bạn thuốc giả để chữa bệnh giả của bạn.

Lời cầu nguyện của bạn là giả, bệnh của bạn là giả. Đôi khi chúng có ích, và khi chúng giúp ích, bạn trở nên càng được thuyết phục hơn. Và trong thất vọng, trong bất lực sâu sắc, bạn không biết chỗ nào khác để đi. Khi tất cả nỗ lực con người đều thất bại bạn bắt đầu nhìn lên trời. Điều đó bao giờ cũng là vậy; chẳng có gì mấy đã thay đổi.

Trong Vedas có nói: Khi có sét trong mây, đó là Thượng đế giận dữ; đó là cơn giận của ngài. Hãy cầu nguyện Thượng đế. Bây giờ chúng ta biết đấy không phải là Thượng đế hay cơn giận của ngài; bây giờ chúng ta biết đấy là điện, điện tự nhiên. Bây giờ chúng ta đang dùng cơn giận của Thượng đế trong việc cho chạy quạt và máy móc. Bây giờ không ai cầu nguyện. Ở Ấn Độ, dầu vậy, khi bạn bật đèn lên buổi tối, những người Hindu chính thống sẽ lập tức cúi đầu khoanh tay - với bóng điện! Chỉ là ước định cũ.
Thượng đế đã làm nhiều điều; bây giờ khoa học đang làm tất cả những điều đó. Thượng đế cứ bị tước dần quyền mọi ngày! Thực tế, chẳng mấy chốc ngài sẽ thất nghiệp thôi; bạn sẽ thấy ngài xếp hàng đứng trước văn phòng việc làm nào đó! Thượng đế của bạn là bịa đặt của bạn. Friedrich Nietzsche là đúng về Thượng đế của bạn - rằng Thượng đế đó chết rồi. Cho nên đừng quá ngạc nhiên hay bị thuyết phục khi sự trùng hợp ngẫu nhiên nào đó xảy ra. Trùng hợp ngẫu nhiên bao giờ cũng xảy ra.

Trên khoang chuyến bay phản lực của hãng El-Al tới Israel, một bà mẹ trẻ và hai đứa con vừa ổn định chỗ thì đứa nhỏ hơn bắt đầu la hét rằng chúng phải đi "nhà xí." Hai tu sĩ đang đi hành hương tới Đất Thánh, ngồi ngay trước nhóm gia đình nhỏ này, mỉm cười thích thú trong khi người mẹ bối rối nhanh chóng đem lũ trẻ vào phòng vệ sinh trên máy bay. Sau khi ngần ngại một chốc, cô ta đẩy đứa nhỏ vào trong khoang đánh dấu "Quí ông," trong khi cô ta vào phòng dành cho quí bà cùng cô con gái nhỏ.
Đứa con trai nhanh chóng chui ra và một trong hai tu sĩ bước vào, quên mất không khoá cửa. Vài giây sau, người mẹ hiện ra từ phòng vệ sinh cho đàn bà và mở hé cánh cửa kia, cứ tưởng cậu con trai vẫn còn đó. "Đừng quên kéo phec mơ tuya quần đấy."

Khi tu sĩ trở về chỗ mình ông ta hết lời ca ngợi hãng hàng không. "Các ông phải trao nó cho các cô phục vụ viên Do Thái này," ông ta nói với tu sĩ bạn đồng hành. "Họ nghĩ chu đáo đủ mọi thứ!"

Cẩn thận về sự trùng hợp ngẫu nhiên!

Bạn nói, Rosemary này, "Sao thầy nói rằng thiền là đúng còn cầu nguyện là sai?"

Cầu nguyện không đúng; ở trong lời cầu nguyện mới đúng. Cầu nguyện nghĩa là bạn sẽ nói điều gì đó với Thượng đế. Thượng đế của bạn là bịa đặt của bạn, lời cầu nguyện của bạn là bịa đặt của bạn. Và bạn sẽ nói gì? Toàn thứ tầm thường: Làm cái này, làm cái kia, không làm cái kia. Hay: Ngài vĩ đại. Ngài đã nghe điều đó từ lâu rồi, ngài phải phát ngán! Ngài phải dùng nút tai để tránh cái gọi là những người tôn giáo này! Cả triệu người cầu nguyện và nói đủ mọi thứ với Thượng đế. Ngài phải phát mệt, hoàn toàn mệt mỏi.

Nhưng ở trong lời cầu nguyện là hiện tượng hoàn toàn khác. Cầu nguyện là một điều; điều đó ấu trĩ, bắt nguồn từ tâm trí bị ước định. Nhưng ở trong lời cầu nguyện nghĩa là ở trong tình yêu với sự tồn tại, ở trong điệu vũ với sự tồn tại, nhảy múa với các vì sao, hát với chim chóc, tuôn chảy theo dòng sông. Đó là lời cầu nguyện. Nhưng lời cầu nguyện đó nảy sinh chỉ khi thiền đã tạo ra không gian đúng cho nó. Do đó nhấn mạnh của tôi là vào thiền và tôi không nói nhiều về lời cầu nguyện, bởi vì khi thiền đầy đủ, lời cầu nguyện tới theo cách riêng của nó. Không cần nói về nó - bởi vì nếu tôi nói về lời cầu nguyện có mọi nguy hiểm bạn sẽ hiểu lầm, bởi vì lời cầu nguyện là dễ còn thiền là khó.

Lời cầu nguyện là dễ dàng, rất rẻ. Bạn có thể tới nhà thờ, quì dưới đầu gối, khoanh tay lại, nói với Thượng đế. Điều đó chẳng tốn kém gì. Hay mọi đêm trước khi bạn đi ngủ bạn cầu nguyện Thượng đế....

Tôi đã nghe về một người rất, rất thông minh, người đã để dán lời cầu nguyện của mình lên tường ngay cạnh giường nằm. Và trước khi người đó đi ngủ người đó sẽ nói với Thượng đế, "Ngài đọc nó đi."

Phỏng có ích gì mà nói cùng điều mọi ngày? Và người ta hi vọng rằng Thượng đế ít nhất cũng phải có khả năng đọc nó! Điều đó dường như còn rõ ràng hơn, thông minh hơn nhiều. Sao cứ lặp lại nó như con vẹt mọi ngày vậy?

Tôi không nói bạn cầu nguyện bởi vì tôi biết rằng bất kì cái gì bạn làm ngay bây giờ cũng sẽ sai. Tôi dạy thiền - và lời cầu nguyện tất yếu tới; điều đó không thể tránh khỏi, nhưng là loại lời cầu nguyện khác toàn bộ, với hương thơm khác, đường viền khác cho nó. Nó chỉ là vui vẻ, vui đùa, lòng biết ơn. Bạn cảm thấy được hoàn thành, được phúc lạc tới mức toàn thể trái tim bạn nói cám ơn - không trong nhiều lời thế - toàn thể trái tim bạn nói có. Toàn thể trái tim bạn trở thành có. Bạn được buông xuôi. Cuộc sống của bạn là lời cầu nguyện. Thế thì bạn không cần tới nhà thờ hay đền chùa hay đền thờ hồi giáo. Bạn sống lời cầu nguyện của mình. Bạn thở, bạn uống, bạn đi... và tất cả đó là lời cầu nguyện.

Bạn nói, "Theo ý kiến tôi, thiền đem lại bình thản bên trong sâu sắc cho người ta vì riêng người ta...." Rosemary, bạn đã bao giờ thiền chưa? Ý kiến đơn thuần không có giá trị - và nó là ý kiến đơn thuần. Bạn có thể đã đọc, bạn có thể đã nghe nói về nó, nhưng đừng cho các ý kiến tầm quan trọng nhiều.

Bạn nói, "Thiền đem lại bình thản bên trong sâu sắc cho người ta vì riêng người ta...." Bạn không có kinh nghiệm nào, hương vị nào của thiền. Trong thiền, cái ta biến mất, bản ngã biến mất. Không có vấn đề về "vì riêng người ta." Con người không còn là hòn đảo; con người trở thành một phần của lục địa sự tồn tại bao la. Thiền nghĩa là bạn biến mất, bay hơi. Bạn không còn đó nữa, chỉ cái không thuần khiết. Làm sao nó có thể vì riêng người ta được? Không cái ta nào còn lại. Trong thiền, không cái ta nào đã bao giờ được tìm thấy cho nên làm sao nó có thể là ích kỉ được?

Mọi người tới tôi và họ hỏi tôi - đặc biệt các nhà truyền giáo Ki tô giáo - họ viết thư cho tôi: "Ông đang dạy mọi người thiền; điều đó là một loại ích kỉ." Họ không biết họ đang nói về gì.

Thiền là cách duy nhất để gạt bỏ cái ngã. Thiền là khả năng duy nhất để tạo ra cái không ngã trong thế giới này. Mọi thứ khác đều ích kỉ. Nhà truyền giáo Ki tô giáo phục vụ người nghèo, người què - đây tất cả đều ích kỉ. Mẹ Teresa ở Calcutta và tất cả mọi việc của bà ấy đều tuyệt đối ích kỉ.

Tại sao tôi gọi những công việc này là ích kỉ? Họ đang làm phục vụ lớn lao cho nhân loại, nhưng họ đang làm việc phục vụ nhân loại như phương tiện để lên cõi trời. Họ đang dùng người nghèo và người mù và người què và người hủi làm chiếc thang để lên trời.

Cứ nghĩ về một thế giới không ai nghèo, không ai què, không ai hủi, không ai mù. Thế thì Mẹ Teresa sẽ làm gì? Bạn sẽ vẫn cho bà ấy giải thưởng Nobel chứ? Để làm gì? Yêu cầu căn bản là ở chỗ người mù phải có đó, người nghèo phải có đó, người hủi phải có đó, goá phụ phải có đó, trẻ mồ côi phải có đó. Hàng nghìn trẻ mồ côi được cần cho một người đàn bà trở thành người phục vụ vĩ đại cho nhân loại.

Một trong các tu sĩ Hindu, ông đạo trưởng của các tu sĩ Hindu, Karpatri, đã viết một cuốn sách, Chống chủ nghĩa xã hội. Ông ấy đưa ra nhiều lí do chống lại chủ nghĩa xã hội, nhưng lí do nực cười nhất mà ông ấy đưa ra là ở chỗ trong kinh sách Hindu có nói: Chừng nào ông còn chưa cúng dường cho người nghèo ông sẽ không bao giờ vào được cõi trời. Và chủ nghĩa xã hội đang cố gắng phá huỷ giai cấp cho nên sẽ không có người nghèo, người giầu. Một khi không ai giầu và không ai nghèo, ai sẽ cúng dường cho ai? Và điều gì sẽ xảy ra cho cõi trời? Rất logic! Và những người này đều là những người phục vụ lớn lao cho nhân loại đấy! Những người ngu xuẩn này được coi là thánh nhân!

Trong thiền, bạn biến mất; trong lời cầu nguyện, bạn có rất nhiều ở đó. Bạn phải ở đó để cầu nguyện; bằng không ai sẽ cầu nguyện và cầu với ai?
Martin Buber đã viết một trong những cuốn sách vĩ đại nhất của thời nay, Ta và người. Ông ấy nói rằng lời cầu nguyện là mối quan hệ giữa ta và người; cả hai đều được cần tới. "Ta" được cần tới - người sẽ cầu nguyện - và "người," một khái niệm về Thượng đế. Thế thì lời cầu nguyện là có thể. Lời cầu nguyện là đối thoại giữa ta và người. Lời cầu nguyện về căn bản là ích kỉ, lấy cái ta làm trung tâm.

Nhưng thiền không phải là đối thoại chút nào. Không cần ta cũng chẳng cần người. Không ta, không người. Toàn thể ý tưởng về ta-và-người biến mất. Im lặng bao trùm, im lặng trinh nguyên, không bị quấy nhiễu bởi bất kì đối thoại nào. Nó không vì cái ta riêng nào cả. Người ta biến mất; chỉ thế thì thiền mới xảy ra.

Thiền giống như việc mở bông hoa ra, và lời cầu nguyện là hương thơm của hoa được toả ra theo gió. Tôi không nói về hương thơm, tôi chỉ dạy cách vun trồng hoa, Rosemary, nhớ lấy!

Trích từ "Dhammapada: Con đường của Phật - Tập 10"

Sự khác biệt giữa mẹ đẻ, người mẹ là gì?

Sự khác biệt giữa mẹ đẻ, người mẹ là gì?

Tôi không biết nhiều, nhưng tôi sẽ cố gắng tối đa theo mức của mình. Mẹ đẻ là người giả vờ là người mẹ, nhưng không phải vậy; người cho là người mẹ, nhưng không phải vậy. Bởi vì là người mẹ là rất, rất khó. Là mẹ đẻ lại rất dễ dàng. Chỉ sinh đẻ là đủ là mẹ đẻ rồi. Không cần hiểu biết gì cả.

Toàn thế giới đầy những mẹ đẻ, nhưng tìm ra người mẹ lại rất khó. Người mẹ là người giúp bạn là bản thân mình. Mẹ đẻ là người nghĩ, người tin rằng bà ấy yêu bạn, nhưng thực sự yêu bản thân bà ấy thôi, và muốn bạn trở thành sự phóng chiếu của tham vọng của bà ấy. Đó là điều bố đẻ cũng là gì.

Mẹ đẻ và bố đẻ bạn có thể tìm thấy ở mọi nơi; họ đã làm biến chất toàn thế giới - mẹ đẻ và bố đẻ. Freud nói nếu bạn đi sâu vào loạn thần kinh chức năng bạn bao giờ cũng thấy mẹ đẻ ở chỗ cuối cùng. Tất cả phân tâm học chung cuộc đều nghiêng về vấn đề nào đó mà người mẹ - mẹ đẻ - đã tạo ra. Cho nên mẹ đẻ là sự giả vờ làm người mẹ - bản sao vật lí của người mẹ tâm linh.

Là người mẹ là rất khó. Chỉ người đã về tới nhà mới có thể là người mẹ được. Cho sinh nở rất dễ dàng, nó là tự nhiên, sinh học; nhưng là người mẹ là cái gì đó tâm linh.

Mẹ đẻ muốn bạn theo bà ấy, bà ấy muốn sở hữu bạn - làm cho bạn trở thành một phần, một tài sản quí giá với bà ấy. Bà ấy sẽ níu bám quanh bạn.

Người mẹ sẽ giúp bạn trở nên độc lập. Bà ấy sẽ giúp bạn trở thành cá nhân. Bà ấy sẽ yêu bạn, nhưng bà ấy sẽ không cố gắng ép buộc cái gì lên bạn. Bà ấy sẽ đem tình yêu của mình tới cho bạn, nhưng sẽ không đem tri thức của bà ấy cho bạn. Bà ấy sẽ gửi bạn vào thế giới để tìm ra chân lí riêng của bạn, để tìm ra cuộc sống riêng của bạn. Bà ấy sẽ không cho bạn hình mẫu hay khuôn mẫu. Bà ấy sẽ không cấu trúc bạn, bà ấy đơn giản sẽ giúp bạn, dù bạn có thể là bất kì điều gì.

Người mẹ chỉ là lí tưởng, điều đó hiếm khi xảy ra. Mẹ đẻ bạn có thể tìm thấy ở bất kì đâu. Người mẹ chỉ là ý tưởng, ý tưởng không tưởng - người có thể cho việc sinh thành linh hồn bạn. Chỉ vị Phật mới có thể là người mẹ, hay một Meera mới có thể là người mẹ, hay một Krishna, hay một Mohammed mới có thể là người mẹ - người duy nhất có thể cho bạn linh hồn của mình, định mệnh của mình.

Mẹ đẻ chỉ mang tính sinh học. Khái niệm về người mẹ là mang tính tâm linh.

Trích từ "Kỉ luật của siêu việt - Tập 1"
Sự khác biệt giữa mẹ đẻ, người mẹ là gì?

Tôi không biết nhiều, nhưng tôi sẽ cố gắng tối đa theo mức của mình. Mẹ đẻ là người giả vờ là người mẹ, nhưng không phải vậy; người cho là người mẹ, nhưng không phải vậy. Bởi vì là người mẹ là rất, rất khó. Là mẹ đẻ lại rất dễ dàng. Chỉ sinh đẻ là đủ là mẹ đẻ rồi. Không cần hiểu biết gì cả.

Toàn thế giới đầy những mẹ đẻ, nhưng tìm ra người mẹ lại rất khó. Người mẹ là người giúp bạn là bản thân mình. Mẹ đẻ là người nghĩ, người tin rằng bà ấy yêu bạn, nhưng thực sự yêu bản thân bà ấy thôi, và muốn bạn trở thành sự phóng chiếu của tham vọng của bà ấy. Đó là điều bố đẻ cũng là gì.

Mẹ đẻ và bố đẻ bạn có thể tìm thấy ở mọi nơi; họ đã làm biến chất toàn thế giới - mẹ đẻ và bố đẻ. Freud nói nếu bạn đi sâu vào loạn thần kinh chức năng bạn bao giờ cũng thấy mẹ đẻ ở chỗ cuối cùng. Tất cả phân tâm học chung cuộc đều nghiêng về vấn đề nào đó mà người mẹ - mẹ đẻ - đã tạo ra. Cho nên mẹ đẻ là sự giả vờ làm người mẹ - bản sao vật lí của người mẹ tâm linh.

Là người mẹ là rất khó. Chỉ người đã về tới nhà mới có thể là người mẹ được. Cho sinh nở rất dễ dàng, nó là tự nhiên, sinh học; nhưng là người mẹ là cái gì đó tâm linh.

Mẹ đẻ muốn bạn theo bà ấy, bà ấy muốn sở hữu bạn - làm cho bạn trở thành một phần, một tài sản quí giá với bà ấy. Bà ấy sẽ níu bám quanh bạn.

Người mẹ sẽ giúp bạn trở nên độc lập. Bà ấy sẽ giúp bạn trở thành cá nhân. Bà ấy sẽ yêu bạn, nhưng bà ấy sẽ không cố gắng ép buộc cái gì lên bạn. Bà ấy sẽ đem tình yêu của mình tới cho bạn, nhưng sẽ không đem tri thức của bà ấy cho bạn. Bà ấy sẽ gửi bạn vào thế giới để tìm ra chân lí riêng của bạn, để tìm ra cuộc sống riêng của bạn. Bà ấy sẽ không cho bạn hình mẫu hay khuôn mẫu. Bà ấy sẽ không cấu trúc bạn, bà ấy đơn giản sẽ giúp bạn, dù bạn có thể là bất kì điều gì.

Người mẹ chỉ là lí tưởng, điều đó hiếm khi xảy ra. Mẹ đẻ bạn có thể tìm thấy ở bất kì đâu. Người mẹ chỉ là ý tưởng, ý tưởng không tưởng - người có thể cho việc sinh thành linh hồn bạn. Chỉ vị Phật mới có thể là người mẹ, hay một Meera mới có thể là người mẹ, hay một Krishna, hay một Mohammed mới có thể là người mẹ - người duy nhất có thể cho bạn linh hồn của mình, định mệnh của mình.

Mẹ đẻ chỉ mang tính sinh học. Khái niệm về người mẹ là mang tính tâm linh.

Trích từ "Kỉ luật của siêu việt - Tập 1"

Cảm và uỷ mị

Nhiều người tới tôi và nói, "Bất kì điều gì thầy nói, chúng tôi đều hiểu cả, nhưng chẳng cái gì xảy ra. Chúng tôi đã hiểu mọi thứ thầy đã nói, chúng tôi đã đọc nhiều sách của thầy, nhiều lần, chúng tôi đã gạch dưới gần như mọi dòng - nhưng chẳng cái gì xảy ra cả."

Tôi có thể cho bạn bông hoa, nhưng làm sao tôi có thể cho bạn hương thơm được? Bạn phải lau sạch mũi mình và trở nên nhạy cảm hơn. Đó là chỗ thiền có thể có ích: nó làm cho bạn nhạy cảm hơn, tỉnh táo hơn. Nó đẩy bạn tới kiểu người thứ nhất, và dần dần bạn bắt đầu cảm thấy - không chỉ hiểu, mà cảm. Cảm là cần. Tôi không ngụ ý rằng bạn phải trở thành uỷ mị. Uỷ mị không phải là cảm; uỷ mị là đồng tiền giả. Có những người có thể kêu và khóc chẳng vì cái gì cả và họ nghĩ họ là kiểu người cảm. Họ không phải vậy. Họ chỉ uỷ mị thôi.

Cảm là phẩm chất chín muồi; uỷ mị là phẩm chất chưa chín muồi. Con người của cảm sẽ làm cái gì đó; con người của uỷ mị sẽ tạo ra nhiều rắc rối hơn. Chẳng hạn, nếu ai đó ốm hay chết, con người của cảm sẽ tới bệnh viện và cố gắng giúp người sắp chết. Đàn ông hay đàn bà của uỷ mị sẽ bắt đầu kêu và khóc. Họ sẽ tạo ra nhiều rắc rối hơn cho người sắp chết - họ thậm chí sẽ không cho phép người này chết trong im lặng. Uỷ mị là hỗn độn; cảm là sự trưởng thành bản chất. Khi tôi nói về tình yêu, nếu bạn có việc cảm, thế thì không chỉ đầu bạn hiểu, mà tim bạn cũng bắt đầu đập rộn ràng theo cách khác. Hương thơm đã đạt tới bạn.
Nhiều người tới tôi và nói, "Bất kì điều gì thầy nói, chúng tôi đều hiểu cả, nhưng chẳng cái gì xảy ra. Chúng tôi đã hiểu mọi thứ thầy đã nói, chúng tôi đã đọc nhiều sách của thầy, nhiều lần, chúng tôi đã gạch dưới gần như mọi dòng - nhưng chẳng cái gì xảy ra cả."

Tôi có thể cho bạn bông hoa, nhưng làm sao tôi có thể cho bạn hương thơm được? Bạn phải lau sạch mũi mình và trở nên nhạy cảm hơn. Đó là chỗ thiền có thể có ích: nó làm cho bạn nhạy cảm hơn, tỉnh táo hơn. Nó đẩy bạn tới kiểu người thứ nhất, và dần dần bạn bắt đầu cảm thấy - không chỉ hiểu, mà cảm. Cảm là cần. Tôi không ngụ ý rằng bạn phải trở thành uỷ mị. Uỷ mị không phải là cảm; uỷ mị là đồng tiền giả. Có những người có thể kêu và khóc chẳng vì cái gì cả và họ nghĩ họ là kiểu người cảm. Họ không phải vậy. Họ chỉ uỷ mị thôi.

Cảm là phẩm chất chín muồi; uỷ mị là phẩm chất chưa chín muồi. Con người của cảm sẽ làm cái gì đó; con người của uỷ mị sẽ tạo ra nhiều rắc rối hơn. Chẳng hạn, nếu ai đó ốm hay chết, con người của cảm sẽ tới bệnh viện và cố gắng giúp người sắp chết. Đàn ông hay đàn bà của uỷ mị sẽ bắt đầu kêu và khóc. Họ sẽ tạo ra nhiều rắc rối hơn cho người sắp chết - họ thậm chí sẽ không cho phép người này chết trong im lặng. Uỷ mị là hỗn độn; cảm là sự trưởng thành bản chất. Khi tôi nói về tình yêu, nếu bạn có việc cảm, thế thì không chỉ đầu bạn hiểu, mà tim bạn cũng bắt đầu đập rộn ràng theo cách khác. Hương thơm đã đạt tới bạn.

Suy nghĩ và suy tư

Đây là sự khác biệt giữa suy nghĩ và suy tư. Suy nghĩ được tiến hành về điều gì đó mà chúng ta còn chưa thực quen thuộc cho lắm. Suy nghĩ là một hoạt động trí tuệ với cái mới – một hình thức thể dục tinh thần. Suy tư là việc suy ngẫm về cái gì đó đã được hấp thu, đã được đưa vào sâu bên trong người ta. Có khác biệt rất lớn giữa hai điều này. Suy nghĩ chứa cái xung đột với chính nó, suy tư chứa thông cảm. Trong suy nghĩ có đương đầu, trong suy tư có ngẫm nghĩ. Và đấy là những khác biệt lớn lao. Suy nghĩ có nghĩa là bạn đang đánh nhau với cái gì đó. Nếu bạn không thể chiến thắng được, bạn sẽ đồng ý với nó, nhưng rồi sẽ có cay đắng trong đồng ý ấy.
Khi bạn tranh luận một điều gì với ai đó, bạn không thể nào biện minh về mặt logic quan điểm của mình và bạn bị lép vế, bạn có để ý thấy cảm giác cay đắng bên trong mình không? Bạn đành chịu lép vế bởi vì bạn không thể biện minh thêm nữa... nhưng bên trong thì sao? Bên trong bạn vẫn cảm thấy rằng nếu không phải hôm nay thì ngày mai, cuối cùng bạn cũng sẽ đảo lộn tình thế phản bác người đó và có thể bác bỏ quan điểm của họ.
Vậy không thể nào biến đổi được bất kì ai trong thế giới này chỉ bằng biện minh, bởi vì biện minh dẫn đến thua bại. Cho dù bạn có thể chứng minh được điều gì đó với người kia thông qua biện minh, người đó sẽ cảm thấy bị thua – không phải là được biến đổi mà là bị thua. Người đó sẽ kinh nghiệm sự thua kém: “Thôi được, ta không thể trả lời đúng hay tìm đúng luận cứ hôm nay, nhưng rồi sẽ có lúc ta tìm ra được luận cứ đúng và ta sẽ lại gặp anh.” Người đó cảm thấy bị thua.
Và nhớ lấy, người bị thua không phải là người đã biến đổi. Bạn có thể làm cho ai đó yên lặng qua luận cứ nhưng bạn không thể biến đổi được người đó theo cách đó. Và cũng đúng là không ai có thể được biến đổi chỉ thông qua luận cứ, bởi vì khi hai người tranh luận điều gì đó thì điều đó không nhất thiết có nghĩa là người thua trong tranh luận là trái còn người thắng là phải. Tất cả những điều này có nghĩa là người thắng có thể biện minh tốt hơn còn người thua trong tranh luận thì không thể biện minh tốt được như vậy – không gì nhiều hơn là việc điều này được chứng minh.
Cho nên cũng tự nhiên là không ai được biến đổi và không cuộc cách mạng nào xảy ra trong đời người ta chỉ là qua biện minh. Việc bị thua về biện minh chỉ làm đau cho bản ngã người ta, và bản ngã bị tổn thương này muốn báo thù. Luận cứ chỉ là cuộc tranh đấu.
Trong suy nghĩ có trận chiến bên trong: dù bạn đang nghĩ về bất kì cái gì, chính là bạn đang đánh nhau với nó; trận chiến bên trong đang tiếp diễn. Bạn động viên tất cả kí ức quá khứ của mình và mọi ý nghĩ quá khứ để chống lại nó. Nếu bạn vẫn bị thua, bạn phải chấp nhận, nhưng trong chấp nhận đó có cay đắng, bạn kinh nghiệm chiếc gai nhọn đâm vào mình. Chấp nhận này là do bất lực của bạn. Không có vui vẻ xảy ra trong chấp nhận này; đoá hoa bên trong của bạn không nở do chấp nhận này, mà khô héo đi. Cho nên, bởi tất cả những suy nghĩ mà mọi người suy nghĩ đang tiến hành trên khắp thế giới, bạn không thể thấy được vui vẻ của vị phật trên khuôn mặt họ.
Sao vậy, khác biệt ở đâu?
Bạn sẽ không tìm thấy nhân cách thoải mái của Mahavira trong người suy nghĩ. Trên khuôn mặt của người suy nghĩ bạn sẽ thấy những nếp nhăn lo âu, không phải là đoá hoa của suy tư. Trên trán của người suy nghĩ những nếp nhăn sẽ hằn sâu thêm theo thời gian. Mọi nếp nhăn trên trán đều là một tuyên bố sâu sắc – sau tất cả những gì người đó đã làm lụng vất vả trong cả đời. Nhưng những cái xảy ra cho một Phật hay một Mahavira, cái nở hoa sẽ không thấy có trên khuôn mặt họ. Suy nghĩ là gánh nặng, bạn bị oằn lưng để mang nó. Người suy nghĩ trông bao giờ cũng lo âu. Không có khác biệt về chất giữa suy nghĩ và lo lắng. Mọi suy nghĩ đều là một dạng của lo lắng. Bất ổn ẩn nấp đằng sau nó, căng thẳng, bởi vì có trận chiến bên trong, xung đột, trận đánh. Cho nên người suy nghĩ theo thời gian trở nên già đi, oằn lưng bởi sức nặng, bởi gánh nặng suy nghĩ của mình.
Hiện tượng ngược lại xảy ra với Phật và Mahavira. Khi họ càng già đi, cái gì đó bên trong họ lại càng trở nên trẻ trung hơn; dáng vẻ của họ ngày càng tăng tính tươi tắn.
Đây chính là khác biệt giữa suy nghĩ và suy tư.
Suy nghĩ bắt đầu với logic, suy tư bắt đầu với lắng nghe. Suy nghĩ bắt đầu với vật lộn, suy tư bắt đầu với lắng nghe. Lắng nghe là cảm nhận, không có vật lộn. Đây là khác biệt giữa suy nghĩ và suy tư. Suy nghĩ bắt đầu với xung đột bởi vì cơ sở của nó là trong logic. Không có thông cảm trong đó; đối lập, thù địch, tranh biện là cơ sở của nó. Chính sự kiện suy tư bắt đầu bằng lắng nghe chỉ ra thông cảm là cơ sở ở đó.
Thông cảm nghĩa là gì? - đó là việc cân nhắc thân ái. Dù chúng ta đang nghĩ về bất kì cái gì, hay chúng ta đang nghĩ trong bất kì mối liên hệ nào, chúng ta cũng tiến hành với tình yêu và thông cảm lớn lao.
Khác biệt về chất giữa suy nghĩ và suy tư là gì? Khi bạn đang xem xét điều gì đó với thông cảm thì toàn bộ ước muốn bên trong của bạn là để cảm thấy rằng, “Bất kì điều gì mình nghe thấy cũng đều có thể đúng. Và nếu nó đúng thì nó cũng có thể có ích cho mình nữa chứ?” Cho nên trước hết bạn cố gắng tìm những điểm đúng trong đó. Còn khi bạn suy nghĩ, bạn bắt đầu từ niềm tin rằng bất kì điều gì bạn đã nghe qua cũng đều sai, cho nên trước hết bạn cố tìm ra những điểm sai.
Hiểu điều đó theo cách này. Một người đang đứng gần một luống hoa hồng: nếu người ấy đang nghĩ, người ấy trước hết sẽ đếm gai; nếu người ấy đang suy tư, trước hết người ấy sẽ đếm hoa hồng. Điều này tạo nên khác biệt cơ bản - bạn bắt đầu từ đâu. Một người trước tiên đếm gai, và người đó sẽ thấy có hàng nghìn cái gai. Và trong khi đếm gai, một số gai sẽ đâm vào tay người ấy, máu sẽ chảy. Việc gai đâm ấy, số gai ấy và việc tay bị chảy máu, tất cả sẽ trở thành cơ sở cho sự đối lập với hoa hồng. Và khi người ấy đã đếm hàng nghìn chiếc gai và may ra mới thấy được một hai đoá hoa, tâm trí người ấy sẽ nói, “Những đoá hoa này chỉ lừa dối, chúng không thật, bởi vì nơi có quá nhiều gai thế này thì làm sao hoa có thể thanh tao được? Đấy chỉ là ảo tưởng.”
Thế cũng là tự nhiên, người ta sẽ cảm thấy như thế. Nơi có quá nhiều gai mà gai có khả năng gây ra chảy máu, thì làm sao hoa thanh tao có thể nở được ở đấy? Điều ấy là không thể được. Và cho dù người ấy có đồng ý rằng quả là có hoa ở đó, người ấy sẽ nói, “Chúng không có giá trị gì; giữa hàng nghìn cái gai một hai đoá hoa có giá trị gì? Dường như đấy là âm mưu của những chiếc gai, để cho hàng nghìn cái gai vẫn còn trong thế giới với lí do chỉ để có một đoá hoa. Đây là lừa dối. Đoá hoa này là mặt nạ che cho gai. Đoá hoa này đang tham dự vào âm mưu của chúng.”
Người bắt đầu suy tư về hoa thì trước hết sẽ chạm vào hoa. Bàn tay người ấy ngập trong hương thơm của hoa, mắt người ấy tràn đầy mầu sắc của hoa. Vẻ thanh tao của hoa thấm vào cái động chạm, cái đẹp của hoa tràn vào người ấy từ mọi phía. Rồi người ấy sẽ tiến tới gai - sau khi đã thấy các đoá hoa, sau khi đã biết và sống với hoa, người ấy đã đi vào tình yêu với hoa. Bây giờ khi người ấy tiến tới gai, chúng sẽ có phẩm chất hoàn toàn khác.
Người tiếp cận tới gai qua hiểu biết về hoa thì sẽ hiểu rằng gai có mục đích để bảo vệ hoa - chúng không phải là kẻ thù của hoa, chúng không chống lại hoa. Cùng dòng nhựa cây chảy tới hoa thì cũng chảy tới gai. Và gai là để bảo vệ hoa. Người thấy được hoa, người đã có thể thấy được một cách đúng đắn cho dù chỉ một hoa... hàng nghìn gai cũng sẽ mất tác động với người đó, bởi vì sự hiện diện của một hoa cũng đủ làm triệt tiêu tác động của hàng nghìn gai. Và nếu một đoá hoa có thể nở giữa bao nhiêu là gai thế thì điều ấy là điều diệu kì không thể có được; thế thì điều không thể cũng có thể xảy ra. Và nếu một đoá hoa có thể nở giữa biết bao nhiêu gai nhọn, người đó sẽ thấy một điểm là nếu người ấy nhìn kĩ hơn, có lẽ những gai nhọn đó cũng có thể chứng tỏ chúng không gì khác hơn là hoa.
Suy tư bắt đầu với thông cảm, suy nghĩ bắt đầu với đối lập. Nếu điều kiện lắng nghe được đáp ứng, thông cảm nảy sinh. Nếu thông cảm nảy sinh, chính dòng suối suy nghĩ sẽ quay một trăm tám mươi độ và trở thành suy tư.
Suy tư không có nghĩa là chấp nhận một cách mù quáng.
Cho nên người thấy đã nói: ... theo đuổi hợp lí ý nghĩa của bất kì cái gì đã được nghe chính là manan, suy tư.
Không ai cần phải nghĩ rằng suy tư nghĩa là chấp nhận một cách mù quáng. Lắng nghe không có nghĩa là chấp nhận mà suy tư cũng không có nghĩa là chấp nhận; phải dùng lập luận.
Nhưng việc dùng lập luận cũng thay đổi. Lập luận bản thân nó là trung lập. Chẳng hạn, có một lưỡi kiếm trong tay tôi... Bây giờ lưỡi kiếm là trung lập: nếu tôi muốn tôi có thể lấy mạng của ai đó hoặc tôi có thể cứu mạng ai đó - lưỡi kiếm vẫn trung lập. Lập luận là trung lập, nhưng có các mẫu hình khác, và tác động của lập luận có thể thay đổi. Nếu tâm trí đầy những thù nghịch, đối lập và đương đầu, lập luận trở thành bạo hành. Nếu tâm trí tràn đầy thông cảm, lắng nghe, tình yêu, tìm kiếm và khát khao chân lí, lập luận trở thành một lưỡi kiếm bảo vệ. Lập luận bên trong nó vốn không xấu.
Cho nên ở nước ta chúng ta đã chấp nhận hai kiểu lập luận: một kiểu là lập luận tích cực; kiểu kia là lập luận tiêu cực. Lập luận tiêu cực cũng là lập luận. Đôi khi lập luận tiêu cực dường như còn logic hơn lập luận tích cực, bởi vì lập luận tiêu cực có góc cạnh, góc cạnh sắc, cái có khả năng cắt đứt và giết chết.
Cho nên lập luận tiêu cực đôi khi dường như là logic sâu sắc hơn. Làm sao bạn phân biệt được đâu là lập luận tích cực và đâu là lập luận tiêu cực? Đây là khác biệt: rằng nếu lập luận là trong việc đi tìm cái tốt và chân lí - nó đầy thông cảm, bắt đầu từ hoa và rồi chuyển tới gai...
Khi tôi nói điều gì đó với bạn, quan sát từ chỗ bạn bắt đầu. Tôi ngạc nhiên bao nhiêu lần: tôi nói liền một tiếng, rồi sau đó ai đó đến với tôi và mọi điều tôi đã nói trong giờ này đều không tới được người ấy, người đó bị lôi vào trận chiến chống lại chỉ một điều. Người đó vớ lấy một điểm và đi tới đối lập với nó. Mọi điều khác đã được nói trong giờ này người ấy đều không nhớ, chỉ quẩn quanh với một điều nhỏ nhoi đó. Và cả điều ấy nữa cũng lôi người ấy ra ngoài hoàn cảnh của nó. Nó có nghĩa trong hoàn cảnh này; bị dứt ra khỏi hoàn cảnh nó sẽ mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Nhưng người ấy chỉ nghe điều đó. Người ấy phải đã sẵn sàng chỉ cho điều đó thôi. Người ấy phải đã chuẩn bị để tìm ra cái gì đó sai ở đâu đó.
Nếu bạn đang nghe tôi chỉ để tìm ra cái gì đó sai thì bạn sẽ không bao giờ có thể chuyển vào trong suy tư được.
Nhớ lấy, dù bạn có thể phát hiện ra bao nhiêu cái sai, điều ấy cũng không bao giờ trở thành sự giúp đỡ cho việc trưởng thành bên trong của bạn cả. Bạn có thể chỉ ra bao nhiêu vị trí của mọi cái sai cũng không thành vấn đề - bạn có thể biết được mọi cái sai trên toàn thế giới - vẫn không có trưởng thành bên trong xảy ra cho bạn qua việc đó.
Người đang tìm kiếm và quan tâm tới trưởng thành của mình thì không bận tâm tới việc tìm ra cái gì sai, người ấy chỉ quan tâm tới việc tìm ra cái gì đúng. Người ấy bắt đầu với cái đúng. Và người bắt đầu với điều đúng thì một ngày nào đó người ấy có thể tới điểm hiểu ra rằng điều dường như sai lại cũng có ý nghĩa nào đó, cũng có giá trị nào đó. Và điều dường như sai trước đây có thể dường như đúng sau này. Khác biệt chỉ là ở chỗ nhấn mạnh.
Lập luận tiêu cực tìm kiếm cái sai, nó bắt đầu cuộc hành trình từ đó. Lập luận tích cực bắt đầu với điều đúng.
Bạn đưa Koran cho ai đó đọc; nếu người ấy là người Hindu, người ấy sẽ không thấy gì có ý nghĩa trong Koran cả, mọi thứ trôi qua không hề gợi chú ý nào. Người ấy sẽ gạch dưới ngay mọi cái không đúng theo người đó, rồi đem đoạn kinh đến cho bạn và nói, “Trông đây này! Tôi luôn luôn nói rằng Koran không phải là kinh sách tôn giáo!” Hay bạn đưa Gita cho người Mô ha mét giáo, người ấy cũng sẽ chỉ ngay đích xác cái sai trong đó. Còn nếu bạn muốn học nghệ thuật này, học nó từ nhóm chính thống Hindu, nhóm Arya Samajis. Họ là các chuyên gia trong việc tìm ra cái gì sai và sai ở đâu. Không ai chuyên gia được như họ. Giữ cho tâm trí đừng trở thành như người Arya Samaji, chỉ thế thì bạn mới có thể trở nên suy tư được. Ngoài ra không thể có suy tư được bởi vì bạn vẫn đang truy tìm cái sai, mà cái sai tìm ra thì hằng hà sa số. Sau rốt, đâu là cái hiếm hoi của gai? Nhưng gai phục vụ cho mục đích gì? Bạn có định chuẩn bị một vòng gai không, rồi đeo nó quanh cổ mình?
Mục đích, mối quan tâm chính là với hoa, không phải là với gai.
Cho nên nếu có lập luận tích cực, người ta cũng có thể lượm lặt được hoa cả trong Koran nữa - và những hoa này cũng không thua kém gì những đoá hoa của Gita cả. Nếu có cách lập luận tích cực, bạn cũng có thể nhặt được hoa cả trong Gita nữa - và những hoa này cũng không thua kém gì hoa trong Koran hay Kinh thánh cả.
Người suy tư chính là đang tìm kiếm hoa, người suy nghĩ đang tìm kiếm gai. Bạn phải tự mình quyết định. Nhưng nhớ một điều, rằng bạn sẽ trở nên bị bao bọc bởi những cái bạn đang tìm kiếm. Nếu bạn tìm gai, bạn sẽ được bao quanh bởi gai, nếu bạn tìm hoa, bạn sẽ được bao quanh bởi hoa.
Cho nên nhớ rằng bằng cách tìm kiếm gai bạn không làm hại bất kì ai ngoài chính mình, bởi vì bạn sẽ nhận được điều bạn tìm kiếm. Cuộc sống trở thành địa ngục bởi vì bạn bị những người sai vây xung quanh; dường như không có ai là người đúng cả. Và không phải bởi vì không có người đúng quanh bạn mà bởi vì việc tìm kiếm của bạn chỉ hướng về những người sai.
Bạn nói với ai đó rằng người nào đó là người thổi sáo kì tài. Người đó liền nói, “Nó biết thổi sáo gì? Nó là thằng ăn cắp, kẻ bịp bợm. Làm sao nó có thể thổi sáo được?”
Bây giờ mâu thuẫn nào tồn tại giữa một kẻ ăn cắp hay một kẻ bất lương và một người thổi sáo? Người đó có thể là bất lương, nhưng ai nói rằng kẻ bất lương không thể thổi sáo được? Ai tạo ra liên hệ này? Trong kẻ ăn cắp, đoá hoa thổi sáo cũng có thể nở chứ. Trộm cắp là gai, thổi sáo sẽ là hoa. Khi hoa có thể nở giữa gai thì tại sao kẻ cắp không thể thổi sáo được?
Nhưng không, điều ấy làm hại tới việc chấp nhận rằng ai đó có thể làm điều gì đó tốt lành. Chúng ta lập tức sẽ kết án người đó: “Nó là kẻ cắp, kẻ bất lương - làm sao nó có thể thổi sáo được?”
Thái độ của người đang suy tư sẽ khác. Nếu bạn nói với người ấy rằng một người thế nọ thế kia là kẻ bất lương và kẻ cắp, người đó sẽ nói, “Có thể, nhưng người đó là người thổi sáo cực hay.”
Đây là khác biệt của chọn lựa. Và khi một người thổi sáo tuyệt vời đến vậy thì ngay cả con người của người đó, kẻ cắp hay kẻ bất lương cũng bắt đầu trở nên đáng ngờ. Khi một người là kẻ cắp hay kẻ bất lương như thế, thì khả năng thổi sáo của người đó cũng trở nên đáng ngờ. Bất kì cái gì chúng ta bám chặt vào rồi cũng sẽ ảnh hưởng đến thứ khác nữa.
Đâu là nhu cầu xác định xem một người là bất lương hay kẻ cắp? Nếu chúng ta muốn hàng xóm mình là kẻ cắp và bất lương, chúng ta sẽ tìm thấy họ hệt như thế. Hay nếu chúng ta muốn hàng xóm mình là người thổi sáo giỏi thì chúng ta nên nhìn họ như thế. Trong cuộc sống cả hai điều đều có đó. Đêm có đó mà ngày cũng có đó; và cái tốt có đó, cái xấu cũng có đó.
Bạn đừng nghĩ rằng cõi trời ở đâu đó bên ngoài trái đất này hay địa ngục là ở đâu đó xa xôi với trái đất này; nó là ở ngay trong mắt bạn thôi. Trên ngay chính trái đất này người ta đang sống trong cõi trời, và cũng ngay chính trên trái đất này mà người ta đang sống trong địa ngục. Điều bạn tìm kiếm trở thành thế giới của bạn.
Suy tư bắt đầu cuộc hành trình với hoa - với thông cảm. Nó không vội vã tấn công vào vào cái sai, trước hết nó đồng hoá cái đúng. Và khi cái đúng đã được đồng hoá hoàn toàn, chỉ có thế thì nó mới phản ánh điều đã dường như là sai trong quan sát ban đầu.
Và nhớ lấy, khác biệt thực sự của biến chuyển này trong thái độ chỉ bắt đầu thấy được về sau hơn. Người suy tư trưởng thành dần, đâm chồi dần; đồng hoá cái đúng, tự bản thân người đó trở thành đúng. Và việc tìm kiếm thường xuyên cái sai, thường xuyên đồng hoá cái sai thì bản thân người đó cũng trở thành sai. Người chỉ thấy có bất lương, trộm cắp và sai sót ở người khác thì không thể vẫn còn là người lương thiện lâu dài được. Sự thực là ở chỗ người như vậy không thể là người lương thiện theo đúng nghĩa.
Thực tại kẻ cắp luôn tin người khác cũng là kẻ cắp - đúng không? Không, người đó không bao giờ tin người khác không phải là kẻ cắp. Chính mẫu hình suy nghĩ của kẻ cắp trở thành mẫu hình mọi người khác đều là kẻ cắp. Người đó lập tức tìm kiếm và thấy ra mọi người khác đều có phẩm cách kẻ cắp cả. Kẻ đồi bại không thể tin được rằng mọi người đều có nhân cách. Người đó không thể chấp nhận được việc mọi người đều có nhân cách. Chính kinh nghiệm của người đó trở thành hướng dẫn cho niềm tin vào điều đó.
Đây là một điều rất thú vị: không kẻ đồi bại nào có thể tin rằng ai đó là vô dục. Người ấy đơn thuần không thể tin được vào điều đó! Điều đó là đúng, bởi vì nếu ai đó thực sự vô dục, người đó nữa cũng không thể tin rằng ai đó khác lại có thể đồi bại. Nhưng điều thú vị là ở chỗ không chỉ người đồi bại không bao giờ tin rằng có ai là vô dục, mà cả người vô dục cũng không tin rằng có ai đó là người vô dục.
Thế thì đây là sự việc rất có vấn đề. Kẻ đồi bại không tin rằng ai đó có thể là vô dục là điều logic, bởi vì “Khi mình còn không thể là một người như thế thì làm sao có ai khác lại có thể là người như thế đưọc?” Nhưng khi người vô dục cũng không sẵn sàng tin rằng người khác có thể là vô dục thì tình huống của người đó lại trở nên đáng ngờ; thế thì người ấy nữa cũng không phải là vô dục. Kinh nghiệm riêng bên trong của người đó chỉ là ở chỗ mọi người đều nói chuyện về vô dục, mọi thứ đều hời hợt, có đồi bại bên trong. Người đó, do đó, không còn tin nữa.
Nếu bạn đi qua bất kì thánh nhân nào, người coi những người khác không phải là thánh, thì bạn có thể chắc chắn rằng bản thân người đó chưa thể nào trở thành thánh được. Chính ý nghĩa của việc trở thành thánh là ở chỗ, đối với người ấy, toàn bộ thế giới đều trở thành thánh ngay lập tức. Đối với người ấy toàn bộ mọi thứ đã thay đổi, bởi vì tầm nhìn đã thay đổi. Khi người ta trở thành một thánh nhân bên trong thì tại mọi nơi trên thế giới người ấy đều thấy là thánh, là thần cả, bởi vì cái ở bên trong chính là cái thấy được ở bên ngoài.
Nếu bạn đang chỉ thấy cái xấu ở mọi người, nếu với mọi người bạn thấy đều là kẻ cắp cả, đều bất lương và xấu xa cả, thì hãy gạt những điều đó sang bên và lo về chính bạn ngay đi. Điều thấy được bên ngoài chính là bên trong bạn đó. Đó là cái bạn có thể thấy được. Đó là cái thấy được ngay, bởi vì cái đó hoà nhịp với cái bên trong ngay lập tức.
Suy tư bắt đầu với phía sáng của cuộc đời. Suy nghĩ bắt đầu với phía tối của cuộc đời. Nếu bạn có thể nhớ được điều này, việc lập luận vậy sẽ là một điều kì diệu; thế thì suy nghĩ và logic sẽ rất có ích. Thế thì việc lập luận có thể được toàn tâm toàn ý. Và thế thì lập luận sẽ không có hại, nó trở thành có ích, thân thiện.

Trích từ "Ngón tay chỉ trăng"
Đây là sự khác biệt giữa suy nghĩ và suy tư. Suy nghĩ được tiến hành về điều gì đó mà chúng ta còn chưa thực quen thuộc cho lắm. Suy nghĩ là một hoạt động trí tuệ với cái mới – một hình thức thể dục tinh thần. Suy tư là việc suy ngẫm về cái gì đó đã được hấp thu, đã được đưa vào sâu bên trong người ta. Có khác biệt rất lớn giữa hai điều này. Suy nghĩ chứa cái xung đột với chính nó, suy tư chứa thông cảm. Trong suy nghĩ có đương đầu, trong suy tư có ngẫm nghĩ. Và đấy là những khác biệt lớn lao. Suy nghĩ có nghĩa là bạn đang đánh nhau với cái gì đó. Nếu bạn không thể chiến thắng được, bạn sẽ đồng ý với nó, nhưng rồi sẽ có cay đắng trong đồng ý ấy.
Khi bạn tranh luận một điều gì với ai đó, bạn không thể nào biện minh về mặt logic quan điểm của mình và bạn bị lép vế, bạn có để ý thấy cảm giác cay đắng bên trong mình không? Bạn đành chịu lép vế bởi vì bạn không thể biện minh thêm nữa... nhưng bên trong thì sao? Bên trong bạn vẫn cảm thấy rằng nếu không phải hôm nay thì ngày mai, cuối cùng bạn cũng sẽ đảo lộn tình thế phản bác người đó và có thể bác bỏ quan điểm của họ.
Vậy không thể nào biến đổi được bất kì ai trong thế giới này chỉ bằng biện minh, bởi vì biện minh dẫn đến thua bại. Cho dù bạn có thể chứng minh được điều gì đó với người kia thông qua biện minh, người đó sẽ cảm thấy bị thua – không phải là được biến đổi mà là bị thua. Người đó sẽ kinh nghiệm sự thua kém: “Thôi được, ta không thể trả lời đúng hay tìm đúng luận cứ hôm nay, nhưng rồi sẽ có lúc ta tìm ra được luận cứ đúng và ta sẽ lại gặp anh.” Người đó cảm thấy bị thua.
Và nhớ lấy, người bị thua không phải là người đã biến đổi. Bạn có thể làm cho ai đó yên lặng qua luận cứ nhưng bạn không thể biến đổi được người đó theo cách đó. Và cũng đúng là không ai có thể được biến đổi chỉ thông qua luận cứ, bởi vì khi hai người tranh luận điều gì đó thì điều đó không nhất thiết có nghĩa là người thua trong tranh luận là trái còn người thắng là phải. Tất cả những điều này có nghĩa là người thắng có thể biện minh tốt hơn còn người thua trong tranh luận thì không thể biện minh tốt được như vậy – không gì nhiều hơn là việc điều này được chứng minh.
Cho nên cũng tự nhiên là không ai được biến đổi và không cuộc cách mạng nào xảy ra trong đời người ta chỉ là qua biện minh. Việc bị thua về biện minh chỉ làm đau cho bản ngã người ta, và bản ngã bị tổn thương này muốn báo thù. Luận cứ chỉ là cuộc tranh đấu.
Trong suy nghĩ có trận chiến bên trong: dù bạn đang nghĩ về bất kì cái gì, chính là bạn đang đánh nhau với nó; trận chiến bên trong đang tiếp diễn. Bạn động viên tất cả kí ức quá khứ của mình và mọi ý nghĩ quá khứ để chống lại nó. Nếu bạn vẫn bị thua, bạn phải chấp nhận, nhưng trong chấp nhận đó có cay đắng, bạn kinh nghiệm chiếc gai nhọn đâm vào mình. Chấp nhận này là do bất lực của bạn. Không có vui vẻ xảy ra trong chấp nhận này; đoá hoa bên trong của bạn không nở do chấp nhận này, mà khô héo đi. Cho nên, bởi tất cả những suy nghĩ mà mọi người suy nghĩ đang tiến hành trên khắp thế giới, bạn không thể thấy được vui vẻ của vị phật trên khuôn mặt họ.
Sao vậy, khác biệt ở đâu?
Bạn sẽ không tìm thấy nhân cách thoải mái của Mahavira trong người suy nghĩ. Trên khuôn mặt của người suy nghĩ bạn sẽ thấy những nếp nhăn lo âu, không phải là đoá hoa của suy tư. Trên trán của người suy nghĩ những nếp nhăn sẽ hằn sâu thêm theo thời gian. Mọi nếp nhăn trên trán đều là một tuyên bố sâu sắc – sau tất cả những gì người đó đã làm lụng vất vả trong cả đời. Nhưng những cái xảy ra cho một Phật hay một Mahavira, cái nở hoa sẽ không thấy có trên khuôn mặt họ. Suy nghĩ là gánh nặng, bạn bị oằn lưng để mang nó. Người suy nghĩ trông bao giờ cũng lo âu. Không có khác biệt về chất giữa suy nghĩ và lo lắng. Mọi suy nghĩ đều là một dạng của lo lắng. Bất ổn ẩn nấp đằng sau nó, căng thẳng, bởi vì có trận chiến bên trong, xung đột, trận đánh. Cho nên người suy nghĩ theo thời gian trở nên già đi, oằn lưng bởi sức nặng, bởi gánh nặng suy nghĩ của mình.
Hiện tượng ngược lại xảy ra với Phật và Mahavira. Khi họ càng già đi, cái gì đó bên trong họ lại càng trở nên trẻ trung hơn; dáng vẻ của họ ngày càng tăng tính tươi tắn.
Đây chính là khác biệt giữa suy nghĩ và suy tư.
Suy nghĩ bắt đầu với logic, suy tư bắt đầu với lắng nghe. Suy nghĩ bắt đầu với vật lộn, suy tư bắt đầu với lắng nghe. Lắng nghe là cảm nhận, không có vật lộn. Đây là khác biệt giữa suy nghĩ và suy tư. Suy nghĩ bắt đầu với xung đột bởi vì cơ sở của nó là trong logic. Không có thông cảm trong đó; đối lập, thù địch, tranh biện là cơ sở của nó. Chính sự kiện suy tư bắt đầu bằng lắng nghe chỉ ra thông cảm là cơ sở ở đó.
Thông cảm nghĩa là gì? - đó là việc cân nhắc thân ái. Dù chúng ta đang nghĩ về bất kì cái gì, hay chúng ta đang nghĩ trong bất kì mối liên hệ nào, chúng ta cũng tiến hành với tình yêu và thông cảm lớn lao.
Khác biệt về chất giữa suy nghĩ và suy tư là gì? Khi bạn đang xem xét điều gì đó với thông cảm thì toàn bộ ước muốn bên trong của bạn là để cảm thấy rằng, “Bất kì điều gì mình nghe thấy cũng đều có thể đúng. Và nếu nó đúng thì nó cũng có thể có ích cho mình nữa chứ?” Cho nên trước hết bạn cố gắng tìm những điểm đúng trong đó. Còn khi bạn suy nghĩ, bạn bắt đầu từ niềm tin rằng bất kì điều gì bạn đã nghe qua cũng đều sai, cho nên trước hết bạn cố tìm ra những điểm sai.
Hiểu điều đó theo cách này. Một người đang đứng gần một luống hoa hồng: nếu người ấy đang nghĩ, người ấy trước hết sẽ đếm gai; nếu người ấy đang suy tư, trước hết người ấy sẽ đếm hoa hồng. Điều này tạo nên khác biệt cơ bản - bạn bắt đầu từ đâu. Một người trước tiên đếm gai, và người đó sẽ thấy có hàng nghìn cái gai. Và trong khi đếm gai, một số gai sẽ đâm vào tay người ấy, máu sẽ chảy. Việc gai đâm ấy, số gai ấy và việc tay bị chảy máu, tất cả sẽ trở thành cơ sở cho sự đối lập với hoa hồng. Và khi người ấy đã đếm hàng nghìn chiếc gai và may ra mới thấy được một hai đoá hoa, tâm trí người ấy sẽ nói, “Những đoá hoa này chỉ lừa dối, chúng không thật, bởi vì nơi có quá nhiều gai thế này thì làm sao hoa có thể thanh tao được? Đấy chỉ là ảo tưởng.”
Thế cũng là tự nhiên, người ta sẽ cảm thấy như thế. Nơi có quá nhiều gai mà gai có khả năng gây ra chảy máu, thì làm sao hoa thanh tao có thể nở được ở đấy? Điều ấy là không thể được. Và cho dù người ấy có đồng ý rằng quả là có hoa ở đó, người ấy sẽ nói, “Chúng không có giá trị gì; giữa hàng nghìn cái gai một hai đoá hoa có giá trị gì? Dường như đấy là âm mưu của những chiếc gai, để cho hàng nghìn cái gai vẫn còn trong thế giới với lí do chỉ để có một đoá hoa. Đây là lừa dối. Đoá hoa này là mặt nạ che cho gai. Đoá hoa này đang tham dự vào âm mưu của chúng.”
Người bắt đầu suy tư về hoa thì trước hết sẽ chạm vào hoa. Bàn tay người ấy ngập trong hương thơm của hoa, mắt người ấy tràn đầy mầu sắc của hoa. Vẻ thanh tao của hoa thấm vào cái động chạm, cái đẹp của hoa tràn vào người ấy từ mọi phía. Rồi người ấy sẽ tiến tới gai - sau khi đã thấy các đoá hoa, sau khi đã biết và sống với hoa, người ấy đã đi vào tình yêu với hoa. Bây giờ khi người ấy tiến tới gai, chúng sẽ có phẩm chất hoàn toàn khác.
Người tiếp cận tới gai qua hiểu biết về hoa thì sẽ hiểu rằng gai có mục đích để bảo vệ hoa - chúng không phải là kẻ thù của hoa, chúng không chống lại hoa. Cùng dòng nhựa cây chảy tới hoa thì cũng chảy tới gai. Và gai là để bảo vệ hoa. Người thấy được hoa, người đã có thể thấy được một cách đúng đắn cho dù chỉ một hoa... hàng nghìn gai cũng sẽ mất tác động với người đó, bởi vì sự hiện diện của một hoa cũng đủ làm triệt tiêu tác động của hàng nghìn gai. Và nếu một đoá hoa có thể nở giữa bao nhiêu là gai thế thì điều ấy là điều diệu kì không thể có được; thế thì điều không thể cũng có thể xảy ra. Và nếu một đoá hoa có thể nở giữa biết bao nhiêu gai nhọn, người đó sẽ thấy một điểm là nếu người ấy nhìn kĩ hơn, có lẽ những gai nhọn đó cũng có thể chứng tỏ chúng không gì khác hơn là hoa.
Suy tư bắt đầu với thông cảm, suy nghĩ bắt đầu với đối lập. Nếu điều kiện lắng nghe được đáp ứng, thông cảm nảy sinh. Nếu thông cảm nảy sinh, chính dòng suối suy nghĩ sẽ quay một trăm tám mươi độ và trở thành suy tư.
Suy tư không có nghĩa là chấp nhận một cách mù quáng.
Cho nên người thấy đã nói: ... theo đuổi hợp lí ý nghĩa của bất kì cái gì đã được nghe chính là manan, suy tư.
Không ai cần phải nghĩ rằng suy tư nghĩa là chấp nhận một cách mù quáng. Lắng nghe không có nghĩa là chấp nhận mà suy tư cũng không có nghĩa là chấp nhận; phải dùng lập luận.
Nhưng việc dùng lập luận cũng thay đổi. Lập luận bản thân nó là trung lập. Chẳng hạn, có một lưỡi kiếm trong tay tôi... Bây giờ lưỡi kiếm là trung lập: nếu tôi muốn tôi có thể lấy mạng của ai đó hoặc tôi có thể cứu mạng ai đó - lưỡi kiếm vẫn trung lập. Lập luận là trung lập, nhưng có các mẫu hình khác, và tác động của lập luận có thể thay đổi. Nếu tâm trí đầy những thù nghịch, đối lập và đương đầu, lập luận trở thành bạo hành. Nếu tâm trí tràn đầy thông cảm, lắng nghe, tình yêu, tìm kiếm và khát khao chân lí, lập luận trở thành một lưỡi kiếm bảo vệ. Lập luận bên trong nó vốn không xấu.
Cho nên ở nước ta chúng ta đã chấp nhận hai kiểu lập luận: một kiểu là lập luận tích cực; kiểu kia là lập luận tiêu cực. Lập luận tiêu cực cũng là lập luận. Đôi khi lập luận tiêu cực dường như còn logic hơn lập luận tích cực, bởi vì lập luận tiêu cực có góc cạnh, góc cạnh sắc, cái có khả năng cắt đứt và giết chết.
Cho nên lập luận tiêu cực đôi khi dường như là logic sâu sắc hơn. Làm sao bạn phân biệt được đâu là lập luận tích cực và đâu là lập luận tiêu cực? Đây là khác biệt: rằng nếu lập luận là trong việc đi tìm cái tốt và chân lí - nó đầy thông cảm, bắt đầu từ hoa và rồi chuyển tới gai...
Khi tôi nói điều gì đó với bạn, quan sát từ chỗ bạn bắt đầu. Tôi ngạc nhiên bao nhiêu lần: tôi nói liền một tiếng, rồi sau đó ai đó đến với tôi và mọi điều tôi đã nói trong giờ này đều không tới được người ấy, người đó bị lôi vào trận chiến chống lại chỉ một điều. Người đó vớ lấy một điểm và đi tới đối lập với nó. Mọi điều khác đã được nói trong giờ này người ấy đều không nhớ, chỉ quẩn quanh với một điều nhỏ nhoi đó. Và cả điều ấy nữa cũng lôi người ấy ra ngoài hoàn cảnh của nó. Nó có nghĩa trong hoàn cảnh này; bị dứt ra khỏi hoàn cảnh nó sẽ mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Nhưng người ấy chỉ nghe điều đó. Người ấy phải đã sẵn sàng chỉ cho điều đó thôi. Người ấy phải đã chuẩn bị để tìm ra cái gì đó sai ở đâu đó.
Nếu bạn đang nghe tôi chỉ để tìm ra cái gì đó sai thì bạn sẽ không bao giờ có thể chuyển vào trong suy tư được.
Nhớ lấy, dù bạn có thể phát hiện ra bao nhiêu cái sai, điều ấy cũng không bao giờ trở thành sự giúp đỡ cho việc trưởng thành bên trong của bạn cả. Bạn có thể chỉ ra bao nhiêu vị trí của mọi cái sai cũng không thành vấn đề - bạn có thể biết được mọi cái sai trên toàn thế giới - vẫn không có trưởng thành bên trong xảy ra cho bạn qua việc đó.
Người đang tìm kiếm và quan tâm tới trưởng thành của mình thì không bận tâm tới việc tìm ra cái gì sai, người ấy chỉ quan tâm tới việc tìm ra cái gì đúng. Người ấy bắt đầu với cái đúng. Và người bắt đầu với điều đúng thì một ngày nào đó người ấy có thể tới điểm hiểu ra rằng điều dường như sai lại cũng có ý nghĩa nào đó, cũng có giá trị nào đó. Và điều dường như sai trước đây có thể dường như đúng sau này. Khác biệt chỉ là ở chỗ nhấn mạnh.
Lập luận tiêu cực tìm kiếm cái sai, nó bắt đầu cuộc hành trình từ đó. Lập luận tích cực bắt đầu với điều đúng.
Bạn đưa Koran cho ai đó đọc; nếu người ấy là người Hindu, người ấy sẽ không thấy gì có ý nghĩa trong Koran cả, mọi thứ trôi qua không hề gợi chú ý nào. Người ấy sẽ gạch dưới ngay mọi cái không đúng theo người đó, rồi đem đoạn kinh đến cho bạn và nói, “Trông đây này! Tôi luôn luôn nói rằng Koran không phải là kinh sách tôn giáo!” Hay bạn đưa Gita cho người Mô ha mét giáo, người ấy cũng sẽ chỉ ngay đích xác cái sai trong đó. Còn nếu bạn muốn học nghệ thuật này, học nó từ nhóm chính thống Hindu, nhóm Arya Samajis. Họ là các chuyên gia trong việc tìm ra cái gì sai và sai ở đâu. Không ai chuyên gia được như họ. Giữ cho tâm trí đừng trở thành như người Arya Samaji, chỉ thế thì bạn mới có thể trở nên suy tư được. Ngoài ra không thể có suy tư được bởi vì bạn vẫn đang truy tìm cái sai, mà cái sai tìm ra thì hằng hà sa số. Sau rốt, đâu là cái hiếm hoi của gai? Nhưng gai phục vụ cho mục đích gì? Bạn có định chuẩn bị một vòng gai không, rồi đeo nó quanh cổ mình?
Mục đích, mối quan tâm chính là với hoa, không phải là với gai.
Cho nên nếu có lập luận tích cực, người ta cũng có thể lượm lặt được hoa cả trong Koran nữa - và những hoa này cũng không thua kém gì những đoá hoa của Gita cả. Nếu có cách lập luận tích cực, bạn cũng có thể nhặt được hoa cả trong Gita nữa - và những hoa này cũng không thua kém gì hoa trong Koran hay Kinh thánh cả.
Người suy tư chính là đang tìm kiếm hoa, người suy nghĩ đang tìm kiếm gai. Bạn phải tự mình quyết định. Nhưng nhớ một điều, rằng bạn sẽ trở nên bị bao bọc bởi những cái bạn đang tìm kiếm. Nếu bạn tìm gai, bạn sẽ được bao quanh bởi gai, nếu bạn tìm hoa, bạn sẽ được bao quanh bởi hoa.
Cho nên nhớ rằng bằng cách tìm kiếm gai bạn không làm hại bất kì ai ngoài chính mình, bởi vì bạn sẽ nhận được điều bạn tìm kiếm. Cuộc sống trở thành địa ngục bởi vì bạn bị những người sai vây xung quanh; dường như không có ai là người đúng cả. Và không phải bởi vì không có người đúng quanh bạn mà bởi vì việc tìm kiếm của bạn chỉ hướng về những người sai.
Bạn nói với ai đó rằng người nào đó là người thổi sáo kì tài. Người đó liền nói, “Nó biết thổi sáo gì? Nó là thằng ăn cắp, kẻ bịp bợm. Làm sao nó có thể thổi sáo được?”
Bây giờ mâu thuẫn nào tồn tại giữa một kẻ ăn cắp hay một kẻ bất lương và một người thổi sáo? Người đó có thể là bất lương, nhưng ai nói rằng kẻ bất lương không thể thổi sáo được? Ai tạo ra liên hệ này? Trong kẻ ăn cắp, đoá hoa thổi sáo cũng có thể nở chứ. Trộm cắp là gai, thổi sáo sẽ là hoa. Khi hoa có thể nở giữa gai thì tại sao kẻ cắp không thể thổi sáo được?
Nhưng không, điều ấy làm hại tới việc chấp nhận rằng ai đó có thể làm điều gì đó tốt lành. Chúng ta lập tức sẽ kết án người đó: “Nó là kẻ cắp, kẻ bất lương - làm sao nó có thể thổi sáo được?”
Thái độ của người đang suy tư sẽ khác. Nếu bạn nói với người ấy rằng một người thế nọ thế kia là kẻ bất lương và kẻ cắp, người đó sẽ nói, “Có thể, nhưng người đó là người thổi sáo cực hay.”
Đây là khác biệt của chọn lựa. Và khi một người thổi sáo tuyệt vời đến vậy thì ngay cả con người của người đó, kẻ cắp hay kẻ bất lương cũng bắt đầu trở nên đáng ngờ. Khi một người là kẻ cắp hay kẻ bất lương như thế, thì khả năng thổi sáo của người đó cũng trở nên đáng ngờ. Bất kì cái gì chúng ta bám chặt vào rồi cũng sẽ ảnh hưởng đến thứ khác nữa.
Đâu là nhu cầu xác định xem một người là bất lương hay kẻ cắp? Nếu chúng ta muốn hàng xóm mình là kẻ cắp và bất lương, chúng ta sẽ tìm thấy họ hệt như thế. Hay nếu chúng ta muốn hàng xóm mình là người thổi sáo giỏi thì chúng ta nên nhìn họ như thế. Trong cuộc sống cả hai điều đều có đó. Đêm có đó mà ngày cũng có đó; và cái tốt có đó, cái xấu cũng có đó.
Bạn đừng nghĩ rằng cõi trời ở đâu đó bên ngoài trái đất này hay địa ngục là ở đâu đó xa xôi với trái đất này; nó là ở ngay trong mắt bạn thôi. Trên ngay chính trái đất này người ta đang sống trong cõi trời, và cũng ngay chính trên trái đất này mà người ta đang sống trong địa ngục. Điều bạn tìm kiếm trở thành thế giới của bạn.
Suy tư bắt đầu cuộc hành trình với hoa - với thông cảm. Nó không vội vã tấn công vào vào cái sai, trước hết nó đồng hoá cái đúng. Và khi cái đúng đã được đồng hoá hoàn toàn, chỉ có thế thì nó mới phản ánh điều đã dường như là sai trong quan sát ban đầu.
Và nhớ lấy, khác biệt thực sự của biến chuyển này trong thái độ chỉ bắt đầu thấy được về sau hơn. Người suy tư trưởng thành dần, đâm chồi dần; đồng hoá cái đúng, tự bản thân người đó trở thành đúng. Và việc tìm kiếm thường xuyên cái sai, thường xuyên đồng hoá cái sai thì bản thân người đó cũng trở thành sai. Người chỉ thấy có bất lương, trộm cắp và sai sót ở người khác thì không thể vẫn còn là người lương thiện lâu dài được. Sự thực là ở chỗ người như vậy không thể là người lương thiện theo đúng nghĩa.
Thực tại kẻ cắp luôn tin người khác cũng là kẻ cắp - đúng không? Không, người đó không bao giờ tin người khác không phải là kẻ cắp. Chính mẫu hình suy nghĩ của kẻ cắp trở thành mẫu hình mọi người khác đều là kẻ cắp. Người đó lập tức tìm kiếm và thấy ra mọi người khác đều có phẩm cách kẻ cắp cả. Kẻ đồi bại không thể tin được rằng mọi người đều có nhân cách. Người đó không thể chấp nhận được việc mọi người đều có nhân cách. Chính kinh nghiệm của người đó trở thành hướng dẫn cho niềm tin vào điều đó.
Đây là một điều rất thú vị: không kẻ đồi bại nào có thể tin rằng ai đó là vô dục. Người ấy đơn thuần không thể tin được vào điều đó! Điều đó là đúng, bởi vì nếu ai đó thực sự vô dục, người đó nữa cũng không thể tin rằng ai đó khác lại có thể đồi bại. Nhưng điều thú vị là ở chỗ không chỉ người đồi bại không bao giờ tin rằng có ai là vô dục, mà cả người vô dục cũng không tin rằng có ai đó là người vô dục.
Thế thì đây là sự việc rất có vấn đề. Kẻ đồi bại không tin rằng ai đó có thể là vô dục là điều logic, bởi vì “Khi mình còn không thể là một người như thế thì làm sao có ai khác lại có thể là người như thế đưọc?” Nhưng khi người vô dục cũng không sẵn sàng tin rằng người khác có thể là vô dục thì tình huống của người đó lại trở nên đáng ngờ; thế thì người ấy nữa cũng không phải là vô dục. Kinh nghiệm riêng bên trong của người đó chỉ là ở chỗ mọi người đều nói chuyện về vô dục, mọi thứ đều hời hợt, có đồi bại bên trong. Người đó, do đó, không còn tin nữa.
Nếu bạn đi qua bất kì thánh nhân nào, người coi những người khác không phải là thánh, thì bạn có thể chắc chắn rằng bản thân người đó chưa thể nào trở thành thánh được. Chính ý nghĩa của việc trở thành thánh là ở chỗ, đối với người ấy, toàn bộ thế giới đều trở thành thánh ngay lập tức. Đối với người ấy toàn bộ mọi thứ đã thay đổi, bởi vì tầm nhìn đã thay đổi. Khi người ta trở thành một thánh nhân bên trong thì tại mọi nơi trên thế giới người ấy đều thấy là thánh, là thần cả, bởi vì cái ở bên trong chính là cái thấy được ở bên ngoài.
Nếu bạn đang chỉ thấy cái xấu ở mọi người, nếu với mọi người bạn thấy đều là kẻ cắp cả, đều bất lương và xấu xa cả, thì hãy gạt những điều đó sang bên và lo về chính bạn ngay đi. Điều thấy được bên ngoài chính là bên trong bạn đó. Đó là cái bạn có thể thấy được. Đó là cái thấy được ngay, bởi vì cái đó hoà nhịp với cái bên trong ngay lập tức.
Suy tư bắt đầu với phía sáng của cuộc đời. Suy nghĩ bắt đầu với phía tối của cuộc đời. Nếu bạn có thể nhớ được điều này, việc lập luận vậy sẽ là một điều kì diệu; thế thì suy nghĩ và logic sẽ rất có ích. Thế thì việc lập luận có thể được toàn tâm toàn ý. Và thế thì lập luận sẽ không có hại, nó trở thành có ích, thân thiện.

Trích từ "Ngón tay chỉ trăng"

Thứ Bảy, 26 tháng 11, 2011

Bản ngã và tình yêu

Tại giai đoạn này tôi muốn trao cho bạn nguyên lí thứ nhất. Nếu bạn muốn biết chân lí cơ bản về tình yêu, điều kiện tiên quyết đầu tiên là hãy chấp nhận tính thiêng liêng của dục, hãy chấp nhận cái thiêng liêng của dục theo cùng cách bạn chấp nhận sự tồn tại của Thượng đế - với trái tim cởi mở. Và bạn càng chấp nhận dục đầy đủ hơn với trái tim và tâm trí cởi mở, bạn lại càng được tự do khỏi nó hơn. Nhưng bạn càng kìm nén nó nhiều bạn sẽ càng trở thành bị gắn với nó, giống như là anh nông dân kia, người đã trở thành nô lệ cho quần áo mình. Phạm vi của việc chấp nhận của bạn là phạm vi của tuyên bố của bạn. Sự chấp nhận toàn bộ về cuộc sống, về tất cả những cái là tự nhiên trong cuộc sống, về tất cả những cái Thượng đế trao cho trong cuộc sống, sẽ dẫn bạn tới thực tại cao nhất của điều thiêng liêng - tới những đỉnh cao còn chưa được biết tới, tới những đỉnh cao siêu phàm. Tôi gọi sự chấp nhận đó là hữu thần. Và đức tin đó trong cái Thượng đế trao chính là cánh cửa đi tới giải thoát.

Tôi coi những người hay giáo huấn kìm giữ con người không cho chấp nhận rằng cái mà là tự nhiên trong cuộc sống và trong sự phối hợp thiêng liêng, là kẻ vô thần. “Hãy phản đối cái này; hãy kìm nén cái kia. Tự nhiên là tội lỗi, xấu, dâm đãng. Hãy bỏ cái này; bỏ cái kia.” Tất cả những điều này thiết lập nên chủ nghĩa vô thần, như tôi hiểu nó. Những người thuyết giảng từ bỏ cũng là kẻ vô thần.

Bạn hãy chấp nhận cuộc sống dưới dạng tự nhiên và thuần khiết của nó và phát triển mạnh tính đầy đủ của nó. Bản thân tính đầy đủ sẽ nâng bạn lên, dần từng bước. Và chính cùng việc chấp nhận dục này sẽ nâng bạn lên những đỉnh cao thanh thản mà bạn không có khả năng nào tưởng tượng ra được. Nếu dục là than, chắc chắn một ngày nào đó sẽ tới khi nó tự biểu lộ bản thân là kim cương. Và đó là nguyên lí thứ nhất.

Điều nền tảng thứ hai tôi muốn nói cho bạn là về cái gì đó mà nền văn minh, văn hoá và tôn giáo ngay bây giờ, đã làm thành chai cứng bên trong chúng ta. Và đó là bản ngã, cái ý thức rằng “tôi đây”.

Bản chất của năng lượng dục thúc dục nó phải tuôn chảy hướng tới tình yêu, nhưng hàng rào của cái “tôi” đã bao quanh nó như bức tường và do vậy tình yêu không thể tuôn chảy. Cái “tôi” rất mạnh mẽ, cả trong người xấu cũng như người tốt, trong kẻ xấu xa cũng như trong người thánh thiện. Người xấu có thể xác nhận cái “tôi” theo nhiều cách, nhưng người tốt cũng khua cái “tôi” to lắm: họ muốn lên tận trời; họ muốn được giải thoát; họ đã từ bỏ thế giới này; họ đã xây dựng đền đài; họ không phạm tội lỗi; họ muốn làm điều này; họ muốn làm điều nọ. Nhưng cái “tôi” đó, cái dấu hiệu chỉ dẫn đó, bao giờ cũng hiện diện.

Bản ngã của người ta càng mạnh càng khó cho người đó hợp nhất với bất kì ai. Bản ngã len vào giữa; cái “tôi” tự xác nhận nó. Đó là bức tường. Nó tuyên bố, “Anh là anh còn tôi là tôi.” Và do vậy thậm chí kinh nghiệm thân mật nhất cũng không đem mọi người lại gần lẫn nhau. Thân thể có thể gần nhau nhưng mọi người vẫn còn xa nhau. Chừng nào vẫn còn cái “tôi” bên trong, cảm giác về người khác này không thể nào tránh được.

Một hôm Sartre nói một điều tuyệt vời: “Người khác là địa ngục.” Nhưng ông ấy đã không giải thích thêm gì nữa tại sao người khác lại là địa ngục, hay thậm chí tại sao người khác lại là người khác. Người khác là người khác bởi vì tôi là tôi, và trong khi tôi là tôi, thì thế giới bao quanh là người khác - khác và xa lạ, bị cô lập - và không có quan hệ nào.

Chừng nào còn có cảm giác tách bạch này, tình yêu không thể nào được biết tới. Tình yêu là kinh nghiệm của sự hợp nhất. Việc phá huỷ các bức tường, sự trộn lẫn của hai năng lượng là điều kinh nghiệm tình yêu là gì. Tình yêu là niềm cực lạc khi các bức tường giữa hai người bị đập vụn, khi hai cuộc sống gặp nhau, khi hai cuộc sống hợp nhất.

Khi sự hài hoà như vậy tồn tại giữa hai người tôi gọi nó là tình yêu. Và khi nó tồn tại giữa một người và đám đông, tôi gọi nó là sự giao cảm với Thượng đế. Nếu bạn có thể trở nên được hội nhập với tôi trong kinh nghiệm như vậy - để cho tất cả các rào chắn đều tan chảy, để cho sự thẩm thấu xảy ra tại mức độ tâm linh - thế thì đó là tình yêu. Và nếu sự hợp nhất như vậy xảy ra giữa tôi và mọi người khác và tôi làm mất đi căn cước của mình trong cái Tất cả, thế thì sự đạt tới đó, sự hội nhập đó, là với Thượng đế, với Đấng toàn năng, với Đấng toàn trí, với Tâm thức Vũ trụ, với Điều tối cao hay bất kì cái gì bạn muốn gọi nó. Và do vậy, tôi nói rằng tình yêu là bước đầu tiên và rằng Thượng đế là bước cuối cùng - cái đích cuối cùng và cao quí nhất.

Làm sao có thể xoá đi bản thân mình được?

Chừng nào tôi còn chưa làm tan biến bản thân mình đi, làm sao người khác hợp nhất được với tôi? Người khác được tạo ra do phản ứng với cái “tôi” của tôi. Tôi càng hô to “tôi” thì sự tồn tại của người khác càng trở nên mạnh hơn. Người khác là tiếng vọng của cái “tôi”.

Và “tôi” là gì? Bạn đã bao giờ nghĩ một cách bình thản về nó chưa? Nó có ở trong chân bạn, tay bạn, trong đầu bạn hay tim bạn không? Hay nó chỉ là bản ngã?

Cái “tôi” của bạn là gì và ở đâu, cái bản ngã của bạn ấy? Cái cảm giác về nó có đấy, ấy vậy mà lại chẳng tìm thấy nó ở chỗ đặc biệt nào cả. Bạn hãy ngồi im lặng một lúc mà tìm cái “tôi” đó. Bạn có thể ngạc nhiên, nhưng mặc cho việc tìm kiếm ráo riết bạn sẽ không tìm thấy cái “tôi” của bạn ở đâu cả. Khi bạn tìm kiếm sâu sắc bên trong bạn sẽ hiểu rõ là không có cái “tôi”. Như vậy, không có bản ngã. Khi có chân lí về cái ta thì cái “tôi” không có đó.

Nhà sư Nagsen rất được kính trọng đã được Hoàng đế Malind vời vào triều đình.

Sứ giả tới Nagsen và nói, “Thưa hoà thượng Nagsen, hoàng đế muốn gặp ngài. Tôi đến đây để mời ngài.”

Nagsen đáp, “Nếu ông ấy cần ta tới, ta sẽ tới. Nhưng, ta xin lỗi, không có người nào như Nagsen ở đây cả. Đấy chỉ là cái tên, chỉ là cái nhãn tạm thời mà thôi.”

Người đưa tin báo lại cho hoàng đế rằng Nagsen là người rất kì lạ: ông ta đã trả lời ông ta sẽ tới, nhưng lại nói rằng không có Nagsen như thế ở đó. Hoàng đế cũng ngạc nhiên với điều kì lạ đó.

Nagsen tới đúng hẹn, trong chiếc xe hoàng gia, và hoàng đế ra đón ông ấy tận cổng. “Hoà thượng Nagsen, ta đón chào ông đây!”

Nghe thấy điều này, nhà sư cười phá lên. “Tôi chấp nhận lòng hiếu khách của bệ hạ như Nagsen, nhưng xin hãy nhớ không có ai tên là Nagsen cả.”

Hoàng đế nói, “Ông cứ nói kiểu thách đố. Nếu ông không phải là ông, thế thì ai đang chấp nhận lời mời của ta? Ai đang đáp lại sự đón chào này?”

Nagsen nhìn ra sau mình và hỏi, “Đây chẳng phải là chiếc xe mà tôi đã tới sao?”

“Đúng đấy, nó là chính chiếc xe ấy đấy.”

“Xin hãy tháo ngựa ra.”

Việc này được thực hiện.

Vừa chỉ vào ngựa, nhà sư vừa hỏi, “Đây có phải là chiếc xe không?”

Hoàng đế nói, “Làm sao ngựa lại có thể được gọi là xe?”

Theo dấu hiệu của nhà sư, ngựa được dẫn đi, và thanh gióng xe được dùng để buộc ngựa cũng được dỡ ra.

“Các thanh gióng này có phải là xe của bệ hạ không?”

“Tất nhiên là không rồi, đây là những gióng xe chứ không phải xe.”

Nhà sư lại tiếp tục, ra lệnh bỏ bớt từng bộ phận một, và mỗi lần hỏi hoàng đế phải trả lời, “Đây không phải là chiếc xe.”

Cuối cùng chẳng còn lại gì nữa.

Nhà sư hỏi, “Bây giờ chiếc xe của bệ hạ đâu rồi? Từng bộ phận của nó đã được lấy đi và bệ hạ đều nói, ‘Cái này không phải là xe.’ Thế thì hãy nói cho thần, bây giờ chiếc xe của bệ hạ đâu rồi?”

Sự khải lộ làm hoàng đế giật mình.

Nhà sư tiếp tục. “Bệ hạ vẫn theo được ý thần chứ? Chiếc xe là sự lắp ghép; nó là một tuyển tập những thứ nào đó. Chiếc xe không có bản thể riêng của nó. Xin bệ hạ hãy nhìn vào bên trong. Bản ngã của bệ hạ ở đâu? Cái ‘tôi’ của bệ hạ ở đâu?”

Bạn sẽ thấy rằng cái “tôi” đó chẳng có ở đâu cả. Nó là sự biểu lộ của nhiều năng lượng; có thế thôi. Bạn hãy nghĩ về từng và mọi chi, về từng và mọi khía cạnh của bản thân bạn, và thế rồi khử bỏ dần mọi thứ, từng thứ một. Chung cuộc, cái không sẽ còn lại. Tình yêu được sinh ra từ cái không đó. Cái không đó là Thượng đế.

Trong làng một người mới mở cửa hàng cá với tấm biển lớn: “Bán cá tươi ở đây.”

Ngay ngày đầu tiên một người bước vào cửa hiệu và đọc, “Bán cá tươi ở đây.” Anh ta cười to, “’Cá tươi’ ư? Cá ươn bán ở mọi chỗ khác chắc? Phỏng có ích gì mà viết cá ‘tươi’?”

Chủ tiệm cho rằng anh ta phải; thêm vào đó, ‘tươi’ gây ra ý tưởng về ‘ươn’ cho khách hàng. Ông ta xoá đi chữ “tươi” trong biển hiệu. Tấm biển bây giờ ghi là “Bán cá ở đây.”

Một cụ bà, đến thăm cửa hàng ngày hôm sau, đọc to, “’Bán cá ở đây’ sao? Ông còn bán cá ở nơi nào đó khác chăng?”

Chữ “ở đây” bị xoá đi. Bây giờ tấm biển đọc là “Bán cá.”

Ngày thứ ba một khách hàng khác tới cửa hiệu và nói, “’Bán cá’ à? Có ai cho không cá đâu?”

Chữ “bán” lại bị xoá đi. Bây giờ chỉ còn lại mỗi chữ “cá”.

Một người có tuổi tới và nói với chủ hiệu, “’Cá’ à? Người mù, ngay từ xa, cũng có thể biết được mùi của cá được bán ở đây.”

Chữ “cá” bị loại bỏ đi. Tấm biển bây giờ để trống.

Một khách qua đường hỏi, “Sao tấm biển lại trống huếch thế kia?”

Tấm biển cũng bị bỏ đi nốt. Chẳng còn lại gì sau tiến trình khử bỏ dần; mọi từ đều đã bị loại bỏ, từng từ một. Và cái còn lại đằng sau là cái không, cái trống rỗng.

Tình yêu chỉ có thể được sinh ra từ cái trống rỗng. Chỉ cái trống rỗng mới có khả năng hội nhập với cái trống rỗng khác; chỉ cái không mới có thể hợp nhất toàn bộ với cái không khác. Không phải hai cá nhân, mà là hai chân không mới có thể gặp gỡ, bởi vì bây giờ không có rào chắn. Tất cả mọi thứ khác đều có tường bao; chân không không có gì cả.

Cho nên điều thứ hai cần phải nhớ là ở chỗ tình yêu được sinh ra khi tính cá nhân tan biến, khi cái “tôi” và “người khác” không còn nữa. Bất kì cái gì còn lại thế thì đều là mọi thứ, vô giới hạn - nhưng không cái “tôi”. Với sự đạt tới đó, tất cả mọi rào chắn đều vỡ vụn và xảy ra sự ùa tới của những sông Hằng đã sẵn sàng.

Chúng ta đào giếng. Nước đã có đó rồi, bên trong; không phải mang nó từ đâu tới cả. Chúng ta chỉ đào đất và đá lên và bỏ chúng đi. Chúng ta đang làm đích xác điều gì vậy? Chúng ta tạo ra cái trống rỗng để cho nước vốn ẩn bên trong có thể tìm ra không gian để đi vào, không gian để nó tự biểu lộ ra trong đó. Cái mà đang ở bên trong đó mong muốn có chỗ; nó muốn có không gian. Nó khẩn cầu cái trống rỗng - cái mà nó chưa có - để cho nó có thể đi ra, để cho nó có thể phụt ra. Nếu chiếc giếng đầy những cát và đá, khoảnh khắc chúng ta vét bỏ cát và đá đi, nước sẽ sủi lên. Tương tự, con người tràn đầy tình yêu, nhưng tình yêu lại cần không gian để xuất đầu lộ diện. Chừng nào trái tim và tâm hồn bạn còn nói “tôi” thì bạn vẫn còn là chiếc giếng cát và đá, và dòng suối tình yêu sẽ không sủi lên trong bạn.

Tôi đã từng nghe rằng ngày xưa có một cây đại thụ uy nghi, với cành lá xum xuê trải rộng ra hướng lên trời. Khi nó đang trong độ ra hoa, bướm ong đủ loại, đủ mầu, đủ kích cỡ, dập dìu quanh nó. Khi nó nở hoa và kết quả, chim chóc từ những mảnh đất xa xôi tới và hót trong nó. Các cành cây, như những bàn tay giang rộng, ban phúc lành cho tất cả những ai tới và ngồi dưới bóng chúng. Một cậu bé hay tới chơi dưới nó, và cây đại thụ này nảy sinh lòng yêu mến với cậu bé này.

Tình yêu giữa cây đại thụ này và cậu bé là có thể, nếu cái lớn không nhận biết rằng nó là lớn. Cái cây này không biết nó là lớn; chỉ con người mới có loại tri thức đó. Cái lớn bao giờ cũng có bản ngã như mối quan tâm chủ chốt của nó, nhưng với tình yêu thì không ai là lớn hay là nhỏ cả. Tình yêu ôm choàng bất kì ai tới gần.

Cho nên cái cây này đã nẩy sinh tình yêu với cậu bé này, người hay tới chơi gần nó. Cành của nó thật cao, nhưng nó uốn xuống và hạ chúng xuống thấp để cho cậu bé có thể hái hoa và hái quả. Tình yêu bao giờ cũng sẵn sàng cúi mình; bản ngã không bao giờ sẵn sàng cúi mình cả. Nếu bạn lại gần bản ngã, cành của nó thậm chí sẽ còn vươn cao lên hơn nữa; nó sẽ cứng rắn thêm để cho bạn không thể nào đạt tới nó được.

Đứa bé vui đùa tới, và cái cây hạ thấp cành của nó xuống. Cây rất hài lòng khi đứa bé hái hoa; toàn bộ bản thể nó tràn ngập với niềm vui sướng của tình yêu. Tình yêu bao giờ cũng hạnh phúc khi nó có thể cho cái gì đó; bản ngã bao giờ cũng hạnh phúc khi nó có thể lấy.

Cậu bé lớn lên. Đôi khi cậu ngủ trong lòng cây, đôi khi cậu ăn quả của nó, và đôi khi cậu đội vòng miện bằng hoa của cây và hành động như một ông vua rừng rậm. Người ta trở thành giống như ông vua khi hoa của tình yêu có đó, nhưng người ta trở nên nghèo nàn và khốn khổ khi gai của bản ngã hiện diện. Việc thấy cậu bé đeo vương miện hoa và nhẩy múa làm tràn ngập lòng cây niềm vui sướng. Nó lắc lư chòm lá trong tình yêu; nó hát ca trong gió thoảng. Đứa bé càng lớn hơn nữa. Nó bắt đầu trèo lên cây để đung đưa trên các cành cây. Cây cảm thấy rất hạnh phúc khi đứa bé nghỉ ngơi trên cành của nó. Tình yêu hạnh phúc khi nó đem tới nguồn an ủi cho ai đó; bản ngã chỉ hạnh phúc khi nó đem tới điều bực dọc.

Với thời gian qua đi, gánh nặng của những nghĩa vụ khác xảy đến cho cậu bé. Tham vọng lớn lên; nó phải qua các kì thi; nó có bạn bè để tán gẫu và đi chơi, cho nên nó không tới cây thường xuyên nữa. Nhưng cây vẫn chờ đợi khắc khoải cậu bé tới. Nó cất tiếng gọi từ trong linh hồn mình, “Lại đây đi. Lại đây đi cậu bé. Ta đang đợi con.” Tình yêu chờ đợi ngày và đêm. Và cái cây chờ đợi. Cái cây cảm thấy buồn khi cậu bé không tới. Tình yêu buồn bã khi nó không thể chia sẻ; tình yêu buồn bã khi nó không thể cho được. Tình yêu biết ơn khi nó có thể chia sẻ. Khi nó có thể là kẻ buông xuôi, một cách toàn bộ, thì tình yêu là hạnh phúc nhất.

Khi cậu bé lớn lên, cậu ngày càng ít ra chơi với cây. Người trở nên lớn, người có tham vọng lớn lên, thì thấy ngày càng ít thời gian dành cho tình yêu. Chàng trai bây giờ mê mải trong các việc trần thế.

Một hôm, trong khi chàng trai đi ngang qua, cái cây nói với nó, “Ta đợi con mà con không tới. Ta trông đợi con hàng ngày.”

Chàng trai nói, “Cây có gì nào? Tại sao ta lại phải tới với cây? Cây có tiền không? Ta đang kiếm tiền đây.” Bản ngã bao giờ cũng có động cơ. Chỉ nếu có mục đích nào đó cần phải được đáp ứng thì bản ngã mới tới. Nhưng tình yêu lại không động cơ. Tình yêu là phần thưởng của riêng nó.

Cái cây giật mình nói, “Con sẽ tới ta chỉ nếu ta cho cái gì đó sao?” Cái mà không cho đi được thì không phải là tình yêu. Bản ngã tích cóp, nhưng tình yêu lại cho vô điều kiện. “Chúng ta không có cái bệnh tật đó, và chúng ta vui sướng,” cái cây nói. “Hoa nở trên chúng ta. Nhiều quả trưởng thành trên chúng ta. Chúng ta cho bóng mát. Chúng ta đung đưa trong làn gió thoảng, và ca lên những bài ca. Chim hồn nhiên nhẩy nhót trên cành chúng ta và hót líu lo thậm chí chúng ta chẳng có tiền. Cái ngày mà chúng ta dính líu với tiền, chúng ta sẽ phải đi tới đền đài như các anh, những con người yếu đuối vẫn làm, để học cách kiếm được an bình, để học cách tìm ra tình yêu. Không, chúng ta không có bất kì nhu cầu nào về tiền cả.”

Chàng trai nói, “Thế thì sao ta phải tới cây? Ta sẽ đi tới nơi có tiền. Ta cần tiền.” Bản ngã cứ đòi hỏi tiền bởi vì nó cần quyền lực.

Cái cây nghĩ một lúc rồi nói, “Đừng đi đâu khác nữa, con yêu. Hãy hái quả của ta và bán đi. Con sẽ kiếm tiền theo cách đó.”

Chàng trai lập tức tươi lên. Anh ta trèo lên cây và hái hết quả cây; thậm chí cả quả còn xanh cũng bị rung cho rơi xuống. Cái cây cảm thấy rất hạnh phúc, cho dù vài cành và nhánh cây đã bị gẫy, cho dù nhiều lá đã rụng xuống đất. Đau đớn cũng làm cho tình yêu hạnh phúc, nhưng thậm chí sau khi đau đớn, bản ngã cũng chẳng hạnh phúc. Bản ngã bao giờ cũng ham muốn hơn nữa. Cây không để ý rằng chàng trai thậm chí đã chẳng hề quay lại để cám ơn nó. Nó đã được lời cám ơn của nó rồi khi chàng trai chấp nhận lời đề nghị hái và bán quả của nó.

Chàng trai không quay lại sau một thời gian dài. Bây giờ chàng ta đã có tiền và chàng ta bận rộn làm ra nhiều tiền hơn từ số tiền đó. Chàng ta đã quên mất tất cả về cái cây. Nhiều năm trôi qua. Cái cây buồn bã. Nó nóng lòng mong đợi sự trở lại của chàng trai - giống như người mẹ có bầu vú căng đầy sữa nhưng đứa con thì lại bị lạc. Toàn bộ con người của người mẹ cầu khẩn đứa con; người mẹ tìm kiếm điên dại về đứa con mình để cho nó có thể tới làm nhẹ bớt cho mình. Đấy cũng là tiếng khóc thầm của cái cây đó. Toàn bộ bản thể nó đau đớn quằn quại.

Sau nhiều năm, bây giờ đã là người lớn, chàng trai tới với cây.

Cái cây nói, “Lại đây, con ta. Lại đây ôm lấy ta.”

Người này nói, “Chấm dứt cái trò uỷ mị ấy đi. Đấy là trò trẻ con. Ta không còn là trẻ con nữa.” Bản ngã coi tình yêu là điên khùng, như chuyện hão huyền ngây thơ.

Nhưng cái cây vẫn mời anh ta: “Lại đây đi, hãy đánh đu trên cành ta. Hãy lại nhẩy múa. Hãy lại chơi với ta.”

Người này nói, “Chấm dứt cái lời vô dụng này đi! Ta cần xây một ngôi nhà. Cây có thể cho ta ngôi nhà được không?”

Cái cây than: “Ngôi nhà sao! Ta không có nhà.” Chỉ con người mới sống trong nhà. Không ai khác sống trong nhà cả ngoài con người. Và bạn có chú ý tới điều kiện của anh ta sau việc giam hãm của mình trong bốn bức tường không? Nhà anh ta càng lớn con người càng trở nên nhỏ bé hơn. “Chúng ta không ở trong nhà, nhưng con có thể chặt cành ta - và thế thì con có thể có khả năng làm một ngôi nhà.”

Không phí chút thời gian nào, người này đem rìu tới và chặt rời tất cả các cành của cái cây này. Bây giờ cây chỉ còn là cái thân trơ trụi. Nhưng tình yêu không để ý đến những điều như thế - cho dù mọi cành của nó có bị chặt rời vì người nó yêu. Tình yêu là việc cho; tình yêu bao giờ cũng sẵn sàng cho.

Người này thậm chí chẳng bận tâm tới việc cám ơn cây. Anh ta làm nhà mình. Và ngày tháng bay đi trong nhiều năm.

Cái thân cứ chờ đợi và chờ đợi mãi. Nó muốn gọi người ấy, nhưng nó không có cành cũng chẳng có lá để đem cho nó sức mạnh. Gió thổi qua, nhưng nó thậm chí cũng chẳng thể xoay xở để gửi gió một thông báo. Và linh hồn nó vẫn vang vọng với lời cầu nguyện duy nhất: “Hãy lại đây. Hãy lại đây, con ta. Hãy lại đây.” Nhưng chẳng cái gì xảy ra cả.

Thời gian qua đi và người này bây giờ đã già. Một lần ông ta đi ngang qua và ông ta tới đứng cạnh cây.

Cái cây hỏi, “Ta có thể làm được gì nữa cho con? Con đã tới sau một thời gian rất, rất lâu.’

Ông già nói, “Cây còn có thể làm được cái gì khác cho ta? Ta muốn đi tới những mảnh đất xa xôi để kiếm được nhiều tiền hơn. Ta cần một chiếc thuyền để du hành.”

Mừng rỡ, cái cây nói, “Nhưng điều đó không thành vấn đề, tình yêu của ta. Hãy chặt thân ta ra, và làm chiếc thuyền từ đó. Ta sẽ rất sung sướng nếu ta có thể giúp con đi tới những mảnh đất xa xôi để kiếm tiền. Nhưng xin con hãy nhớ, ta bao giờ cũng chờ đợi con trở về.”

Người này đem tới một cái cưa, cưa thân cây ra, làm chiếc thuyền và dương buồm ra đi.

Bây giờ cái cây chỉ còn là cái gốc nhỏ bé. Và nó chờ đợi cho người yêu trở về. Nó chờ đợi, nó chờ đợi và nó chờ đợi mãi. Người này sẽ chẳng bao giờ trở lại; bản ngã chỉ tới khi có cái gì đó kiếm được và bây giờ cây chẳng có gì cả, hoàn toàn không còn gì để cho nữa. Bản ngã không tới nơi không có gì để được. Bản ngã là kẻ ăn xin vĩnh viễn, trong trạng thái đòi hỏi liên tục, còn tình yêu lại là từ thiện. Tình yêu là ông vua, hoàng đế! Có ông vua nào vĩ đại hơn tình yêu không?

Một đêm tôi đã nghỉ lại gần gốc cây đó. Nó thì thào với tôi, “Người bạn đó của tôi vẫn chưa trở lại. Tôi rất lo nghĩ về hoàn cảnh ông ta bị chết đuối hoặc bị lạc. Ông ta có thể bị lạc ở một trong những quốc gia xa xăm đó. Ông ta có thể không còn sống nữa. Tôi ước ao biết được tin tức về ông ta làm sao! Vì tôi cũng gần hết đời mình rồi, tôi muốn được thoả mãn với ít nhất vài tin tức về ông ấy. Thế thì tôi có thể chết một cách hạnh phúc. Nhưng ông ấy sẽ không tới cho dù tôi có gọi ông ấy. Tôi chẳng còn lại gì để cho còn ông ấy chỉ hiểu ngôn ngữ của việc lấy.”

Bản ngã chỉ hiểu ngôn ngữ của việc lấy; ngôn ngữ của việc cho là tình yêu.
Tôi không thể nói điều gì nhiều hơn thế. Hơn nữa, chẳng có gì nhiều để nói hơn là điều này: nếu cuộc sống trở thành giống như cái cây đó, vươn rộng cành của nó ra xa và rộng để cho tất cả mọi người đều có chỗ trú ẩn trong bóng râm của nó, thế thì chúng ta sẽ hiểu tình yêu là gì. Không có kinh sách, không sơ đồ, không từ điển về tình yêu. Không có bộ nguyên tắc nào cho tình yêu cả.

Tôi tự hỏi tôi có thể nói gì về tình yêu! Tình yêu mới khó diễn đạt thế. Tình yêu chỉ có đó. Bạn có thể đã thấy nó trong mắt tôi nếu bạn tới và nhìn vào chúng. Tôi tự hỏi liệu bạn có thể cảm thấy nó khi cánh tay tôi giang ra ôm choàng hay không.

Tình yêu.

Tình yêu là gì?

Nếu tình yêu không được cảm thấy trong mắt tôi, trong cánh tay tôi, trong cái im lặng của tôi, thế thì nó chẳng bao giờ có thể được hiểu từ lời tôi cả.
Tôi lấy làm biết ơn vì việc kiên nhẫn lắng nghe của các bạn. Và cuối cùng, tôi cúi mình trước điều Tối cao ngụ trong tất cả chúng ta.

Trích từ "Từ dục tới Siêu tâm thức"
Tại giai đoạn này tôi muốn trao cho bạn nguyên lí thứ nhất. Nếu bạn muốn biết chân lí cơ bản về tình yêu, điều kiện tiên quyết đầu tiên là hãy chấp nhận tính thiêng liêng của dục, hãy chấp nhận cái thiêng liêng của dục theo cùng cách bạn chấp nhận sự tồn tại của Thượng đế - với trái tim cởi mở. Và bạn càng chấp nhận dục đầy đủ hơn với trái tim và tâm trí cởi mở, bạn lại càng được tự do khỏi nó hơn. Nhưng bạn càng kìm nén nó nhiều bạn sẽ càng trở thành bị gắn với nó, giống như là anh nông dân kia, người đã trở thành nô lệ cho quần áo mình. Phạm vi của việc chấp nhận của bạn là phạm vi của tuyên bố của bạn. Sự chấp nhận toàn bộ về cuộc sống, về tất cả những cái là tự nhiên trong cuộc sống, về tất cả những cái Thượng đế trao cho trong cuộc sống, sẽ dẫn bạn tới thực tại cao nhất của điều thiêng liêng - tới những đỉnh cao còn chưa được biết tới, tới những đỉnh cao siêu phàm. Tôi gọi sự chấp nhận đó là hữu thần. Và đức tin đó trong cái Thượng đế trao chính là cánh cửa đi tới giải thoát.

Tôi coi những người hay giáo huấn kìm giữ con người không cho chấp nhận rằng cái mà là tự nhiên trong cuộc sống và trong sự phối hợp thiêng liêng, là kẻ vô thần. “Hãy phản đối cái này; hãy kìm nén cái kia. Tự nhiên là tội lỗi, xấu, dâm đãng. Hãy bỏ cái này; bỏ cái kia.” Tất cả những điều này thiết lập nên chủ nghĩa vô thần, như tôi hiểu nó. Những người thuyết giảng từ bỏ cũng là kẻ vô thần.

Bạn hãy chấp nhận cuộc sống dưới dạng tự nhiên và thuần khiết của nó và phát triển mạnh tính đầy đủ của nó. Bản thân tính đầy đủ sẽ nâng bạn lên, dần từng bước. Và chính cùng việc chấp nhận dục này sẽ nâng bạn lên những đỉnh cao thanh thản mà bạn không có khả năng nào tưởng tượng ra được. Nếu dục là than, chắc chắn một ngày nào đó sẽ tới khi nó tự biểu lộ bản thân là kim cương. Và đó là nguyên lí thứ nhất.

Điều nền tảng thứ hai tôi muốn nói cho bạn là về cái gì đó mà nền văn minh, văn hoá và tôn giáo ngay bây giờ, đã làm thành chai cứng bên trong chúng ta. Và đó là bản ngã, cái ý thức rằng “tôi đây”.

Bản chất của năng lượng dục thúc dục nó phải tuôn chảy hướng tới tình yêu, nhưng hàng rào của cái “tôi” đã bao quanh nó như bức tường và do vậy tình yêu không thể tuôn chảy. Cái “tôi” rất mạnh mẽ, cả trong người xấu cũng như người tốt, trong kẻ xấu xa cũng như trong người thánh thiện. Người xấu có thể xác nhận cái “tôi” theo nhiều cách, nhưng người tốt cũng khua cái “tôi” to lắm: họ muốn lên tận trời; họ muốn được giải thoát; họ đã từ bỏ thế giới này; họ đã xây dựng đền đài; họ không phạm tội lỗi; họ muốn làm điều này; họ muốn làm điều nọ. Nhưng cái “tôi” đó, cái dấu hiệu chỉ dẫn đó, bao giờ cũng hiện diện.

Bản ngã của người ta càng mạnh càng khó cho người đó hợp nhất với bất kì ai. Bản ngã len vào giữa; cái “tôi” tự xác nhận nó. Đó là bức tường. Nó tuyên bố, “Anh là anh còn tôi là tôi.” Và do vậy thậm chí kinh nghiệm thân mật nhất cũng không đem mọi người lại gần lẫn nhau. Thân thể có thể gần nhau nhưng mọi người vẫn còn xa nhau. Chừng nào vẫn còn cái “tôi” bên trong, cảm giác về người khác này không thể nào tránh được.

Một hôm Sartre nói một điều tuyệt vời: “Người khác là địa ngục.” Nhưng ông ấy đã không giải thích thêm gì nữa tại sao người khác lại là địa ngục, hay thậm chí tại sao người khác lại là người khác. Người khác là người khác bởi vì tôi là tôi, và trong khi tôi là tôi, thì thế giới bao quanh là người khác - khác và xa lạ, bị cô lập - và không có quan hệ nào.

Chừng nào còn có cảm giác tách bạch này, tình yêu không thể nào được biết tới. Tình yêu là kinh nghiệm của sự hợp nhất. Việc phá huỷ các bức tường, sự trộn lẫn của hai năng lượng là điều kinh nghiệm tình yêu là gì. Tình yêu là niềm cực lạc khi các bức tường giữa hai người bị đập vụn, khi hai cuộc sống gặp nhau, khi hai cuộc sống hợp nhất.

Khi sự hài hoà như vậy tồn tại giữa hai người tôi gọi nó là tình yêu. Và khi nó tồn tại giữa một người và đám đông, tôi gọi nó là sự giao cảm với Thượng đế. Nếu bạn có thể trở nên được hội nhập với tôi trong kinh nghiệm như vậy - để cho tất cả các rào chắn đều tan chảy, để cho sự thẩm thấu xảy ra tại mức độ tâm linh - thế thì đó là tình yêu. Và nếu sự hợp nhất như vậy xảy ra giữa tôi và mọi người khác và tôi làm mất đi căn cước của mình trong cái Tất cả, thế thì sự đạt tới đó, sự hội nhập đó, là với Thượng đế, với Đấng toàn năng, với Đấng toàn trí, với Tâm thức Vũ trụ, với Điều tối cao hay bất kì cái gì bạn muốn gọi nó. Và do vậy, tôi nói rằng tình yêu là bước đầu tiên và rằng Thượng đế là bước cuối cùng - cái đích cuối cùng và cao quí nhất.

Làm sao có thể xoá đi bản thân mình được?

Chừng nào tôi còn chưa làm tan biến bản thân mình đi, làm sao người khác hợp nhất được với tôi? Người khác được tạo ra do phản ứng với cái “tôi” của tôi. Tôi càng hô to “tôi” thì sự tồn tại của người khác càng trở nên mạnh hơn. Người khác là tiếng vọng của cái “tôi”.

Và “tôi” là gì? Bạn đã bao giờ nghĩ một cách bình thản về nó chưa? Nó có ở trong chân bạn, tay bạn, trong đầu bạn hay tim bạn không? Hay nó chỉ là bản ngã?

Cái “tôi” của bạn là gì và ở đâu, cái bản ngã của bạn ấy? Cái cảm giác về nó có đấy, ấy vậy mà lại chẳng tìm thấy nó ở chỗ đặc biệt nào cả. Bạn hãy ngồi im lặng một lúc mà tìm cái “tôi” đó. Bạn có thể ngạc nhiên, nhưng mặc cho việc tìm kiếm ráo riết bạn sẽ không tìm thấy cái “tôi” của bạn ở đâu cả. Khi bạn tìm kiếm sâu sắc bên trong bạn sẽ hiểu rõ là không có cái “tôi”. Như vậy, không có bản ngã. Khi có chân lí về cái ta thì cái “tôi” không có đó.

Nhà sư Nagsen rất được kính trọng đã được Hoàng đế Malind vời vào triều đình.

Sứ giả tới Nagsen và nói, “Thưa hoà thượng Nagsen, hoàng đế muốn gặp ngài. Tôi đến đây để mời ngài.”

Nagsen đáp, “Nếu ông ấy cần ta tới, ta sẽ tới. Nhưng, ta xin lỗi, không có người nào như Nagsen ở đây cả. Đấy chỉ là cái tên, chỉ là cái nhãn tạm thời mà thôi.”

Người đưa tin báo lại cho hoàng đế rằng Nagsen là người rất kì lạ: ông ta đã trả lời ông ta sẽ tới, nhưng lại nói rằng không có Nagsen như thế ở đó. Hoàng đế cũng ngạc nhiên với điều kì lạ đó.

Nagsen tới đúng hẹn, trong chiếc xe hoàng gia, và hoàng đế ra đón ông ấy tận cổng. “Hoà thượng Nagsen, ta đón chào ông đây!”

Nghe thấy điều này, nhà sư cười phá lên. “Tôi chấp nhận lòng hiếu khách của bệ hạ như Nagsen, nhưng xin hãy nhớ không có ai tên là Nagsen cả.”

Hoàng đế nói, “Ông cứ nói kiểu thách đố. Nếu ông không phải là ông, thế thì ai đang chấp nhận lời mời của ta? Ai đang đáp lại sự đón chào này?”

Nagsen nhìn ra sau mình và hỏi, “Đây chẳng phải là chiếc xe mà tôi đã tới sao?”

“Đúng đấy, nó là chính chiếc xe ấy đấy.”

“Xin hãy tháo ngựa ra.”

Việc này được thực hiện.

Vừa chỉ vào ngựa, nhà sư vừa hỏi, “Đây có phải là chiếc xe không?”

Hoàng đế nói, “Làm sao ngựa lại có thể được gọi là xe?”

Theo dấu hiệu của nhà sư, ngựa được dẫn đi, và thanh gióng xe được dùng để buộc ngựa cũng được dỡ ra.

“Các thanh gióng này có phải là xe của bệ hạ không?”

“Tất nhiên là không rồi, đây là những gióng xe chứ không phải xe.”

Nhà sư lại tiếp tục, ra lệnh bỏ bớt từng bộ phận một, và mỗi lần hỏi hoàng đế phải trả lời, “Đây không phải là chiếc xe.”

Cuối cùng chẳng còn lại gì nữa.

Nhà sư hỏi, “Bây giờ chiếc xe của bệ hạ đâu rồi? Từng bộ phận của nó đã được lấy đi và bệ hạ đều nói, ‘Cái này không phải là xe.’ Thế thì hãy nói cho thần, bây giờ chiếc xe của bệ hạ đâu rồi?”

Sự khải lộ làm hoàng đế giật mình.

Nhà sư tiếp tục. “Bệ hạ vẫn theo được ý thần chứ? Chiếc xe là sự lắp ghép; nó là một tuyển tập những thứ nào đó. Chiếc xe không có bản thể riêng của nó. Xin bệ hạ hãy nhìn vào bên trong. Bản ngã của bệ hạ ở đâu? Cái ‘tôi’ của bệ hạ ở đâu?”

Bạn sẽ thấy rằng cái “tôi” đó chẳng có ở đâu cả. Nó là sự biểu lộ của nhiều năng lượng; có thế thôi. Bạn hãy nghĩ về từng và mọi chi, về từng và mọi khía cạnh của bản thân bạn, và thế rồi khử bỏ dần mọi thứ, từng thứ một. Chung cuộc, cái không sẽ còn lại. Tình yêu được sinh ra từ cái không đó. Cái không đó là Thượng đế.

Trong làng một người mới mở cửa hàng cá với tấm biển lớn: “Bán cá tươi ở đây.”

Ngay ngày đầu tiên một người bước vào cửa hiệu và đọc, “Bán cá tươi ở đây.” Anh ta cười to, “’Cá tươi’ ư? Cá ươn bán ở mọi chỗ khác chắc? Phỏng có ích gì mà viết cá ‘tươi’?”

Chủ tiệm cho rằng anh ta phải; thêm vào đó, ‘tươi’ gây ra ý tưởng về ‘ươn’ cho khách hàng. Ông ta xoá đi chữ “tươi” trong biển hiệu. Tấm biển bây giờ ghi là “Bán cá ở đây.”

Một cụ bà, đến thăm cửa hàng ngày hôm sau, đọc to, “’Bán cá ở đây’ sao? Ông còn bán cá ở nơi nào đó khác chăng?”

Chữ “ở đây” bị xoá đi. Bây giờ tấm biển đọc là “Bán cá.”

Ngày thứ ba một khách hàng khác tới cửa hiệu và nói, “’Bán cá’ à? Có ai cho không cá đâu?”

Chữ “bán” lại bị xoá đi. Bây giờ chỉ còn lại mỗi chữ “cá”.

Một người có tuổi tới và nói với chủ hiệu, “’Cá’ à? Người mù, ngay từ xa, cũng có thể biết được mùi của cá được bán ở đây.”

Chữ “cá” bị loại bỏ đi. Tấm biển bây giờ để trống.

Một khách qua đường hỏi, “Sao tấm biển lại trống huếch thế kia?”

Tấm biển cũng bị bỏ đi nốt. Chẳng còn lại gì sau tiến trình khử bỏ dần; mọi từ đều đã bị loại bỏ, từng từ một. Và cái còn lại đằng sau là cái không, cái trống rỗng.

Tình yêu chỉ có thể được sinh ra từ cái trống rỗng. Chỉ cái trống rỗng mới có khả năng hội nhập với cái trống rỗng khác; chỉ cái không mới có thể hợp nhất toàn bộ với cái không khác. Không phải hai cá nhân, mà là hai chân không mới có thể gặp gỡ, bởi vì bây giờ không có rào chắn. Tất cả mọi thứ khác đều có tường bao; chân không không có gì cả.

Cho nên điều thứ hai cần phải nhớ là ở chỗ tình yêu được sinh ra khi tính cá nhân tan biến, khi cái “tôi” và “người khác” không còn nữa. Bất kì cái gì còn lại thế thì đều là mọi thứ, vô giới hạn - nhưng không cái “tôi”. Với sự đạt tới đó, tất cả mọi rào chắn đều vỡ vụn và xảy ra sự ùa tới của những sông Hằng đã sẵn sàng.

Chúng ta đào giếng. Nước đã có đó rồi, bên trong; không phải mang nó từ đâu tới cả. Chúng ta chỉ đào đất và đá lên và bỏ chúng đi. Chúng ta đang làm đích xác điều gì vậy? Chúng ta tạo ra cái trống rỗng để cho nước vốn ẩn bên trong có thể tìm ra không gian để đi vào, không gian để nó tự biểu lộ ra trong đó. Cái mà đang ở bên trong đó mong muốn có chỗ; nó muốn có không gian. Nó khẩn cầu cái trống rỗng - cái mà nó chưa có - để cho nó có thể đi ra, để cho nó có thể phụt ra. Nếu chiếc giếng đầy những cát và đá, khoảnh khắc chúng ta vét bỏ cát và đá đi, nước sẽ sủi lên. Tương tự, con người tràn đầy tình yêu, nhưng tình yêu lại cần không gian để xuất đầu lộ diện. Chừng nào trái tim và tâm hồn bạn còn nói “tôi” thì bạn vẫn còn là chiếc giếng cát và đá, và dòng suối tình yêu sẽ không sủi lên trong bạn.

Tôi đã từng nghe rằng ngày xưa có một cây đại thụ uy nghi, với cành lá xum xuê trải rộng ra hướng lên trời. Khi nó đang trong độ ra hoa, bướm ong đủ loại, đủ mầu, đủ kích cỡ, dập dìu quanh nó. Khi nó nở hoa và kết quả, chim chóc từ những mảnh đất xa xôi tới và hót trong nó. Các cành cây, như những bàn tay giang rộng, ban phúc lành cho tất cả những ai tới và ngồi dưới bóng chúng. Một cậu bé hay tới chơi dưới nó, và cây đại thụ này nảy sinh lòng yêu mến với cậu bé này.

Tình yêu giữa cây đại thụ này và cậu bé là có thể, nếu cái lớn không nhận biết rằng nó là lớn. Cái cây này không biết nó là lớn; chỉ con người mới có loại tri thức đó. Cái lớn bao giờ cũng có bản ngã như mối quan tâm chủ chốt của nó, nhưng với tình yêu thì không ai là lớn hay là nhỏ cả. Tình yêu ôm choàng bất kì ai tới gần.

Cho nên cái cây này đã nẩy sinh tình yêu với cậu bé này, người hay tới chơi gần nó. Cành của nó thật cao, nhưng nó uốn xuống và hạ chúng xuống thấp để cho cậu bé có thể hái hoa và hái quả. Tình yêu bao giờ cũng sẵn sàng cúi mình; bản ngã không bao giờ sẵn sàng cúi mình cả. Nếu bạn lại gần bản ngã, cành của nó thậm chí sẽ còn vươn cao lên hơn nữa; nó sẽ cứng rắn thêm để cho bạn không thể nào đạt tới nó được.

Đứa bé vui đùa tới, và cái cây hạ thấp cành của nó xuống. Cây rất hài lòng khi đứa bé hái hoa; toàn bộ bản thể nó tràn ngập với niềm vui sướng của tình yêu. Tình yêu bao giờ cũng hạnh phúc khi nó có thể cho cái gì đó; bản ngã bao giờ cũng hạnh phúc khi nó có thể lấy.

Cậu bé lớn lên. Đôi khi cậu ngủ trong lòng cây, đôi khi cậu ăn quả của nó, và đôi khi cậu đội vòng miện bằng hoa của cây và hành động như một ông vua rừng rậm. Người ta trở thành giống như ông vua khi hoa của tình yêu có đó, nhưng người ta trở nên nghèo nàn và khốn khổ khi gai của bản ngã hiện diện. Việc thấy cậu bé đeo vương miện hoa và nhẩy múa làm tràn ngập lòng cây niềm vui sướng. Nó lắc lư chòm lá trong tình yêu; nó hát ca trong gió thoảng. Đứa bé càng lớn hơn nữa. Nó bắt đầu trèo lên cây để đung đưa trên các cành cây. Cây cảm thấy rất hạnh phúc khi đứa bé nghỉ ngơi trên cành của nó. Tình yêu hạnh phúc khi nó đem tới nguồn an ủi cho ai đó; bản ngã chỉ hạnh phúc khi nó đem tới điều bực dọc.

Với thời gian qua đi, gánh nặng của những nghĩa vụ khác xảy đến cho cậu bé. Tham vọng lớn lên; nó phải qua các kì thi; nó có bạn bè để tán gẫu và đi chơi, cho nên nó không tới cây thường xuyên nữa. Nhưng cây vẫn chờ đợi khắc khoải cậu bé tới. Nó cất tiếng gọi từ trong linh hồn mình, “Lại đây đi. Lại đây đi cậu bé. Ta đang đợi con.” Tình yêu chờ đợi ngày và đêm. Và cái cây chờ đợi. Cái cây cảm thấy buồn khi cậu bé không tới. Tình yêu buồn bã khi nó không thể chia sẻ; tình yêu buồn bã khi nó không thể cho được. Tình yêu biết ơn khi nó có thể chia sẻ. Khi nó có thể là kẻ buông xuôi, một cách toàn bộ, thì tình yêu là hạnh phúc nhất.

Khi cậu bé lớn lên, cậu ngày càng ít ra chơi với cây. Người trở nên lớn, người có tham vọng lớn lên, thì thấy ngày càng ít thời gian dành cho tình yêu. Chàng trai bây giờ mê mải trong các việc trần thế.

Một hôm, trong khi chàng trai đi ngang qua, cái cây nói với nó, “Ta đợi con mà con không tới. Ta trông đợi con hàng ngày.”

Chàng trai nói, “Cây có gì nào? Tại sao ta lại phải tới với cây? Cây có tiền không? Ta đang kiếm tiền đây.” Bản ngã bao giờ cũng có động cơ. Chỉ nếu có mục đích nào đó cần phải được đáp ứng thì bản ngã mới tới. Nhưng tình yêu lại không động cơ. Tình yêu là phần thưởng của riêng nó.

Cái cây giật mình nói, “Con sẽ tới ta chỉ nếu ta cho cái gì đó sao?” Cái mà không cho đi được thì không phải là tình yêu. Bản ngã tích cóp, nhưng tình yêu lại cho vô điều kiện. “Chúng ta không có cái bệnh tật đó, và chúng ta vui sướng,” cái cây nói. “Hoa nở trên chúng ta. Nhiều quả trưởng thành trên chúng ta. Chúng ta cho bóng mát. Chúng ta đung đưa trong làn gió thoảng, và ca lên những bài ca. Chim hồn nhiên nhẩy nhót trên cành chúng ta và hót líu lo thậm chí chúng ta chẳng có tiền. Cái ngày mà chúng ta dính líu với tiền, chúng ta sẽ phải đi tới đền đài như các anh, những con người yếu đuối vẫn làm, để học cách kiếm được an bình, để học cách tìm ra tình yêu. Không, chúng ta không có bất kì nhu cầu nào về tiền cả.”

Chàng trai nói, “Thế thì sao ta phải tới cây? Ta sẽ đi tới nơi có tiền. Ta cần tiền.” Bản ngã cứ đòi hỏi tiền bởi vì nó cần quyền lực.

Cái cây nghĩ một lúc rồi nói, “Đừng đi đâu khác nữa, con yêu. Hãy hái quả của ta và bán đi. Con sẽ kiếm tiền theo cách đó.”

Chàng trai lập tức tươi lên. Anh ta trèo lên cây và hái hết quả cây; thậm chí cả quả còn xanh cũng bị rung cho rơi xuống. Cái cây cảm thấy rất hạnh phúc, cho dù vài cành và nhánh cây đã bị gẫy, cho dù nhiều lá đã rụng xuống đất. Đau đớn cũng làm cho tình yêu hạnh phúc, nhưng thậm chí sau khi đau đớn, bản ngã cũng chẳng hạnh phúc. Bản ngã bao giờ cũng ham muốn hơn nữa. Cây không để ý rằng chàng trai thậm chí đã chẳng hề quay lại để cám ơn nó. Nó đã được lời cám ơn của nó rồi khi chàng trai chấp nhận lời đề nghị hái và bán quả của nó.

Chàng trai không quay lại sau một thời gian dài. Bây giờ chàng ta đã có tiền và chàng ta bận rộn làm ra nhiều tiền hơn từ số tiền đó. Chàng ta đã quên mất tất cả về cái cây. Nhiều năm trôi qua. Cái cây buồn bã. Nó nóng lòng mong đợi sự trở lại của chàng trai - giống như người mẹ có bầu vú căng đầy sữa nhưng đứa con thì lại bị lạc. Toàn bộ con người của người mẹ cầu khẩn đứa con; người mẹ tìm kiếm điên dại về đứa con mình để cho nó có thể tới làm nhẹ bớt cho mình. Đấy cũng là tiếng khóc thầm của cái cây đó. Toàn bộ bản thể nó đau đớn quằn quại.

Sau nhiều năm, bây giờ đã là người lớn, chàng trai tới với cây.

Cái cây nói, “Lại đây, con ta. Lại đây ôm lấy ta.”

Người này nói, “Chấm dứt cái trò uỷ mị ấy đi. Đấy là trò trẻ con. Ta không còn là trẻ con nữa.” Bản ngã coi tình yêu là điên khùng, như chuyện hão huyền ngây thơ.

Nhưng cái cây vẫn mời anh ta: “Lại đây đi, hãy đánh đu trên cành ta. Hãy lại nhẩy múa. Hãy lại chơi với ta.”

Người này nói, “Chấm dứt cái lời vô dụng này đi! Ta cần xây một ngôi nhà. Cây có thể cho ta ngôi nhà được không?”

Cái cây than: “Ngôi nhà sao! Ta không có nhà.” Chỉ con người mới sống trong nhà. Không ai khác sống trong nhà cả ngoài con người. Và bạn có chú ý tới điều kiện của anh ta sau việc giam hãm của mình trong bốn bức tường không? Nhà anh ta càng lớn con người càng trở nên nhỏ bé hơn. “Chúng ta không ở trong nhà, nhưng con có thể chặt cành ta - và thế thì con có thể có khả năng làm một ngôi nhà.”

Không phí chút thời gian nào, người này đem rìu tới và chặt rời tất cả các cành của cái cây này. Bây giờ cây chỉ còn là cái thân trơ trụi. Nhưng tình yêu không để ý đến những điều như thế - cho dù mọi cành của nó có bị chặt rời vì người nó yêu. Tình yêu là việc cho; tình yêu bao giờ cũng sẵn sàng cho.

Người này thậm chí chẳng bận tâm tới việc cám ơn cây. Anh ta làm nhà mình. Và ngày tháng bay đi trong nhiều năm.

Cái thân cứ chờ đợi và chờ đợi mãi. Nó muốn gọi người ấy, nhưng nó không có cành cũng chẳng có lá để đem cho nó sức mạnh. Gió thổi qua, nhưng nó thậm chí cũng chẳng thể xoay xở để gửi gió một thông báo. Và linh hồn nó vẫn vang vọng với lời cầu nguyện duy nhất: “Hãy lại đây. Hãy lại đây, con ta. Hãy lại đây.” Nhưng chẳng cái gì xảy ra cả.

Thời gian qua đi và người này bây giờ đã già. Một lần ông ta đi ngang qua và ông ta tới đứng cạnh cây.

Cái cây hỏi, “Ta có thể làm được gì nữa cho con? Con đã tới sau một thời gian rất, rất lâu.’

Ông già nói, “Cây còn có thể làm được cái gì khác cho ta? Ta muốn đi tới những mảnh đất xa xôi để kiếm được nhiều tiền hơn. Ta cần một chiếc thuyền để du hành.”

Mừng rỡ, cái cây nói, “Nhưng điều đó không thành vấn đề, tình yêu của ta. Hãy chặt thân ta ra, và làm chiếc thuyền từ đó. Ta sẽ rất sung sướng nếu ta có thể giúp con đi tới những mảnh đất xa xôi để kiếm tiền. Nhưng xin con hãy nhớ, ta bao giờ cũng chờ đợi con trở về.”

Người này đem tới một cái cưa, cưa thân cây ra, làm chiếc thuyền và dương buồm ra đi.

Bây giờ cái cây chỉ còn là cái gốc nhỏ bé. Và nó chờ đợi cho người yêu trở về. Nó chờ đợi, nó chờ đợi và nó chờ đợi mãi. Người này sẽ chẳng bao giờ trở lại; bản ngã chỉ tới khi có cái gì đó kiếm được và bây giờ cây chẳng có gì cả, hoàn toàn không còn gì để cho nữa. Bản ngã không tới nơi không có gì để được. Bản ngã là kẻ ăn xin vĩnh viễn, trong trạng thái đòi hỏi liên tục, còn tình yêu lại là từ thiện. Tình yêu là ông vua, hoàng đế! Có ông vua nào vĩ đại hơn tình yêu không?

Một đêm tôi đã nghỉ lại gần gốc cây đó. Nó thì thào với tôi, “Người bạn đó của tôi vẫn chưa trở lại. Tôi rất lo nghĩ về hoàn cảnh ông ta bị chết đuối hoặc bị lạc. Ông ta có thể bị lạc ở một trong những quốc gia xa xăm đó. Ông ta có thể không còn sống nữa. Tôi ước ao biết được tin tức về ông ta làm sao! Vì tôi cũng gần hết đời mình rồi, tôi muốn được thoả mãn với ít nhất vài tin tức về ông ấy. Thế thì tôi có thể chết một cách hạnh phúc. Nhưng ông ấy sẽ không tới cho dù tôi có gọi ông ấy. Tôi chẳng còn lại gì để cho còn ông ấy chỉ hiểu ngôn ngữ của việc lấy.”

Bản ngã chỉ hiểu ngôn ngữ của việc lấy; ngôn ngữ của việc cho là tình yêu.
Tôi không thể nói điều gì nhiều hơn thế. Hơn nữa, chẳng có gì nhiều để nói hơn là điều này: nếu cuộc sống trở thành giống như cái cây đó, vươn rộng cành của nó ra xa và rộng để cho tất cả mọi người đều có chỗ trú ẩn trong bóng râm của nó, thế thì chúng ta sẽ hiểu tình yêu là gì. Không có kinh sách, không sơ đồ, không từ điển về tình yêu. Không có bộ nguyên tắc nào cho tình yêu cả.

Tôi tự hỏi tôi có thể nói gì về tình yêu! Tình yêu mới khó diễn đạt thế. Tình yêu chỉ có đó. Bạn có thể đã thấy nó trong mắt tôi nếu bạn tới và nhìn vào chúng. Tôi tự hỏi liệu bạn có thể cảm thấy nó khi cánh tay tôi giang ra ôm choàng hay không.

Tình yêu.

Tình yêu là gì?

Nếu tình yêu không được cảm thấy trong mắt tôi, trong cánh tay tôi, trong cái im lặng của tôi, thế thì nó chẳng bao giờ có thể được hiểu từ lời tôi cả.
Tôi lấy làm biết ơn vì việc kiên nhẫn lắng nghe của các bạn. Và cuối cùng, tôi cúi mình trước điều Tối cao ngụ trong tất cả chúng ta.

Trích từ "Từ dục tới Siêu tâm thức"

Có thực sự CHẾT không?

Thưa thầy kính yêu,
Khi tôi chết, tôi có thực sự chết không? Tôi muốn thực sự được thuyết phục rằng cái chết là giấc ngủ vĩnh hằng.



Ram Jethmalani này, cái chết là ảo tưởng lớn nhất. Nó chưa bao giờ xảy ra cả, nó không thể xảy ra được theo chính bản chất của mọi sự. Vâng, có cái gì đó tạo ra ảo tưởng: cái chết là sự cắt rời giữa thân thể và linh hồn nhưng chỉ là sự cắt rời; thân thể không chết mà linh hồn cũng không chết. Thân thể không thể chết được bởi vì nó đã chết rồi; nó thuộc vào thế giới vật chất. Làm sao một vật chết có thể chết được? Và linh hồn không thể chết được bởi vì nó thuộc vào thế giới của vĩnh hằng, Thượng đế - nó là bản thân cuộc sống. Làm sao cuộc sống có thể chết được?

Cả hai có đồng thời trong chúng ta. Việc nối ghép này trở nên bị cắt rời; linh hồn trở nên không được gắn vào thân thể - đó là tất cả mọi điều chết là gì, điều chúng ta gọi là cái chết. Thân thể quay trở về với vật chất, với đất; còn linh hồn, nếu nó vẫn còn ham muốn, khao khát, thì bắt đầu tìm kiếm bụng mẹ khác, cơ hội khác để hoàn thành chúng. Hay nếu linh hồn được kết thúc với mọi ham muốn, với tất cả khao khát, thế thì không còn khả năng nào cho nó quay lại trong dạng thân thể nữa - thế thì nó đi vào trong tâm thức vĩnh hằng.

Đi vào trong tâm thức vĩnh hằng là hiện tượng rất nghịch lí: người ta không có vậy mà người ta lại có. Giọt sương tuột vào đại dương thì không còn nữa, theo một nghĩa nào đó - như một giọt sương thì nó không còn nữa; biên giới làm cho nó thành giọt sương đã biến mất. Nhưng theo nghĩa khác nó còn nhiều hơn là nó đã từng là: nó đã trở thành chính đại dương, biên giới của nó đã mở rộng thành vô hạn, biên giới của nó đã bùng nổ thành vô biên giới.

Một người như Phật trở thành tâm thức phổ quát, vậy mà - và đây là nghịch lí - tính cá nhân của ông ấy không bị mất đi, tâm thức của ông ấy không bị mất đi.

Cho nên, Ram này, tôi không thể nói rằng cái chết là giấc ngủ vĩnh hằng được - ngược lại, nó là việc thức tỉnh vĩnh hằng. Các nhà thơ đã từng nói với bạn hàng thế kỉ: cái chết là giấc ngủ vĩnh hằng - đừng sợ. Bản thân họ không biết, họ đơn giản cho bạn sự an ủi thôi. Nhưng sự khác biệt giữa cái chết thực và cái chết vĩnh hằng có thể là gì? Bạn đã bao giờ nghĩ về điều đó chưa? Nếu giấc ngủ là vĩnh hằng thì nó là cái chết. Nếu nó không bao giờ bị phá vỡ thì sự khác biệt ở đâu? Cái xác và người ngủ vĩnh hằng đích xác là một. Nếu giấc ngủ sẽ là mãi mãi và mãi mai, nó là cái chết.

Người nguyên thuỷ ở gần với chân lí hơn nhiều: họ nói rằng giấc ngủ là cái chết nhỏ. Họ đúng đấy, bởi vì trong vài giờ bạn trở nên hoàn toàn quên lãng thế giới, người khác, bản thân mình, thân thể mình. Bạn trở nên hoàn toàn bị ngắt ra trong vài giờ, thế rồi bạn được nối lại. Nó là cái chết nhỏ. Giấc ngủ là cái chết nhỏ nhưng điều ngược lại không đúng: cái chết không phải là giấc ngủ vĩnh hằng; nếu nó là vậy thì sự khác biệt sẽ là gì, Ram?

Nếu bạn đơn giản muốn an ủi bản thân mình rằng, "Mình sẽ là việc ngủ vĩnh hằng trong cái chết," điều đó là chuyện khác. Nhưng chân lí lại không an ủi bạn; chân lí là như nó đang đó. Chân lí là ở chỗ cái chết có hai khả năng. Nếu bạn chết đi với sự khao khát, ham muốn, thế thì nó đem bạn quay lại trong thân thể khác, bởi vì không có thân thể bạn không thể làm nỗ lực nào để hoàn thành ham muốn của mình. Không có thân thể bạnb không thể ăn thức ăn, bạn không thể làm tình; không có thân thể bạn không thể trở thành thủ tướng đất nước được - không có thân thể thì không thể làm gì được. Thân thể là phương tiện để làm mọi thứ; thu nhận, đi lại, đạt tới, đi tới. Không có thân thể bạn đơn giản hiện hữu; nó là trạng thái hiện hữu. Có thân thể bạn bao giờ cũng trở thành: trở thành cái này, trở thành cái nọ, giầu hơn, nổi tiếng hơn, thành công hơn. Không có thân thể tất cả đều trở nên dừng lại. Trở thành là cái tên khác cho ham muốn, cho nên nếu một người chết đi với ham muốn sâu, sâu sắc để trở thành cái gì đó thì người đó sẽ được sinh ra lần nữa trong thân thể khác. Đó là một phương án.

Phương án thứ hai là: nếu bạn đã hiểu ra cái vô tích sự của ham muốn, cái ngu xuẩn hoàn toàn của ham muốn, nếu bạn đã thấy điều đó thấu suốt - rằng không ham muốn nào đã bao giờ có thể được hoàn thành, rằng nó hứa hẹn và nó hứa hẹn nhiều đấy nhưng nó không bao giờ cho điều mong muốn, rằng tất cả mọi ham muốn đều mang tính lừa dối, rằng đó là vì sự không thông minh của chúng ta mà chúng ta cứ thành nạn nhân của ham muốn; nếu bạn đã thấy điều đó thấu suốt và bạn chết đi mà không phóng chiếu nào trong tâm trí, không hạt mầm nào của ham muốn, thế thì tất cả mọi hạt mầm đều bị thiêu cháy. Chính bởi vì điều này mà Patanjali đã gọi trạng thái tối thượng của samadhi là nirbeej samadhi, samadhi vô chủng tử - nếu bạn có thể chết đi cùng với mọi hạt mầm đã bị thiêu cháy, sẽ không có việc nảy mầm thêm nữa, sẽ không có việc sinh khác.

Thế thì bạn đi đâu? Bạn không rơi vào giấc ngủ. Thực tế để đạt tới trạng thái samadhi vô chủng tử người ta phải tuyệt đối thức tỉnh, người ta phải là vị phật, bởi vì hạt mầm của ham muốn bị thiêu cháy chỉ trong ngọn lửa của thức tỉnh. Cho nên nếu bạn chết đi mà không có ham muốn nào, bạn chết đi trong nhận biết toàn bộ, bạn thấy cái chết xảy ra. Và lại hãy nhớ, với "cái chết" tôi ngụ ý bạn thấy sự cắt đứt xảy ra - dần dần, từ từ linh hồn trở nên tách rời khỏi thân thể. Dần dần, dần dần nó trở nên bị bật rễ khỏi thân thể, nó trở nên tự do hơn khỏi nhà tù. Và một khoảnh khắc tới khi bạn tự do toàn bộ khỏi nhà tù, ở bên ngoài nhà giam có tên là cơ chế thân tâm.

Thế thì bạn vẫn còn thức tỉnh vĩnh hằng. Thế thì bạn vẫn còn trong vũ trụ, khuếch tán trong đại dương cuộc sống, nhưng thức tỉnh vĩnh hằng. Nó không phải là trạng thái ngủ.

Bạn hỏi tôi, "Khi tôi chết, tôi có thực chết không?" Ram Jethmalani, cái thực bạn sẽ không thể bị chết, nhưng Ram Jethmalani sẽ chết, bởi vì Ram Jethmalani không là gì ngoài cái tên của tổ hợp linh hồn và thân thể; nó là cái tên của sự đồng nhất. Chúng ta cảm thấy bị đồng nhất với thân thể mình; chúng ta nghĩ chúng ta là thân thể mình, tâm trí mình. Hãy nhớ, tâm trí chỉ là một phần của thân thể, phần tinh tế, phần vô hình. Nếu chúng ta bị đồng nhất với cơ cấu thân tâm, thế thì chắc chắn sự đồng nhất này sẽ chết.

Ram Jethmalani nhất định chết, nhưng có cái gì đó trong Ram Jethmalani sẽ không chết đâu. Bạn phải trở nên nhận biết về nó. Và cách duy nhất để trở nên nhận biết về nó là mang tính thiền nhiều hơn, là nhân chứng nhiều hơn. Hãy bắt đầu quan sát thân thể bạn, hãy bắt đầu quan sát tâm trí bạn; đừng bị tham dự vào, vẫn còn tách rời, xa xôi, bình thản. Cứ như một người ngồi trên bờ sông và quan sát dòng sông chảy qua. Bạn không nói, "Tôi là dòng sông." Cũng làm vậy với thân thể đi, hãy quan sát nó. Hãy trở nên càng ngày càng là người chứng kiến hơn. Và khi việc chứng kiến phát triển và trở nên được tích hợp, bạn sẽ có khả năng thấy Ram Jethmalani biến mất thậm chí ngay trước cái chết.

Trong thiền bản ngã chết, bản ngã biến mất. Một khi bản ngã đã biến mất, một khi bạn đã thấy bản thân mình như một thực thể vô ngã, thế thì không có cái chết cho bạn.

Chúng ta có thể nói điều đó theo cách khác: chính bản ngã tạo ra ảo tưởng về cái chết. Và bản thân bản ngã là giả, do đó cái chết nữa cũng là giả. Chúng ta níu bám lấy cái giả, đó là lí do tại sao chúng ta phải khổ từ cái chết.

Tính chất sannyas nghĩa là trở nên không bị đồng nhất với cơ chế thân tâm - trở thành nhân chứng, người thấy, người quan sát trên núi. Và khi bạn trở thành người thấy, người quan sát, núi càng ngày càng vươn lên cao hơn, và thung lũng tăm tối, tối đen bị bỏ lại đằng sau. Bạn cứ nhìn thung lũng trong thời hiện tại; thế rồi, dần dần, nó trở thành xa tới mức bạn không thể thấy nó được, bạn không thể nghe thấy tiếng động nào từ thung lũng, và một khoảnh khắc tới tại đỉnh tối thượng của núi khi thung lũng không còn tồn tại cho bạn. Thế thì dù vẫn sống, theo một nghĩa nào đó bạn đã chết. Ashtavakra, một trong những nhà tiên tri vĩ đại nhất của đất nước này, nói: sannyasin là người đã chết thậm chí cả khi người đó còn sống. Nhưng người chết trong khi vẫn còn sống sẽ sống khi người đó chết.

Bạn cũng hỏi tôi, "Tôi muốn thực sự được thuyết phục rằng cái chết là giấc ngủ vĩnh hằng."

Ram này, thuyết phục chẳng giúp gì được mấy đâu, bởi vì thuyết phục nghĩa là ai đó khác làm im lặng hoài nghi của bạn, đè nén hoài nghi của bạn, ai đó khác trở thành người có quyền với bạn. Có thể về mặt logic người đó giỏi biện luận hơn, có thể người đó có tâm trí hợp lí hoá lớn lao và người đó có thể thuyết phục bạn rằng không có cái chết, và bạn có thể bị làm cho im lặng và hoài nghi của bạn có thể bị làm cho im lặng. Nhưng ngay cả hoài nghi đã bị làm im lặng sẽ quay lại, chẳng chóng thì chầy, bởi vì chúng đã không biến mất - chúng mới chỉ bị kìm nén bởi các luận cứ logic.
Thuyết phục không ích gì nhiều; hoài nghi dai dẳng như dòng nước ngầm. Người này là người Ki tô giáo được thuyết phục, người khác là người Hindu được thuyết phục. Và tôi đã thấy tất cả các loại người - họ tất cả đều đầy hoài nghi, tất cả họ - người Ki tô giáo, người Hindu, người Mô ha mét giáo. Thực tế một người càng đầy hoài nghi hơn, người đó càng ương ngạnh hơn, người đó càng cố gắng tin hơn, bởi vì những hoài nghi đó là đau đớn. Người đó nói, "Tôi tin tưởng mạnh mẽ vào Gita, vào Koran, vào Kinh Thánh. Tôi là người Cơ đốc giáo đáng tin cậy."

Sao bạn cần là người Cơ đốc giáo đáng tin cậy? Để làm gì? Bạn phải đang chịu đựng hoài nghi lớn lao rồi. Nếu bạn không có hoài nghi nào bạn cũng không có đức tin nào. Hoài nghi là bệnh tật và đức tin là thuốc, nhưng tất cả mọi đức tin đều là thuốc đối chứng - chúng kìm nén, chúng tất cả đều là chất độc. Tất cả mọi đức tin đều độc hại. Vâng, với thời hiện tại họ có thể cho bạn cảm giác rằng bây giờ không có vấn đề gì, nhưng chẳng mấy chốc hoài nghi sẽ khẳng định chúng; chúng sẽ đợi cho tới đúng thời điểm. Chúng sẽ bùng nổ với sự thôi thúc lớn lao vào một ngày nào đó. Chúng sẽ bùng phát như núi lửa; chúng sẽ báo thù. Bởi vì bạn đã kìm nén chúng nên chúng đã thu thập quá nhiều năng lượng. Một ngày nào đó, vào khoảnh khắc yếu đuối nào đó, khi bạn mất cảnh giác, chúng sẽ báo thù. Cái gọi là thánh nhân của bạn tất cả đều đang chịu đựng hoài nghi lớn.

Không, tôi không thể cho bạn sự thuyết phục nào; tôi không tin vào thuyết phục, đức tin. Nhưng, Ram này, tôi có thể mời bạn tới cùng tôi, tôi có thể giúp bạn thấy. Sao lại được thuyết phục? Không cần đâu.

Tôi đã thấy và tôi có thể giúp bạn thấy, và chỉ việc thấy riêng của bạn mới sẽ có giá trị nào đó. Tôi đã nhận ra: tôi có thể giúp bạn nhận ra, tôi có thể đưa bạn, dần dần, tới đỉnh cao nhất của kinh nghiệm thiền. Kinh nghiệm riêng của bạn sẽ là sự biến đổi thực; thế thì hoài nghi không bao giờ có thể quay lại được nữa. Và khi bạn đã biết rồi, bạn sẽ ngạc nhiên rằng tất cả các nhà thơ đã từng bảo bạn rằng cái chết là giấc ngủ, giấc ngủ say, giấc ngủ vĩnh hằng, đều đã nói dối bạn - lời dối trá an ủi, lời dối trá đẹp đẽ, lời dối trá giúp đỡ, nhưng dối trá vẫn cứ là dối trá thôi, và sự giúp đỡ chỉ có thể là tạm thời.

Cũng giống như khi bạn quá lo nghĩ, quá căng thẳng và bạn uống rượu. Vâng, trong vài giờ bạn sẽ quên tất cả lo nghĩ của mình và tất cả căng thẳng của mình, nhưng rượu không thể lấy đi lo nghĩ của bạn mãi mãi được; nó không thể giải quyết được chúng. Và trong khi bạn chìm trong rượu thì những lo nghĩ đó lớn lên, trở nên mạnh hơn; bạn đang cho chúng thời gian phát triển. Và khi bạn trở lại vào sáng hôm sau với sự váng vất và đau đầu được cộng vào với lo nghĩ, bạn sẽ ngạc nhiên; chúng còn lớn hơn khi bạn đã rời bỏ chúng.

Thế rồi điều đó trở thành hình mẫu của cuộc sống: cứ trở nên say mèn để cho bạn có thể quên đi quên lại - nhưng bạn cứ phải đối diện với cuộc sống của mình lặp đi lặp lại. Đây không phải là cách sống thông minh.

Tôi chống lại mọi thứ gây say, chống lại mọi ma tuý. Chúng không ích gì; chúng chỉ giúp cho bạn trì hoãn vấn đề. Tôi muốn thực sự giải quyết các vấn đề của bạn. Tôi đã giải quyết được vấn đề của mình rồi, và các vấn đề là như nhau, dù nhiều hay ít. Tôi có thể đem bạn tới gần tôi hơn để cho bạn có thể cảm thấy trái tim tôi và bạn có thể thấy qua mắt tôi và bạn có thể cảm thấy điều đã xảy ra. Và việc cảm đó, việc nếm trải đó, sẽ trở thành lực kéo lên bạn.

Điều đó không phải là thuyết phục, điều đó không phải là đức tin - điều đó tạo ra tin cậy. Và một khi tin cậy được tạo ra thì cuộc hành trình đã bắt đầu. Tôi biết, Ram này, bạn cần sự giúp đỡ lớn lao. Tôi đã nhìn vào trong mắt bạn - ngay khi bạn ở đây và tôi đã nhìn vào mắt bạn - chúng trông rất buồn. Bạn phải đang mang nỗi khổ lớn bên trong mình.

Ở bên ngoài bạn là con người thành công, luật sư bào chữa giỏi nhất nước này. Ở bên ngoài bạn thành công theo mọi cách - là nghị sĩ, chủ tịch hội luật sư Ấn Độ - nhưng sâu bên dưới tôi đã thấy, chỉ một thoáng nhìn qua thôi, rằng bạn đang ngồi trên núi lửa. Tôi đã thấy nỗi khổ lớn lao trong mắt bạn, những giọt nước mắt lớn đang đợi chảy ra từ mắt bạn. Bạn không phúc lạc theo bất kì cách nào.

Tôi có thể làm cho bạn phúc lạc được - sao phải hỏi về thuyết phục? - tôi có thể cho bạn kinh nghiệm thực. Toàn thể nỗ lực của tôi ở đây không phải là để cho mọi người đức tin mà là kinh nghiệm, không giúp họ một cách hời hợt mà thực sự biến đổi họ. Tôi tuyệt đối sẵn có cho bạn. Và bạn không thể thoát được tôi lâu đâu.

Ram cũng là luật sư của tôi và anh ấy thích thú nói với mọi người rằng "Tôi là luật sư của Thượng đế." Nhưng là luật sư của tôi là ở trong nguy hiểm; chẳng chóng thì chầy bạn sẽ bị sập bẫy. Có thể đó là lí do tại sao tôi đã chọn bạn làm luật sư của tôi, để cho bạn có thể tới gần tôi hơn. Cách thức của tôi là quanh co khúc khuỷu.

Tình yêu lớn với tôi đã nảy sinh trong bạn. Bây giờ, tình yêu đó là bông hoa đầu tiên của mùa xuân; nhiều thứ nữa đang trên đường tới.

Nhưng hãy nhớ, toàn thể cách tiếp cận của tôi là cách tiếp cận của kinh nghiệm tồn tại. Tôi không muốn bạn là người tin, tôi muốn bạn kinh nghiệm theo cách riêng của mình; tôi không muốn thuyết phục bạn. Điều tôi đang nói là kinh nghiệm của tôi: không có cái chết. Tôi không nói với bạn, "Hãy tin rằng không có cái chết." Tôi đơn giản diễn đạt, chia sẻ kinh nghiệm của tôi rằng không có cái chết. Đó là thách thức! Nó không phải là nỗ lực để thuyết phục bạn, nó là thách thức để đi và thám hiểm. Bạn được đón chào. Hãy nghĩ về tôi như nhà bạn vậy!

Trích từ "Dhammapada: Con đường của Phật - tập 5"
Thưa thầy kính yêu,
Khi tôi chết, tôi có thực sự chết không? Tôi muốn thực sự được thuyết phục rằng cái chết là giấc ngủ vĩnh hằng.



Ram Jethmalani này, cái chết là ảo tưởng lớn nhất. Nó chưa bao giờ xảy ra cả, nó không thể xảy ra được theo chính bản chất của mọi sự. Vâng, có cái gì đó tạo ra ảo tưởng: cái chết là sự cắt rời giữa thân thể và linh hồn nhưng chỉ là sự cắt rời; thân thể không chết mà linh hồn cũng không chết. Thân thể không thể chết được bởi vì nó đã chết rồi; nó thuộc vào thế giới vật chất. Làm sao một vật chết có thể chết được? Và linh hồn không thể chết được bởi vì nó thuộc vào thế giới của vĩnh hằng, Thượng đế - nó là bản thân cuộc sống. Làm sao cuộc sống có thể chết được?

Cả hai có đồng thời trong chúng ta. Việc nối ghép này trở nên bị cắt rời; linh hồn trở nên không được gắn vào thân thể - đó là tất cả mọi điều chết là gì, điều chúng ta gọi là cái chết. Thân thể quay trở về với vật chất, với đất; còn linh hồn, nếu nó vẫn còn ham muốn, khao khát, thì bắt đầu tìm kiếm bụng mẹ khác, cơ hội khác để hoàn thành chúng. Hay nếu linh hồn được kết thúc với mọi ham muốn, với tất cả khao khát, thế thì không còn khả năng nào cho nó quay lại trong dạng thân thể nữa - thế thì nó đi vào trong tâm thức vĩnh hằng.

Đi vào trong tâm thức vĩnh hằng là hiện tượng rất nghịch lí: người ta không có vậy mà người ta lại có. Giọt sương tuột vào đại dương thì không còn nữa, theo một nghĩa nào đó - như một giọt sương thì nó không còn nữa; biên giới làm cho nó thành giọt sương đã biến mất. Nhưng theo nghĩa khác nó còn nhiều hơn là nó đã từng là: nó đã trở thành chính đại dương, biên giới của nó đã mở rộng thành vô hạn, biên giới của nó đã bùng nổ thành vô biên giới.

Một người như Phật trở thành tâm thức phổ quát, vậy mà - và đây là nghịch lí - tính cá nhân của ông ấy không bị mất đi, tâm thức của ông ấy không bị mất đi.

Cho nên, Ram này, tôi không thể nói rằng cái chết là giấc ngủ vĩnh hằng được - ngược lại, nó là việc thức tỉnh vĩnh hằng. Các nhà thơ đã từng nói với bạn hàng thế kỉ: cái chết là giấc ngủ vĩnh hằng - đừng sợ. Bản thân họ không biết, họ đơn giản cho bạn sự an ủi thôi. Nhưng sự khác biệt giữa cái chết thực và cái chết vĩnh hằng có thể là gì? Bạn đã bao giờ nghĩ về điều đó chưa? Nếu giấc ngủ là vĩnh hằng thì nó là cái chết. Nếu nó không bao giờ bị phá vỡ thì sự khác biệt ở đâu? Cái xác và người ngủ vĩnh hằng đích xác là một. Nếu giấc ngủ sẽ là mãi mãi và mãi mai, nó là cái chết.

Người nguyên thuỷ ở gần với chân lí hơn nhiều: họ nói rằng giấc ngủ là cái chết nhỏ. Họ đúng đấy, bởi vì trong vài giờ bạn trở nên hoàn toàn quên lãng thế giới, người khác, bản thân mình, thân thể mình. Bạn trở nên hoàn toàn bị ngắt ra trong vài giờ, thế rồi bạn được nối lại. Nó là cái chết nhỏ. Giấc ngủ là cái chết nhỏ nhưng điều ngược lại không đúng: cái chết không phải là giấc ngủ vĩnh hằng; nếu nó là vậy thì sự khác biệt sẽ là gì, Ram?

Nếu bạn đơn giản muốn an ủi bản thân mình rằng, "Mình sẽ là việc ngủ vĩnh hằng trong cái chết," điều đó là chuyện khác. Nhưng chân lí lại không an ủi bạn; chân lí là như nó đang đó. Chân lí là ở chỗ cái chết có hai khả năng. Nếu bạn chết đi với sự khao khát, ham muốn, thế thì nó đem bạn quay lại trong thân thể khác, bởi vì không có thân thể bạn không thể làm nỗ lực nào để hoàn thành ham muốn của mình. Không có thân thể bạnb không thể ăn thức ăn, bạn không thể làm tình; không có thân thể bạn không thể trở thành thủ tướng đất nước được - không có thân thể thì không thể làm gì được. Thân thể là phương tiện để làm mọi thứ; thu nhận, đi lại, đạt tới, đi tới. Không có thân thể bạn đơn giản hiện hữu; nó là trạng thái hiện hữu. Có thân thể bạn bao giờ cũng trở thành: trở thành cái này, trở thành cái nọ, giầu hơn, nổi tiếng hơn, thành công hơn. Không có thân thể tất cả đều trở nên dừng lại. Trở thành là cái tên khác cho ham muốn, cho nên nếu một người chết đi với ham muốn sâu, sâu sắc để trở thành cái gì đó thì người đó sẽ được sinh ra lần nữa trong thân thể khác. Đó là một phương án.

Phương án thứ hai là: nếu bạn đã hiểu ra cái vô tích sự của ham muốn, cái ngu xuẩn hoàn toàn của ham muốn, nếu bạn đã thấy điều đó thấu suốt - rằng không ham muốn nào đã bao giờ có thể được hoàn thành, rằng nó hứa hẹn và nó hứa hẹn nhiều đấy nhưng nó không bao giờ cho điều mong muốn, rằng tất cả mọi ham muốn đều mang tính lừa dối, rằng đó là vì sự không thông minh của chúng ta mà chúng ta cứ thành nạn nhân của ham muốn; nếu bạn đã thấy điều đó thấu suốt và bạn chết đi mà không phóng chiếu nào trong tâm trí, không hạt mầm nào của ham muốn, thế thì tất cả mọi hạt mầm đều bị thiêu cháy. Chính bởi vì điều này mà Patanjali đã gọi trạng thái tối thượng của samadhi là nirbeej samadhi, samadhi vô chủng tử - nếu bạn có thể chết đi cùng với mọi hạt mầm đã bị thiêu cháy, sẽ không có việc nảy mầm thêm nữa, sẽ không có việc sinh khác.

Thế thì bạn đi đâu? Bạn không rơi vào giấc ngủ. Thực tế để đạt tới trạng thái samadhi vô chủng tử người ta phải tuyệt đối thức tỉnh, người ta phải là vị phật, bởi vì hạt mầm của ham muốn bị thiêu cháy chỉ trong ngọn lửa của thức tỉnh. Cho nên nếu bạn chết đi mà không có ham muốn nào, bạn chết đi trong nhận biết toàn bộ, bạn thấy cái chết xảy ra. Và lại hãy nhớ, với "cái chết" tôi ngụ ý bạn thấy sự cắt đứt xảy ra - dần dần, từ từ linh hồn trở nên tách rời khỏi thân thể. Dần dần, dần dần nó trở nên bị bật rễ khỏi thân thể, nó trở nên tự do hơn khỏi nhà tù. Và một khoảnh khắc tới khi bạn tự do toàn bộ khỏi nhà tù, ở bên ngoài nhà giam có tên là cơ chế thân tâm.

Thế thì bạn vẫn còn thức tỉnh vĩnh hằng. Thế thì bạn vẫn còn trong vũ trụ, khuếch tán trong đại dương cuộc sống, nhưng thức tỉnh vĩnh hằng. Nó không phải là trạng thái ngủ.

Bạn hỏi tôi, "Khi tôi chết, tôi có thực chết không?" Ram Jethmalani, cái thực bạn sẽ không thể bị chết, nhưng Ram Jethmalani sẽ chết, bởi vì Ram Jethmalani không là gì ngoài cái tên của tổ hợp linh hồn và thân thể; nó là cái tên của sự đồng nhất. Chúng ta cảm thấy bị đồng nhất với thân thể mình; chúng ta nghĩ chúng ta là thân thể mình, tâm trí mình. Hãy nhớ, tâm trí chỉ là một phần của thân thể, phần tinh tế, phần vô hình. Nếu chúng ta bị đồng nhất với cơ cấu thân tâm, thế thì chắc chắn sự đồng nhất này sẽ chết.

Ram Jethmalani nhất định chết, nhưng có cái gì đó trong Ram Jethmalani sẽ không chết đâu. Bạn phải trở nên nhận biết về nó. Và cách duy nhất để trở nên nhận biết về nó là mang tính thiền nhiều hơn, là nhân chứng nhiều hơn. Hãy bắt đầu quan sát thân thể bạn, hãy bắt đầu quan sát tâm trí bạn; đừng bị tham dự vào, vẫn còn tách rời, xa xôi, bình thản. Cứ như một người ngồi trên bờ sông và quan sát dòng sông chảy qua. Bạn không nói, "Tôi là dòng sông." Cũng làm vậy với thân thể đi, hãy quan sát nó. Hãy trở nên càng ngày càng là người chứng kiến hơn. Và khi việc chứng kiến phát triển và trở nên được tích hợp, bạn sẽ có khả năng thấy Ram Jethmalani biến mất thậm chí ngay trước cái chết.

Trong thiền bản ngã chết, bản ngã biến mất. Một khi bản ngã đã biến mất, một khi bạn đã thấy bản thân mình như một thực thể vô ngã, thế thì không có cái chết cho bạn.

Chúng ta có thể nói điều đó theo cách khác: chính bản ngã tạo ra ảo tưởng về cái chết. Và bản thân bản ngã là giả, do đó cái chết nữa cũng là giả. Chúng ta níu bám lấy cái giả, đó là lí do tại sao chúng ta phải khổ từ cái chết.

Tính chất sannyas nghĩa là trở nên không bị đồng nhất với cơ chế thân tâm - trở thành nhân chứng, người thấy, người quan sát trên núi. Và khi bạn trở thành người thấy, người quan sát, núi càng ngày càng vươn lên cao hơn, và thung lũng tăm tối, tối đen bị bỏ lại đằng sau. Bạn cứ nhìn thung lũng trong thời hiện tại; thế rồi, dần dần, nó trở thành xa tới mức bạn không thể thấy nó được, bạn không thể nghe thấy tiếng động nào từ thung lũng, và một khoảnh khắc tới tại đỉnh tối thượng của núi khi thung lũng không còn tồn tại cho bạn. Thế thì dù vẫn sống, theo một nghĩa nào đó bạn đã chết. Ashtavakra, một trong những nhà tiên tri vĩ đại nhất của đất nước này, nói: sannyasin là người đã chết thậm chí cả khi người đó còn sống. Nhưng người chết trong khi vẫn còn sống sẽ sống khi người đó chết.

Bạn cũng hỏi tôi, "Tôi muốn thực sự được thuyết phục rằng cái chết là giấc ngủ vĩnh hằng."

Ram này, thuyết phục chẳng giúp gì được mấy đâu, bởi vì thuyết phục nghĩa là ai đó khác làm im lặng hoài nghi của bạn, đè nén hoài nghi của bạn, ai đó khác trở thành người có quyền với bạn. Có thể về mặt logic người đó giỏi biện luận hơn, có thể người đó có tâm trí hợp lí hoá lớn lao và người đó có thể thuyết phục bạn rằng không có cái chết, và bạn có thể bị làm cho im lặng và hoài nghi của bạn có thể bị làm cho im lặng. Nhưng ngay cả hoài nghi đã bị làm im lặng sẽ quay lại, chẳng chóng thì chầy, bởi vì chúng đã không biến mất - chúng mới chỉ bị kìm nén bởi các luận cứ logic.
Thuyết phục không ích gì nhiều; hoài nghi dai dẳng như dòng nước ngầm. Người này là người Ki tô giáo được thuyết phục, người khác là người Hindu được thuyết phục. Và tôi đã thấy tất cả các loại người - họ tất cả đều đầy hoài nghi, tất cả họ - người Ki tô giáo, người Hindu, người Mô ha mét giáo. Thực tế một người càng đầy hoài nghi hơn, người đó càng ương ngạnh hơn, người đó càng cố gắng tin hơn, bởi vì những hoài nghi đó là đau đớn. Người đó nói, "Tôi tin tưởng mạnh mẽ vào Gita, vào Koran, vào Kinh Thánh. Tôi là người Cơ đốc giáo đáng tin cậy."

Sao bạn cần là người Cơ đốc giáo đáng tin cậy? Để làm gì? Bạn phải đang chịu đựng hoài nghi lớn lao rồi. Nếu bạn không có hoài nghi nào bạn cũng không có đức tin nào. Hoài nghi là bệnh tật và đức tin là thuốc, nhưng tất cả mọi đức tin đều là thuốc đối chứng - chúng kìm nén, chúng tất cả đều là chất độc. Tất cả mọi đức tin đều độc hại. Vâng, với thời hiện tại họ có thể cho bạn cảm giác rằng bây giờ không có vấn đề gì, nhưng chẳng mấy chốc hoài nghi sẽ khẳng định chúng; chúng sẽ đợi cho tới đúng thời điểm. Chúng sẽ bùng nổ với sự thôi thúc lớn lao vào một ngày nào đó. Chúng sẽ bùng phát như núi lửa; chúng sẽ báo thù. Bởi vì bạn đã kìm nén chúng nên chúng đã thu thập quá nhiều năng lượng. Một ngày nào đó, vào khoảnh khắc yếu đuối nào đó, khi bạn mất cảnh giác, chúng sẽ báo thù. Cái gọi là thánh nhân của bạn tất cả đều đang chịu đựng hoài nghi lớn.

Không, tôi không thể cho bạn sự thuyết phục nào; tôi không tin vào thuyết phục, đức tin. Nhưng, Ram này, tôi có thể mời bạn tới cùng tôi, tôi có thể giúp bạn thấy. Sao lại được thuyết phục? Không cần đâu.

Tôi đã thấy và tôi có thể giúp bạn thấy, và chỉ việc thấy riêng của bạn mới sẽ có giá trị nào đó. Tôi đã nhận ra: tôi có thể giúp bạn nhận ra, tôi có thể đưa bạn, dần dần, tới đỉnh cao nhất của kinh nghiệm thiền. Kinh nghiệm riêng của bạn sẽ là sự biến đổi thực; thế thì hoài nghi không bao giờ có thể quay lại được nữa. Và khi bạn đã biết rồi, bạn sẽ ngạc nhiên rằng tất cả các nhà thơ đã từng bảo bạn rằng cái chết là giấc ngủ, giấc ngủ say, giấc ngủ vĩnh hằng, đều đã nói dối bạn - lời dối trá an ủi, lời dối trá đẹp đẽ, lời dối trá giúp đỡ, nhưng dối trá vẫn cứ là dối trá thôi, và sự giúp đỡ chỉ có thể là tạm thời.

Cũng giống như khi bạn quá lo nghĩ, quá căng thẳng và bạn uống rượu. Vâng, trong vài giờ bạn sẽ quên tất cả lo nghĩ của mình và tất cả căng thẳng của mình, nhưng rượu không thể lấy đi lo nghĩ của bạn mãi mãi được; nó không thể giải quyết được chúng. Và trong khi bạn chìm trong rượu thì những lo nghĩ đó lớn lên, trở nên mạnh hơn; bạn đang cho chúng thời gian phát triển. Và khi bạn trở lại vào sáng hôm sau với sự váng vất và đau đầu được cộng vào với lo nghĩ, bạn sẽ ngạc nhiên; chúng còn lớn hơn khi bạn đã rời bỏ chúng.

Thế rồi điều đó trở thành hình mẫu của cuộc sống: cứ trở nên say mèn để cho bạn có thể quên đi quên lại - nhưng bạn cứ phải đối diện với cuộc sống của mình lặp đi lặp lại. Đây không phải là cách sống thông minh.

Tôi chống lại mọi thứ gây say, chống lại mọi ma tuý. Chúng không ích gì; chúng chỉ giúp cho bạn trì hoãn vấn đề. Tôi muốn thực sự giải quyết các vấn đề của bạn. Tôi đã giải quyết được vấn đề của mình rồi, và các vấn đề là như nhau, dù nhiều hay ít. Tôi có thể đem bạn tới gần tôi hơn để cho bạn có thể cảm thấy trái tim tôi và bạn có thể thấy qua mắt tôi và bạn có thể cảm thấy điều đã xảy ra. Và việc cảm đó, việc nếm trải đó, sẽ trở thành lực kéo lên bạn.

Điều đó không phải là thuyết phục, điều đó không phải là đức tin - điều đó tạo ra tin cậy. Và một khi tin cậy được tạo ra thì cuộc hành trình đã bắt đầu. Tôi biết, Ram này, bạn cần sự giúp đỡ lớn lao. Tôi đã nhìn vào trong mắt bạn - ngay khi bạn ở đây và tôi đã nhìn vào mắt bạn - chúng trông rất buồn. Bạn phải đang mang nỗi khổ lớn bên trong mình.

Ở bên ngoài bạn là con người thành công, luật sư bào chữa giỏi nhất nước này. Ở bên ngoài bạn thành công theo mọi cách - là nghị sĩ, chủ tịch hội luật sư Ấn Độ - nhưng sâu bên dưới tôi đã thấy, chỉ một thoáng nhìn qua thôi, rằng bạn đang ngồi trên núi lửa. Tôi đã thấy nỗi khổ lớn lao trong mắt bạn, những giọt nước mắt lớn đang đợi chảy ra từ mắt bạn. Bạn không phúc lạc theo bất kì cách nào.

Tôi có thể làm cho bạn phúc lạc được - sao phải hỏi về thuyết phục? - tôi có thể cho bạn kinh nghiệm thực. Toàn thể nỗ lực của tôi ở đây không phải là để cho mọi người đức tin mà là kinh nghiệm, không giúp họ một cách hời hợt mà thực sự biến đổi họ. Tôi tuyệt đối sẵn có cho bạn. Và bạn không thể thoát được tôi lâu đâu.

Ram cũng là luật sư của tôi và anh ấy thích thú nói với mọi người rằng "Tôi là luật sư của Thượng đế." Nhưng là luật sư của tôi là ở trong nguy hiểm; chẳng chóng thì chầy bạn sẽ bị sập bẫy. Có thể đó là lí do tại sao tôi đã chọn bạn làm luật sư của tôi, để cho bạn có thể tới gần tôi hơn. Cách thức của tôi là quanh co khúc khuỷu.

Tình yêu lớn với tôi đã nảy sinh trong bạn. Bây giờ, tình yêu đó là bông hoa đầu tiên của mùa xuân; nhiều thứ nữa đang trên đường tới.

Nhưng hãy nhớ, toàn thể cách tiếp cận của tôi là cách tiếp cận của kinh nghiệm tồn tại. Tôi không muốn bạn là người tin, tôi muốn bạn kinh nghiệm theo cách riêng của mình; tôi không muốn thuyết phục bạn. Điều tôi đang nói là kinh nghiệm của tôi: không có cái chết. Tôi không nói với bạn, "Hãy tin rằng không có cái chết." Tôi đơn giản diễn đạt, chia sẻ kinh nghiệm của tôi rằng không có cái chết. Đó là thách thức! Nó không phải là nỗ lực để thuyết phục bạn, nó là thách thức để đi và thám hiểm. Bạn được đón chào. Hãy nghĩ về tôi như nhà bạn vậy!

Trích từ "Dhammapada: Con đường của Phật - tập 5"

Trưởng thành của tình yêu

Chúng ta cho đứa trẻ nhỏ đồ chơi để chơi và thế rồi nó rơi vào tình yêu với đồ chơi này. Không có đồ chơi đó đứa trẻ không thể ngủ được vào ban đêm. Và nếu nó thức dậy giữa đêm và không tìm thấy đồ chơi đó, nó sẽ trở nên bất ổn như người bị xa cách khỏi người yêu của mình. Vậy mà một ngày sẽ sớm tới khi đồ chơi này sẽ bị bỏ lại đó, nằm trong góc nhà nào đó. Nhưng một điều đáng quan tâm là ở chỗ mặc dầu đồ chơi sẽ nằm trong góc nhà, tình yêu mà đứa trẻ đã trải qua đồ chơi đó sẽ tiếp tục. Mối quan hệ yêu đã được hình thành với đồ chơi này, mối tiếp xúc đã xảy ra, việc nhận ra và những kinh nghiệm nó đã có, cánh cửa tới tình yêu đã được mở ra, sẽ vẫn còn với nó. Ngày mai đồ chơi này sẽ bị quên lãng trong góc nào đó, nhưng bất kì khi nào người này yêu bất kì ai, hãy nhớ rằng sự đóng góp của đồ chơi đó cũng sẽ có đó trong tình yêu này.

Tuy nhiên cũng có thể xảy ra là đứa trẻ này sẽ lớn lên về thể xác nhưng sẽ vẫn còn là đứa trẻ về tinh thần. Nó có thể bắt đầu yêu ai đó và thế rồi bắt đầu kêu khóc vì người đó theo cùng cách nó có thời đã kêu khóc vì đồ chơi bị mất. Nó sẽ hoàn toàn quên mất rằng có thời nó đã kêu khóc nhiều vì đồ chơi của mình nhưng nó đã bỏ lại đồ chơi đằng sau, chưa bao giờ nhớ lại điều đó lần nữa. No đã quên tất cả về đồ chơi đó bây giờ.

Nhưng nếu đứa trẻ nào lớn lên ở bên trong, không chỉ về thể chất mà cả về tâm lí nữa, nếu nó chín chắn bên trong, thế thì nó thậm chí sẽ quên tất cả về những đồ chơi người lớn bên ngoài. Nhưng mối tiếp xúc và sự nuôi dưỡng nó đã nhận được từ tất cả những đồ chơi người lớn đó sẽ làm giầu sâu sắc cho thế giới nội tâm của nó. Tình yêu của nó một ngày nào đó sẽ lớn lên thành sự thành tâm. Và vào một ngày nào đó tình yêu của nó trở thành sự thành tâm và vươn tới điều thiêng liêng, nó sẽ quên các người yêu, những đồ chơi của tuổi trưởng thành và tuổi niên thiếu của nó mà đã giúp nó đạt tới trạng thái này. Nhưng dầu vậy, đóng góp của những kinh nghiệm này sẽ có đó trong sự thành tâm của nó.

Ngay cả sự thành tâm cũng không được hoàn thành chừng nào bản thân người thành tâm còn chưa trở thành điều thiêng liêng. Một ngày nào đó, đồ chơi cuối cùng, điều thiêng liêng, cũng sẽ bị bỏ đi. Chỉ thế thì tình yêu, cái còn lại đằng sau tất cả những kinh nghiệm của người đó, sẽ còn lại. Tất cả các đồ chơi sẽ bị bỏ đi, nhưng điều mà đồ chơi đã giúp người đó kinh nghiệm sẽ còn lại. Tất cả mọi hình dạng sẽ biến mất, nhưng tình yêu vô hình sẽ cứ lớn lên dần dần. Tình yêu cứ tích luỹ, và một ngày sẽ tới khi người thành tâm đã trở thành tình yêu thuần khiết; ngay cả người yêu cũng sẽ biến mất. Vào ngày đó, người sùng kính đã trở thành điều thiêng liêng.
Chúng ta cho đứa trẻ nhỏ đồ chơi để chơi và thế rồi nó rơi vào tình yêu với đồ chơi này. Không có đồ chơi đó đứa trẻ không thể ngủ được vào ban đêm. Và nếu nó thức dậy giữa đêm và không tìm thấy đồ chơi đó, nó sẽ trở nên bất ổn như người bị xa cách khỏi người yêu của mình. Vậy mà một ngày sẽ sớm tới khi đồ chơi này sẽ bị bỏ lại đó, nằm trong góc nhà nào đó. Nhưng một điều đáng quan tâm là ở chỗ mặc dầu đồ chơi sẽ nằm trong góc nhà, tình yêu mà đứa trẻ đã trải qua đồ chơi đó sẽ tiếp tục. Mối quan hệ yêu đã được hình thành với đồ chơi này, mối tiếp xúc đã xảy ra, việc nhận ra và những kinh nghiệm nó đã có, cánh cửa tới tình yêu đã được mở ra, sẽ vẫn còn với nó. Ngày mai đồ chơi này sẽ bị quên lãng trong góc nào đó, nhưng bất kì khi nào người này yêu bất kì ai, hãy nhớ rằng sự đóng góp của đồ chơi đó cũng sẽ có đó trong tình yêu này.

Tuy nhiên cũng có thể xảy ra là đứa trẻ này sẽ lớn lên về thể xác nhưng sẽ vẫn còn là đứa trẻ về tinh thần. Nó có thể bắt đầu yêu ai đó và thế rồi bắt đầu kêu khóc vì người đó theo cùng cách nó có thời đã kêu khóc vì đồ chơi bị mất. Nó sẽ hoàn toàn quên mất rằng có thời nó đã kêu khóc nhiều vì đồ chơi của mình nhưng nó đã bỏ lại đồ chơi đằng sau, chưa bao giờ nhớ lại điều đó lần nữa. No đã quên tất cả về đồ chơi đó bây giờ.

Nhưng nếu đứa trẻ nào lớn lên ở bên trong, không chỉ về thể chất mà cả về tâm lí nữa, nếu nó chín chắn bên trong, thế thì nó thậm chí sẽ quên tất cả về những đồ chơi người lớn bên ngoài. Nhưng mối tiếp xúc và sự nuôi dưỡng nó đã nhận được từ tất cả những đồ chơi người lớn đó sẽ làm giầu sâu sắc cho thế giới nội tâm của nó. Tình yêu của nó một ngày nào đó sẽ lớn lên thành sự thành tâm. Và vào một ngày nào đó tình yêu của nó trở thành sự thành tâm và vươn tới điều thiêng liêng, nó sẽ quên các người yêu, những đồ chơi của tuổi trưởng thành và tuổi niên thiếu của nó mà đã giúp nó đạt tới trạng thái này. Nhưng dầu vậy, đóng góp của những kinh nghiệm này sẽ có đó trong sự thành tâm của nó.

Ngay cả sự thành tâm cũng không được hoàn thành chừng nào bản thân người thành tâm còn chưa trở thành điều thiêng liêng. Một ngày nào đó, đồ chơi cuối cùng, điều thiêng liêng, cũng sẽ bị bỏ đi. Chỉ thế thì tình yêu, cái còn lại đằng sau tất cả những kinh nghiệm của người đó, sẽ còn lại. Tất cả các đồ chơi sẽ bị bỏ đi, nhưng điều mà đồ chơi đã giúp người đó kinh nghiệm sẽ còn lại. Tất cả mọi hình dạng sẽ biến mất, nhưng tình yêu vô hình sẽ cứ lớn lên dần dần. Tình yêu cứ tích luỹ, và một ngày sẽ tới khi người thành tâm đã trở thành tình yêu thuần khiết; ngay cả người yêu cũng sẽ biến mất. Vào ngày đó, người sùng kính đã trở thành điều thiêng liêng.

HÃY TÌM LẠI CHÍNH MÌNH BẰNG SỰ THỨC TÌNH MỤC ĐÍCH SỐNG

Nhân loại đã thực sự sẵn sàng cho một quá trình chuyển biến nhận thức , một quá trình nở hoa sâu sắc và triệt để của tâm thức đến độ , so với quá trình này thì việc cây cỏ nở hoa 114 triệu năm trước đây , dù cho đẹp đến mấy thì đấy cũng chỉ là sự phản ánh nhạt nhòa ? Liệu con người có thể từ bỏ tầng tầng lớp lớp những cách nghĩ bị bó buộc cũ và trở nên giống như những tinh thể pha lê trong suốt để ánh sang nhận thức xuyên qua dễ dàng ?

Liệu con người có thể thoát ra khỏi trường hấp dẫn của chủ nghĩa vật chất , thoát ra khỏi tình trạng tự đồng nhất mình với hình tướng ?

Khả năng chuyển hóa này cũng là thông điệp chính của những giáo lý sâu sắc để khai thị cho con người .Những người phát đi thông điệp này – như Đức Phật , chúa Jesus và nhiều người khác – là những bông hoa đầu tiên của nhân loại . Họ là những vị Thầy tiên phong , rất hiếm hoi và quý giá vô cùng . Tuy vậy , một sự chuyển hóa rộng khắp chưa thể xảy ra vào thời điểm đó được , nên thông điệp của họ bị bóp méo đi rất nhiều . Ngoại trừ ở một số ít người , tâm thức của con người thời ấy nói chung chưa được chuyển hóa nhiều

Bây giờ thì nhân loại đã sẵn sàng để chuyển hóa chưa ? tại sao lúc này mới thật là thời cơ ? Ban có thể làm gì để thúc đẩy quá trình chuyển hóa nội tại này ? Đặc điểm của nhận thức cũ đầy tính bản ngã là gì và đâu là dấu hiệu của một tâm thức mới đang trổi dậy ?

Những câu hỏi này và một số câu hỏi khác sẽ được đề cập trong cuốn sách này . Quan trọng hơn , quyển sách cũng chính là một công cụ có tính chuyển hóa , xuất phát từ một nhận thức mới đầy tính nổi dậy . Những ý tưởng và khái niệm ở đây tuy quan trọng , nhưng đó cũng là thứ yếu . Chính những tấm bảng chỉ đường giúp bảng chỉ đường giúp bạn đi đến trạng thái thức tỉnh . Trong lúc đọc quyển sách này , một sự chuyển hóa sẽ xảy ra trong bạn

Mục đích chính của quyển sách không phải là để cung cấp thêm thông tin hay những niềm tin mù quáng cho trí năng của bạn , hay cố thuyết phục bạn về một điều gì đó , mà nó mang đến cho bạn một sự chuyển hóa trong nhận thức , tức là thức tỉnh bạn ra khỏi những dòng suy nghĩ miên man ở trong đầu

Nếu được như vậy thì bạn sẽ không chỉ thấy cuốn sách này là “thú vị” . Vì “thú vị” có nghĩa là bạn còn đứng ở bên ngoài , tìm vui với những ý nghĩ , và khái niệm ở trong đầu bạn để tu duy rằng mình đồng ý hay không đồng ý với cuốn sách .

Vì cuốn sách này được viết cho bạn , do đó cuốn sách hoặc rất vô nghĩa đối với bạn , hoặc nó làm cho nhận thức của bạn có sự thay đổi lớn . Tuy nhiên cuốn sách này chỉ có thể thức tỉnh những người đã sẵn sang để tỉnh thức

Tuy nhiên khi có một người vừa tỉnh thức thì biến cố này sẽ tạo nên một quán tính trong tâm thức của tập thể , giúp cho sự tỉnh thức xảy ra dễ dàng hơn ở những người khác . Nếu trong lúc này bạn chưa rõ tỉnh thức nghĩa là gì , thì bạn cũng không cần bận tâm nhiều vể nghĩa của từ ấy , hãy cứ tiếp tục đọc và trong bạn có sự tỉnh thức , thì bạn sẽ hiểu “ tỉnh thức “ có nghĩa là gì

Quá trình tỉnh thức một khi đã bắt đầu ở trong bạn rồi thì không thể đảo ngược lại ; và để cho quá trình này được bắt đầu ,bạn chỉ cần trải qua trạng thái thức tỉnh – dù chỉ tong môt thoáng chốc

Đối với một số người thì một thoáng chốc của trạng thái thức tỉnh đó sẽ xảy đến khi họ đọc cuốn sách này . Còn đối với những người khác thì cuốn sách sẽ giúp họ nhận ra rằng quá trình tỉnh thức đã xảy ra ở trong họ rồi , nhưng bây giờ họ mới nhận ra .

Ở một số người thì quá trình tỉnh thức chỉ xảy ra khi họ gặp phải những mất mát hay khổ đau lớn

Trong khi ở những người khác , là khi họ tiếp xúc với những bậc Thầy hay những giáo lý về tâm linh , hay do đọc cuốn “ Sức mạnh của Hiện tại “ hay những cuốn sách có giá trị tâm linh sống động khác . Hoặc có thể là sự tổng hợp của tất cả những điều ấy . Tuy nhiên , một khi sự thức tỉnh đã bắt đầu ở trong bạn thì cuốn sách này sẽ giúp cho bạn đẩy nhanh và gia tăng cường độ tỉnh thức

Điều căn bản nhất của quá trình thức tỉnh là :

Nhận ra sự mê mờ đang tồn tại trong bạn

Nhận diện bản ngã của bạn khi nó đang nói , đang nghĩ , đang làm một việc nào đó

Nhận ra thói quen suy nghĩ đầy tính băng hoại trong tâm thức của tập thể đang thẩm thấu vào mọi khía cạnh của đời sống , kéo dài thêm tình trạng chưa thức tỉnh

Đó là lý do tôi viết quyển sách này : để nêu lên những khía cạnh chính của bản ngã và cách bản ngã hoạt động trong bạn cũng như trong tâm thức tập thể . Điều này có ý nghĩa quan trọng , vì hai lý do chính .

Trước hết , nếu bạn không nhận ra được những cơ cấu hoạt động của bản ngã , bạn sẽ không nhận diện được nó , và sẽ nhầm lẫn mà liên tục tự đồng hóa mình với bản ngã , tức là vô tình bạn để cho bản ngã chứ ngự lấy bạn , mạo danh là bạn

Thứ hai , tự than việc nhận diện bản ngã ở trong bạn chính là một trong những phương cách giúp cho sự tỉnh thức ở trong bạn được diễn ra . Khi bạn nhận ra sự mê lầm của mình , thì cái làm cho sự nhận biết ấy có thể diễn ra chính là thứ nhận thức mới đang trỗi dậy , đó cũng chính là tỉnh thức .

như ta không thể đấu tranh lại bong tối , hay chống đối lại sự mê mờ . Điều mà ta cần làm là mang ánh sáng của nhận thức vào những nơi tối tăm này

Và bạn chính là Ánh sang đó

Bài đăng phổ biến

Lưu trữ Blog